DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
MAI BÁ ẤN VÀ... 10 KHÚC TRI ÂM

                                                       mai bá ấn

Trong quá trình làm biên tập ở Tạp chí Sông Trà (Hội VHNT Quảng Ngãi), cùng nhà thơ Thanh Thảo làm admin cho trang Web Bichkhe.org và biên tập mục Văn hóa nghệ thuật của Tạp chí, website Trường Đại học Tài chính - Kế toán nơi tôi đang giảng dạy, tôi được nhận và đọc nhiều thơ của cộng tác viên gửi về. Hễ cứ gặp thơ hay là cảm xúc bùng lên (dù đang biên tập). Vậy là tôi tri âm vài dòng về những bài thơ ấy cho dù tác giả là nhà thơ chuyên nghiệp hoặc không chuyên. Cứ miễn thơ hay là tôi viết…

 

1. Trần Thị Cổ Tích - Trăng mật trên sông Hương

Ai cũng nói Hương giang trầm lắng, êm chảy vì ít thác ghềnh. Nhưng tôi thấy êm lắng chỉ là bề mặt nước sông. Còn dưới đáy sông kia, Hương giang cuộn xoáy. Mà ở đời khi sự “náo động lòng”, “ẩn uất lòng” (cứ cho là của sông đi!) không thể thể hiện được ra bên ngoài (bề mặt) mà ráng ủ bên trong, dưới tận lòng sâu thì dữ dội vô cùng. Có phải vì thế mà sáng sớm mặt Hương giang thường phủ đầy sương khiến Tràng Tiền chỉ còn thấp thoáng như một nét mày u ẩn (cái hơi nước ẩn uất lén bốc lên trong đêm để khỏi ai nhìn thấy sau một ngày chịu đựng nhục nhằn - Huế mà)? Nhìn sương phủ cầu Tràng Tiền, nhà thơ cho đó là màu sương lãng mạn:

Mờ sương duyên dáng Tràng Tiền

         Nét mi cong gương mặt hiền Cố đô  

                                                                                     (Thơ Mai Bá Ấn).

Nhưng biết chừng đâu, đó là cái hơi ngùn ngụt bốc lên từ một nỗi nén chịu đến đớn đau! Tôi nghĩ thơ sẽ giải mã những tín niệm hoài nghi ấy, vì thơ thường nói thật, không giấu diếm. Thật mới hay, mới chính là mình.

Đọc thơ Trần Thị Cổ Tích không hiểu vì sao tôi cứ miên man nghĩ về con “sông thơm” ấy. Tôi hoài nghi. Tôi đã hỏi. Và tôi đã được trả lời: “Trần Thị Cổ Tích tên thật là Trần Thị Trầm, quê quán: Huế. Sinh trưởng: Quảng Ngãi”... Phải chăng do sự tác động của khí chất Quảng mà thơ chị tự nhiên hơn khi thổ lộ những kiềm nén mà người Huế thường ít nói vì sự tế nhị, âm thầm của xứ mưa rơi?...Và tôi đã mượn thơ Trần Thị Cổ Tích để giải mã những ‘ẩn uất’ mà tôi đã mạo muội nói trên (Người Huế có ai giận tôi thì cũng mong thứ tha cho cái thằng dân “Quảng Nôm” hay ưa nói thẳng).

Trong chùm thơ sáu bài tôi nhận được chỉ duy có một bài cuối cùng là còn âm hưởng của cái tên “Trầm” của Trần Thị Cổ Tích. “Trầm” thì rất Huế rồi, nhưng Cổ Tích thì rõ ràng là xưa hơn Huế nữa. Chỉ có những người thơ dám trải thật lòng mình ra trang giấy sau khi cảm nhận “chín rục” nỗi đời thì mới đạt những câu thơ “Ngộ” mà theo tôi là một bài “Chánh Ngộ”:

Thôi

Không còn chỗ đi về

Ngồi đây với cỏ

Bên lề nhân gian

Long lanh giọt giọt chuông vàng

Gội cho sạch

Hết gian nan cuộc người (Ngộ).

Bài Lục bát chỉ vẻn vẹn có  2 cặp 4 câu được chủ định cắt thành 7 dòng thơ mà gom cả hết cái “cuộc người” giữa một cuộc rộng lớn nhân gian “không chỗ đi về”. Nhưng thơ đã về được để “ngồi với cỏ” để nghe (không phải nghe âm thanh mà cảm nhận) “giọt giọt chuông vàng” thì ngộ đến là đốn ngộ.

Còn lại là những vần thơ “thoát hơi sương” của những kiềm nén dưới lòng sâu bùng lên như một sự giải tỏa/giải thoát với những “Trăng mật xuân”, “Lảo đảo Túy vân” cuộn sóng, ngả nghiêng bởi sự bùng dậy mãnh liệt của những hỏi đòi đầy tính nhân văn thoát ra khỏi cái bề mặt lừa người bằng sự êm đềm, suông chảy:

Này xống áo này dép giày này mũ nón

Hãy tung vào một xó.

Vứt hết, tung hê để lao vào một “trăng mật” ngất ngây cùng sự hòa điệu của “ham hố xuân, khát vọng xuân”: Đêm huyền diệu đêm chơi vơi đêm ngạt ngào hương

xuân ngây ngất

Ta ngã vào xuân quyện vào xuân bay lên bay lên

đỉnh trời bát ngát

Nước bềnh bồng mây bềnh bồng gió mơn man lời

hoa dìu dặt… (Trăng mật xuân)

Những câu thơ trải dài, trút bỏ “xống áo” buộc ràng, mở lòng ra, bay bổng lên trong ngây ngất “chơi vơi”, “bay lên đỉnh trời”, “bồng bềnh mây gió”, “mơn man dìu dặt”... Bao năm kiềm nén dưới đáy sâu lòng mình, nên chỉ cần 5 phút chia tay khi con tàu sắp chuyển mình, ở “toa số 9”, họ “vẫn  kịp” làm tất cả cho sự trọn vẹn của những hỏi đòi ở một cuộc chia tay. Thỏa thuê mà không đánh mất; vẫn giữ trong nhau, “vẫy vùng trong mắt nhau” khi bóng người dần khuất:

Vẫn còn kịp cài nụ hôn lên tóc

Và kịp thấy

Trong đáy mắt nhau

Những giọt lệ vẫy vùng (Kịp).

Nước vẫy vùng dưới đáy sông sâu chính là “Những giọt lệ vẫy vùng trong đáy mắt” nhau. Với Trần Thị Cổ Tích, hồn tưởng đã chết theo tháng năm kiềm nén để con tim lạnh trắng, thì chính thơ đã đến vỗ về, cứu rỗi để bật lên những dòng thơ vừa lắng đọng thâm trầm vừa cháy bỏng khát khao:

Thất thểu lề đời

Tôi đi

Hoàng hôn thăm thẳm

Tìm lời ru

Vỗ về

Con tim trắng... (Một bóng)

Và… đến với thơ, Cổ Tích đã được vỗ về.

 

2. Hương Trà

    Chàng Thạc sĩ Toán mang tâm hồn thi sĩ

Đó là Trần Anh Dũng - Giảng viên Toán, Trường Đại học Quảng Nam quê tôi. Cái anh chàng Quảng Nam hiền lành này té ra cũng khá đa mang và nhiều trăn trở. Nhưng nhìn chung, thơ Hương Trà hiền hậu và hồn nhiên giống như chính con người anh vậy. Không triết lý cao siêu hay dài dòng lý sự, cũng không làm dáng ngôn từ để được gọi là “hiện đại”, thơ Hương Trà tuôn ra từ chính lòng mình một cách tự nhiên:

Tôi để tim mình rung lên ngân nga

Nghe tiếng chuông gióng đều xa vắng

Đức Mẹ mỉm cười hiền từ trong nắng

Tôi tin rằng nàng mãi mãi yêu tôi

Tin như thế, nhưng rồi nàng đã theo chồng. Không biết trong đời thực Hương Trà có hờn  giận, trách móc gì nàng chăng, nhưng đọc những câu thơ này ta thấy chàng trai chỉ lắng lại ở lòng một nỗi buồn trong veo đầy độ lượng:

Bây giờ nàng đã có chồng rồi

Mùa Noel tôi nhớ về Trà Kiệu

Nhớ tiếng chuông năm xưa Nhà thờ Núi

Nghe trong hồn lá úa nối nhau rơi (Trà Kiệu).

Trong dòng chảy hồn nhiên, thật thà ấy, ta còn thấy có một Hương Trà hoài cổ trong một trạng thái phiêu bồng của một con người đã đi qua những “trận bão lòng” với cuộc đời buồn vui và vừa tìm được lối thoát như là một ẩn dật nhân sinh với những dòng Lục bát vừa man mác hương xưa:

Ta đi vào cõi xưa xanh

Đọc thư tịch cổ biết mình hư vô

Thế nhân xa bến xa bờ

Trăm năm xếp một cuộc cờ chưa xong (Hồng hoang).

lại vừa mang hơi thở của Lục bát hiện đại với cách ngắt vần đoản giữa hai từ ghép “mông lung”:

Ta đi vào trận bão lòng

Phất phơ một dãi lụa mông lung buồn (Hồng hoang).

Nhưng có lẽ, chính cái giản dị hồn nhiên của những câu thơ này mới đúng giọng của Hương Trà. Thiệt thà đến dễ thương, và cao lên trên vẫn là một bao dung của con người thấu hiểu:

Vó ngựa nào dừng lại giữa đồi thơm

Quả thông rụng lặng im - chiều Đà Lạt

Dẫu biết thuyền xưa sang bến khác

Mà sao anh cứ mãi đi tìm?(Chiều Đà Lạt).

Đường đến với thơ là con đường khó. “Lập thân tối hạ thị văn chương” mà! Nhưng dẫu thừa biết là khó, nhưng Hương Trà vẫn mãi đi tìm. Và anh đã tìm được những câu thơ hay mang đến cùng người đọc.

  

3. Chi Lan - Tươi mới một nỗi sầu cay

Thú thật, lâu nay làm biên tập thơ, thơ nhận thì nhiều, nhưng thơ hay lại hiếm. Có người thì thơ gửi ý theo những hình thức cũ, thi pháp cũ; lại có người cố nống thơ lên để gọi là cách tân hiện đại, nhưng đọc hoài chỉ có câu chữ rối rắm mà chẳng thấy ý tình. Tôi nhận được hai bài thơ Lục bát khiêm tốn của Chi Lan - Cô Thợ may ở vùng quê Quan họ. Lục bát truyền thống mà đắm tình, mà đầy trăn trở với những hình ảnh thơ, câu từ thơ tươi mới. Thấy thích, tôi bèn yêu cầu Chi Lan gửi thêm cho ba bài nữa để: trước là thăm dò “năng lượng thơ”, sau là để đủ cảm thông viết vài dòng gọi là giới thiệu. Cũng lại bất ngờ vì hình như 3 bài sau lại hay hơn 2 bài trước, trong đó có một bài Ngũ ngôn. Vậy là 4 bài Lục bát, 1 bài Ngũ ngôn. Hình thức thơ đậm tính truyền thống nhưng hồn thơ thì thật tươi mới cho dù, đó là sự tươi mới của nỗi đau đời, đau tình, đau thân phận:

Em về nhuộm tóc màu mây

Gió tung áo mớ gói đầy nhớ nhung

Làn môi sót nếp thẹn thùng

Day màu chỉ, ngắm sương chùng bến xa (Trở về).

Đó còn là cái tươi mới của cả nỗi sầu cay. Nỗi sầu thì thiên thu vạn cổ vẫn muôn đời, muôn thuở đó thôi, vậy mà nỗi sầu trong thơ Chi Lan khiến người đọc Công nghiệp hóa thế kỷ 21 vẫn cứ ngỡ ngàng:

Câu thơ nào biết bạc đầu

Mà thành già cỗi miết sầu vào tim (Cải ngồng).

Cái cây “Cải ngồng” vô duyên, vô phận, vô ích có mặt trên khắp những mảnh vườn Việt Nam chứ có xa lạ gì đâu, vậy mà Chi Lan vận vào người, vận vào duyên, “bó” thành thơ (không phải bó cải vì cải ngồng thì vứt đi chứ bó để làm gì nữa đâu!), đọc lên nghe đau nhói vì Chi Lan gói cái tình duyên muộn màng, lỡ lứa, qua thì ra chợ cho dù tiên lượng có mang đi cũng chẳng ai mua:

Cải ngồng, em gói hết rồi

Có mang ra chợ chẳng người nào mua! (Cải ngồng).

Hình ảnh con sông Cầu lại chảy theo thể thơ Lục bát, đọc lên cứ thấy hồn vía quê hương, dân tộc phảng phất, vương vương một chút ca dao, vấn vít nhịp câu Quan họ… Bốn câu Lục bát sau đây có hai chữ “đèo” vậy mà sự trùng thanh (âm) theo kiểu âm nhạc này lại mang đến một thú vị rất riêng vì nghĩa của hai “đèo” hoàn toàn cách biệt (một danh từ và một tính động từ) khiến câu thơ duyên dáng hẳn lên và âm vang chiều sâu cũng rất lắng:

Câu quan họ nhuốm lời yêu

Biết đâu cạn biển nghiêng đèo mà mong

Đành thôi em dối với lòng

Cho Người khỏi vướng đèo bòng đa mang (Gửi chị).

Tôi muốn nói: Lục bát Chi Lan nhuyễn về cấu tứ, vần điệu, không bị gượng ép. Nhịp Lục bát vẫn theo truyền thống, nhiều câu đệm có vẻ hơi một chút sáo mòn (dù chẳng giống ai), nhưng trong mỗi bài đều có những câu, đoạn hay, thấm thía, níu được xúc cảm của người đọc. Với Lục bát, như vậy là đã quá thành công (Vì Lục bát mà chỉ có những câu đệm suông sẻ về vần thì có lẽ, ai cũng làm thơ được). Lục bát Chi Lan sáng lên những câu thơ tuyệt đẹp, ví như hai câu sau của 4 câu Lục bát này:

Thôi người giữ lại mùa xuân

Bên hàng hiên cũ còn vương ánh đào

Em về gội tóc cầu ao

Ngắm hoa cúc nở vàng thao thức chiều (Thao thức chiều thu). 

Gieo vần Lục bát mà gieo vào giữa của một từ láy hai “thao thức” là cái dáng của Lục bát hiện đại vậy.

Bài Ngũ ngôn lại đạt được cái huyền diệu của một thể thơ kiệm chữ trong từng câu. Thơ Ngũ ngôn, một ý thường bị cắt thành nhiều dòng (vì mỗi dòng chỉ có 5 chữ) nên đọc lên dễ bị ngắt ngứ, vậy mà bài Ngũ ngôn của Chi Lan nhẹ nhàng và bước thơ uyển chuyển cuốn người đọc bằng những tứ thơ hay và vốn từ mới:

Có dòng sông cô đơn

Chảy hoài trong tâm tưởng

Muốn tìm ra biển lớn

Mà quanh co bóng chiều (Đọc thơ anh).

Dòng sông cô đơn chảy trong quanh co ấy cho dù tứ không mới, nhưng đọc vẫn thấy lạ và thích vì cái “hợp lý” giữa ý và tình.

Anh về nơi xa xôi

Mịt mù sau mây khói

Cỗ xe đời không mỏi

Kéo nỗi buồn trăm năm (Đọc thơ anh).

Hai câu cuối của khổ thơ này là những câu Ngũ ngôn đáng được đọc.

Tóm lại, thơ Chi Lan buồn, nhiều tâm trạng của một người có lẽ đã đi qua nhiều bất hạnh cuộc đời. Nhưng thơ Chi Lan cũng không bi quan mà luôn “tươi” và “sáng” chảy một dáng riêng giữa dòng đời “vui ít hơn buồn”:

Trăng hoài hát khúc cô liêu

Gửi vào sương khói lời yêu tím bầm

Chia tay tưởng đã mấy lần

May rằng trước ngõ mùa xuân hãy còn!(Trở về).

            Dù thơ còn ít, nhưng tôi tin, những vần thơ trên vẫn “hãy còn” giữa lòng người đọc.

 

            4. Hồn thơ đẹp của một cựu sinh viên kế toán
            Vô tình khi lên mạng, tôi bắt gặp một trang Blog mang tên “Lucbinhtim” với những bài thơ rất dễ thương và được nhiều bạn thơ Blog khác ái mộ, trao đổi. Trong quá trình trao đổi đó, Lucbinhtim có hỏi thăm về một người thầy cũ của mình ở Trường Tài chính - Kế toán. Và… vậy là, tôi đã lần tìm ra em, động viên em gửi một chùm thơ để in trong Nội san 20/11 của trường. Lucbinhtim chính là Nguyễn Thị Kim Tuyền, nguyên là sinh viên Lớp C007B1.4 (Khóa Cao đẳng 2004-2007). Tuyền hiện đang công tác tại Công ty cổ phần xây dựng điện VNECO 10.

Đọc thơ Tuyền, tôi ngạc nhiên về những rung cảm của em trước muôn mặt cuộc đời, trước những tình cảm chân thành, trong đó có tình thầy trò và kể cả tình yêu…
            Viết về trường xưa trong một buổi tìm về thăm lại, Nguyễn Thị Kim Tuyền có những câu thơ gợi dậy đầy kỷ niệm: 
             Bước đường đời qua bao nẻo ngược xuôi

             Hàng phượng xưa đã bao mùa thay lá

             Thoáng trong ta nghe có gì rất lạ

            Phút bồi hồi trường cũ đã khang trang (Trường xưa)
            Cảm ơn nghĩa của thầy cô giáo cũ, xuất phát từ câu ca dao:

Muốn sang thì bắc cầu kiều

Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy

và xuất phát từ câu ví von “Thầy giáo như người đưa đò” phổ biến trong dân gian, Tuyền đã liên tưởng đến bụi phấn trên tay thầy, đến sự mải mê quên cả tuổi tác của người thầy… để cảm nhận ra được cái mênh mông, vô lượng, vô biên của tình cảm trong sáng và tấm lòng bao la, nhân hậu của người thầy:

            Bụi vương phấn trắng một đời

            Cầu kiều mấy lượt đưa người sang sông

            Hết Xuân rồi Hạ - Thu - Đông

Bốn mùa vẫn thế mênh mông tình thầy (Ơn thầy)

Rồi cũng xuất phát từ câu thành ngữ “Người ta là hoa của đất”, Tuyền liên tưởng: Thầy giáo với sự nghiệp “Trồng người” - trồng “Hoa đất”, với nét “thanh cao rạng ngời” như muôn ngàn “sao lấp lánh trên bầu trời” để từ đó ghi nhận công ơn thầy trên suốt chặng đường đời mình đã đi và sẽ đi qua:

Bầu trời lấp lánh ngàn sao

Nghề trồng “hoa đất” thanh cao rạng ngời

Dâng lên những đóa hoa tươi

Ơn thầy con mãi trọn đời không quên (Ơn thầy).

Hai bài thơ “Trường xưa” và “Ơn thầy” là do tôi “đặt hàng” em viết cho số Nội san 20/11 này. Em “đã viết theo đơn đặt hàng” của tôi trong vòng 5 ngày (5 ngày để có được 2 bài thơ hay về trường, về thầy đã minh chứng, Tuyền là người có một hồn thơ đẹp và nhạy cảm).

Bây giờ… tôi xin nói thêm về thơ em ngoài “đơn đặt hàng”.
            Lắng hồn thơ trong những trận mưa trời, những cơn mưa đời, Tuyền có những câu thơ tình yêu thấm buồn vào hồn ta như cái lạnh tê tái của một mùa Đông mưa gió:

Mưa có làm xua tan đi nỗi nhớ

Hay cuốn về những ảo ảnh mờ xa

Chuyện tình buồn nên tình đã phôi pha

Bay đi mãi cánh chim trời phiêu bạt (Mưa)

Nhưng dù có mưa buồn, mưa sầu hay rét mướt mùa Đông thì tình yêu trong thơ Tuyền cũng không dẫn người đọc vào những bi quan tình trường thường thấy, mà trong lòng cô sinh viên kế toán xưa, trong lòng cô cán bộ kế toán nay, vẫn “nồng nàn yêu thương”, vẫn thiết tha gắn bó với cuộc đời trong niềm “sẻ chia” của muôn người cho dù ai cũng biết, trần gian là quán trọ theo quan niệm “Sinh ký tử quy” - “Sống gửi thác về”:

Hãy yêu đời lên nhé

Kiếp ở trọ trần gian

Vui buồn cùng chia sẻ     

Cho yêu thương nồng nàn

(Còn đó yêu thương)

Chúc em mãi mãi giữ hồn thơ và mãi mãi là một cán bộ kế toán giỏi giang, góp phần khẳng định thương hiệu đào tạo của nhà trường.

 

5. Ngã Du Tử

    Những vần thơ sắc sắc không không

Bút danh Ngã Du Tử (Họ tên thật: Phạm Ngọc Dũ ) cũng đã khá quen với người yêu thơ vì anh in rất nhiều thơ ở nhiều tuyển tập. Cái bút danh đã cho ta thấy một chàng lãng du nhiều mơ mộng. Quê Nghĩa Hành, Quảng Ngãi mà rồi lưu lạc muôn phương. Trải nghiệm đời, trải nghiệm tình để rồi nhớ quê hương quay quắt. Chàng lang thang theo “mây trắng nghìn trùng”, chàng đi và về “vô tư” như “sắc sắc không không”, như “vô ngã” giữa cuộc “vô thường”, “vô minh” mà không lạc lối:

Đi từ lòng mẹ tinh khôi

Về cho trọn chữ con người thế gian (Luận)

Ta nhận ra chàng là một kẻ trải đời. Chính vì trải đời, nếm lưỡi xuống đời, thấy đời vị đắng, nếm môi xuống đời, thấy đời ngọt lịm, cho nên chàng đã “ngộ” được lẽ đời, lẽ sống, lẽ tình yêu để đủ sức đề kháng và thản nhiên đắm mình trong quy luật: “giữa trần gian chuyện đắng cay thường tình”:

            Ngại ngùng chi chuyện thị phi

            Đường ngay ngõ thẳng một đi hai về

 Bước chân giẫm mấy sơn khê

            Sá gì nếm mật… bốn bề nước mây

            Trót đem thanh thế ra bày

            Giữa trần gian chuyện đắng cay thường tình

                                                    (Mây trắng nghìn trùng)

            Tình đầu tan vỡ, lắm kẻ thù tình, thù đời rồi bêu riếu, rồi thở than… chàng Du Tử khắc nỗi đau trong lòng thành một kỷ niệm ái ân thuở ban đầu trong sáng. Cái đáng quý ở đây chính là: chàng chỉ tự trách mình. Ai thấy “đáng kiếp” với kẻ phụ tình, Du Tử lại bênh vực cho người tình một cách hồn nhiên và cảm thông cả sự “lênh đênh” phận số:

            Nhưng thuở ấy thanh xuân nông nổi quá

Tình xanh em nuôi nấng cũng bẽ bàng

Tưởng bỏ lái em về sang bến khác

Ngày tháng trôi …em cũng lắm lênh đênh

                                                (Một thuở tình đầu)

            Và vì thế chàng gửi hồn vào thơ, mặc nhân thế lắm lời, nhân sinh lắm lẽ. Khép phòng văn lại, ủ lòng mình lại, chàng đã đạt đến sự an nhiên, tự “xếp”, tự “xây” cuộc đời mình trong chính “nát bàn thơ” của con tim yêu đời, đau đời và… vui sống:

Góc đời đọc sách xem tranh

Xếp ngôn ngữ lại xây thành quách thơ

                                                (Mây trắng nghìn trùng)

           

6. Tiếng Lòng Lê Như Mỹ

Thơ là “tiếng lòng” của những xúc cảm chân thành, điều đó ai cũng biết. Tôi đã lắng nghe “tiếng lòng Lê Như Mỹ” qua những dòng thơ chân thành và thô mộc của một người làm thơ không chuyên. Nhưng rồi… ngày qua ngày, Lê Như Mỹ đã sớm vượt qua những câu thơ vụng dại ban đầu để có được những vần thơ thể hiện đúng “tiếng lòng” mình. Nhận thấy sự tiến bộ khá nhanh của cây bút nữ này, xin được một lần nữa giới thiệu những bài thơ mới của Lê Như Mỹ.

            Khoảng giữa năm 2009, Bichkhe.org có nhận được những bài thơ đầu tay của một cây bút mới từ Vỹ Dạ thôn (Huế) gửi vào với những dòng trao đổi rụt rè rằng: Rất thích thơ Bích Khê và xin được nhờ Bichke.org hướng dẫn, góp ý, trao đổi để tác giả làm thơ được hoàn chỉnh hơn về hình thức. Nhận thấy những bài thơ ban đầu của tác giả Lê Như Mỹ tuy còn nhiều vụng về về hình thức nhưng lại có chất thơ vì chính là tiếng nói phát ra từ “tiếng lòng” của một cô gái Huế, Bichkhe.org đã giới thiệu một chùm thơ của Lê Như Mỹ vào dịp trước Tết Canh Dần (2010). Được sự tiếp lửa của Bichkhe.org, tác giả đã mạnh dạn bày tỏ sở nguyện của mình và xin được nhận làm một “học trò nhỏ” của Bichkhe.org. Nhưng mà thơ thì có ai là “học trò to” chứ huống chi là “học trò nhỏ” của ai ? Nhưng công bình mà nói thì… sau những trao đổi rất chân thành giữa Bichkhe.org với tác giả, chúng tôi thật sự nhận thấy những bài thơ của Lê Như Mỹ gửi về sau đó đã tránh được những vụng về câu chữ ban đầu. Tốc độ làm thơ của cây bút này cũng khá “kỷ lục”, đến nay Bichke.org đã nhận được trên 20 bài thơ của tác giả. Chúng tôi đã tìm thấy ở đây những câu lục bát khá nhuần nhuyễn:

Ta về khơi lại tâm linh
Tìm hương mật ngọt thân chinh qua rồi
Ngồi nghe gió thoảng xa xôi
Như hình bóng ấy dạt trôi tìm về
Chân đi lòng thấy não nề
Người thương bỏ lại lời thề dở dang (Ta về).

Lại đọc được những khổ thơ chân thành mà âm vang như chính “tiếng lòng” của Lê Như Mỹ:

Em cứ nghĩ… được anh yêu là đủ
Nào ngờ… đâu hiểu hết lòng anh
Tình em cho đi… nhiệt cuồng như thác lũ
Tình anh trao về… như sương khói mong manh

                                                        (Phút yếu lòng).

Cùng những vần ngũ ngôn đượm nỗi buồn của dòng Hương uốn mình bên thôn Vỹ: 

Thời gian trôi… trôi mãi
Biết tìm đâu nguồn vui
Đời qua trong thoáng chốc
Ngày tháng buồn vu vơ (Lãng du).

            Đời qua… ngày tháng qua… tiếng lòng với nỗi buồn vu vơ còn đọng…

 

7. Đình Khôi - Kẻ tự gánh bóng mình

                         suốt cuộc lãng du nối rừng và biển                                       

Đọc tập bản thảo thơ “Rừng thương biển nhớ” của Đình Khôi, tôi nhận thấy: Đích thực chàng là một du tử, một đệ tử xê dịch trung thành của cụ Nguyễn Tuân. Đến bây giờ, dù đã sóm sém lục tuần, dù đã “quy cố hương” về với biển, chàng vẫn không chịu ngồi cho sóng hát ru yên. Ngồi bên biển, tai nghe sóng vỗ mà trái tim (tưởng đã sóng lặng gió dừng) vẫn cứ trào lên muôn đợt sóng ngầm, bọt trắng bay tung về phía núi.

Ở biển, chàng nhớ rừng. Về rừng, chàng khát biển. Về với biển, chàng lại bị rừng mê bắt mất phần hồn. Biết bỏ ai đây hỡi hai người tình “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”? Thì đành vậy, chia hai phần “rừng thương biển nhớ”, để “ta về mang cả rừng theo”. Tưởng như đã mỏi gối phiêu du, “hạ cánh an toàn”, ai có ngờ, ngồi nghe “sóng hát rì rào” giữa một “biển đầy trăng” lại “thèm chút gió lang thang”. Chàng ta hình như ít quen chung thủy (chắc là trừ chuyện vợ con), cho nên cái ước nguyện tưởng đã cuối đời, về với biển, mà biển vẫn không giữ nổi chân chàng “xin làm hạt cát còn mang dáng người”. Cái “hạt cát”, “cái dáng người” ở đây sao vẫn thoảng bóng dáng của những nàng sơn nữ. Qua lớp bụi mờ ảo của ngôn từ câu thơ này, tôi thấy chàng đang dắt tay một người con gái tít tận buôn làng xa đi dạo biển. Hay ít ra là chàng cũng đang ước thế, “thèm” thế, dù cố tình ẩn mình trong “chút gió lang thang”.

Thôi thì cứ cho là chàng bị rừng bỏ bùa mê thuốc lú đi; và cứ xem như hết phương cứu chữa, vì đã về già mà chưa tìm được thầy giải hết bùa mê (bùa ngãi vùng cao, thầy ở biển khó lòng giải nổi!); ta cứ thử theo gót lãng du của chàng về núi xem sao! Đây rồi, chàng đang “ngồi buộc gió cho rừng lim dim”. Một tư thế vừa mạnh mẽ, nghiêm túc vừa rất dễ thương. Nhưng đã là gió làm sao buộc được ! Đúng như chàng nói “ước mơ chưa có điểm dừng” và vì vậy, “vôi nhạt cau mềm uổng công” “con đường nhan sắc đèo bòng”. Và chàng lại quyết định:

 Ai giờ lên tỉnh bỏ quê

 Ta đang bỏ tỉnh để về cùng em.

Nàng biển nghe được câu này quả là êm tai như mật rót. Vậy mà rồi, oan nghiệt cho nàng vì bùa mê chưa ai giải, chàng lại thấy:

Biển chiều tím ngắt hoàng hôn

 Cát vàng man mác cho lòng ngẩn ngơ

 Bơ vơ bơ vơ bơ vơ

 Lăn tăn con sóng dại khờ nỗi đau.

Bạc tình vậy, cớ sao chàng vẫn được cả “biển rừng thương nhớ”! Chính là nhờ cái nghiệp căn hai chữ lãng du:

 Chén tương phùng chưa cạn

 Chén phân ly lại đầy.

Đọc kỹ thơ Đình Khôi, ta bắt gặp rất nhiều lần cái nghiệp lãng du này. Lúc thì “lênh đênh”, “chưa có điểm dừng”, “chân cứng đá mềm”, “hành khất lang thang”, “lạc đường riêng ta”... lúc lại là “đường dài gió bụi”, “lên non tìm nguồn”, “đường dài anh đi”, “ngồi bên góc phố”, “là ta lữ thứ”, “chân mây đầu sóng”, “cứ đi và đến”, “lang thang gió núi”, “tìm lại cố hương”, “dìu ta qua bão tố”, “một đời rong ruổi”, “lữ khách độc hành”, “tấm thân lạc loài”, “một kiếp tha phương”, “đi hết đoạn trường”, “cho trọn kiếp phong trần”... Cả một trường từ ngữ nối nhau với độ lặp thi pháp cao như thế, rõ ràng cái nghiệp lãng du của chàng đã quá rõ ràng. Xin đừng trách nếu đôi lần chàng không chung thủy:

Chiều nay biển nhớ xót xa

Rừng thương như níu chân cha từng ngày.

Chính chàng đang mâu thuẫn với chàng kia mà. Chàng cũng đã từng lên án mình, trách mình, nhưng luẩn quẩn loanh quanh, thấy trách mình cũng vô lý quá, tội quá, nên chàng liều công nhận nghiệp dĩ lãng du để ai hiểu cỡ nào chàng nhờ cỡ ấy:

Không trách mình chẳng trách ai

Bao đêm thao thức mơ hoài cố hương

Buồn vui một kiếp tha phương

Bầm gan đi hết đoạn trường xem sao.

Vì chàng biết mình đã “trót mang cái nghiệp buộc vào cái chân”. Đã có lần, chàng gửi chính tâm trạng xa biển của mình vào cái “Ngày em lên xe hoa”, dù cố giấu mình trong tà áo cô dâu, nhưng rõ ràng cái dáng đi về núi ấy là hồ quang của chính tấm thân phiêu lãng của chàng:

Em về phố núi mù sương

 Để ta day dứt nhớ thương ngập lòng...

Chính cái nghiệp căn lãng du ấy và lòng chung thủy với thơ đã khiến chàng suốt đời còng lưng “tự gánh bóng mình” trên suốt dặm trường nối rừng và biển.

Chính cái “thói” du tử kia mà ta có được một Đình Khôi thi sĩ.

Và cũng không lý do gì khác hơn, mà là chính nó, đã khiến thơ Khôi, về hình thức thể hiện, chỉ dừng lại bên bờ này của một thời thi pháp đã qua...

 

8. Nguyễn Thị Tuấn và những dòng thơ muộn

Tôi với Tuấn vốn là anh em đồng môn (Khoa Văn, ĐHSP Quy Nhơn). Dáng buồn, mắt buồn, mái tóc buồn… đúng dáng của thơ. Đó là cảm nhận của tôi thời sinh viên thơ mộng ấy. Giờ gặp lại, qua bao gian khó cuộc đời, Tuấn yên phận bên chồng con và đã an nhiên “từ chức” giáo viên về hưu sớm, Tuấn vẫn vậy: Dáng buồn, mắt buồn, mái tóc buồn… Điều khác hơn là Tuấn giờ đã là một thiếu phụ lặng lẽ hơn, đã âm thầm làm thơ, lại mail cho tôi cả một thiên tự truyện dài bằng thơ với hàng trăm câu khiến tôi đọc mà nghe… phát hoảng. Hoảng vì… qua bao lận đận, truân chuyên, nàng thơ ấy vẫn chung thủy cùng thơ cho dù chưa bao giờ thấy Tuấn in thơ… Thơ Tuấn lặn vào trong, có sức lan tỏa của một nội tâm an nhiên sau cuộc sóng gió. Một cảm nhận về Mẹ giản đơn, chân chất mà sâu lắng đến nao lòng:

Một đời tình ái truân chuyên

Nhọc nhằn thấm đẫm mối duyên lặng thầm

Lời ru khoan nhặt thâm trầm

Dạy con bao lẽ nghĩa ân ở đời (Lời trong mây gió).

Đó là một tâm hồn đồng điệu để giờ giảng văn lan tỏa được ba chiều: Cô giáo văn  (chủ thể truyền đạt) - Thơ Hàn Mặc Tử (chủ thể thông tin) - học trò (chủ thể tiếp nhận); nhưng không! Có cả bốn chiều: đó là ánh mắt người học trò gửi niềm tin vào cô giáo, hòa nỗi cảm thương Hàn vào sâu thẳm con tim (mà theo đánh giá của Lý thuyết tiếp nhận hiện đại thì đó là một giờ giảng văn xếp loại Giỏi):

Nhớ sáng nào cô vào lớp học

Câu thơ Hàn ướt đẫm trang văn

Có chú bé mắt buồn trao gởi

Đôi vần thơ ướt đẫm tim thơ

                                        (Thương mảnh trăng mơ).

Một lời tự thú chân thành của một người phụ nữ đa mang:

Vòng đời quanh quẩn quẩn quanh

Đa vương em nỡ để anh ưu phiền

(Người cho em cả cuộc đời).

Một chút trần lụy , một chút Thiền của Phật giới và… cao hơn là cả một tấm lòng:

Dìu nhau vào cõi đam mê

Rót cho nhau trọn câu thề gió trăng…

Cắn cho nhau miếng đào tiên

Để lòng quên bỏ ưu phiền thế nhân

... Tìm em ở động hoa vàng

            Lần theo vết gã từ quan năm nào

            Một đời vui thú tiêu dao

            Thuyền mơ ta lạc lối vào thiên thai

                                                   (Tìm em ở động hoa vàng).

            Một khi “Thuyền mơ đã lạc lối vào thiên thai” thì dẫu có muộn màng, Nguyễn Thị Tuấn cũng đã dìu hồn về cập bến bờ thơ.

 

            9. Đặng Huy Văn - Trải lòng cùng non nước

Vào những ngày đầu năm 2012, Đặng Huy Văn - Một Tiến sỹ Toán học, một nhà giáo đã về hưu đang sinh sống tại Hà Nội đã gửi đến Bichkhe.org những lời tâm sự đau đáu về những buồn vui cuộc đời. Một đời nghề dành cho Toán học, nhưng hình như một đời người của Đặng Huy Văn lại dành cho thơ, cho dù, anh từng thú nhận: “Trước ngày 24/11/2011, chưa bao giờ gửi đăng thơ (hôm đó gửi bài “Tình bay như khói sương” cho nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, đơn giản chỉ để nhờ anh ấy gửi dùm cho chị Ngô Vũ Dao Ánh vì tôi không có địa chỉ của chị ấy). Đó cũng là bài thơ đầu tiên đăng trên mạng”. Đọc hơn 10 bài thơ anh gửi về, tôi  nhận thấy rằng: Thơ anh dù viết về đề tài nào cũng đau đáu trong lòng một tình yêu nước, yêu đời, đều hướng đến giá trị Chân - Thiện - Mỹ vĩnh hằng mà nhân loại cần hướng đến. Anh có những câu thơ xa xót về biển đảo quê hương. Tôi thực sự yêu những câu thơ da diết của anh về đảo:

Đảo Gạc Ma kia rồi!

Hòn Vọng Phu đợi mãi

Sao Anh không về lại

Chỉ một lần yêu thôi?

            Trên biển xác Anh trôi

Máu thắm cờ đỏ rực

Nhớ Len Đao mẹ khóc

Tưởng Anh còn trong nôi! (Lá thư từ Trường Sa).

Viết về Trường Sa đầy âm vang biển sóng, thơ Đặng Huy Văn có sức nối dài về bề sâu và lay động mạnh đến cả lịch sử bốn nghìn năm bi tráng của dân tộc anh hùng:

Giữ Trường Sa, con trai đầu ngọn sóng

Hòn Vọng Phu đợi mãi cuối chân trời!

Giữ Hoàng Sa, con gái cưng trong mộng

Đã dạn dày qua bão tố, em ơi!

                                 (Cho anh tạ lỗi biển Đông ơi!).

Đọc những bài thơ anh viết về hai nhạc sĩ lừng danh Văn Cao và Trịnh Công Sơn, tôi nhận ra, trong con người Toán học ấy một rung động nghệ thuật sâu sắc đặt trên cơ sở nhân cách và tài hoa của người làm nhạc. Thơ anh không những rung động về nhạc mà còn (chủ yếu) rung động về “nhân cách âm nhạc”. Với “bác” Văn Cao, anh thổ lộ:

Yêu nước thương nhà hồn khắc khoải

Yêu bè quí bạn biển đầy vơi

Nếu như ai cũng như đời bác

Cõi Niết Bàn đâu chỗ bác ngồi!

                                       (Kính viếng bác Văn Cao).

Văn Cao rung động anh bằng tình yêu nước thì Trịnh Công Sơn lại cảm hóa anh bằng sự đồng cảm đến nao lòng:

Có đôi lần thấp thoáng những lời ca

Mà người khác nhận bóng mình trong đó

Em chỉ âm thầm giở từng trang thư cũ

Đã nâng niu gìn giữ tự bao năm!

                                      (Tình bay như sương khói).

Thơ anh hay khi viết về những lắng đọng ở bề sâu đã được đúc kết, chiêm nghiệm. Thơ anh cũng còn những câu kể khi viết về những vấn đề thời sự bộn bề. Tôi yêu những câu thơ thấm lắng chiều sâu và tôi quý những câu “kể” thấm một tình yêu nước.

 

10. Trần Thế Nhân

    Tiếng vó ngựa cuồng rông bên bờ Hương giang

Tôi quen và chơi thân với anh Trần Thế Nhân suốt hai năm Cao học ở Huế và… tiếp tục đến bây giờ khi anh đã nghỉ hưu. Anh người Huế, thuộc thế hệ Cử nhân Văn khoa trước 1975 ở Đại học Huế. Và anh cũng bắt đầu làm thơ từ đó… Nhưng sau 1975, trước lấn bấn thời cuộc, anh chỉ còn giữ thơ trong cõi riêng lòng mình. Anh cảm thơ khá tốt, có giọng đọc thơ trầm và vang đầy nội lực (nhất là khi uống rượu).

Thơ anh thuộc dòng thi pháp thơ trữ tình miền Nam trước 1975. Có một chút ngông cuồng, một chút bạt mạng, rất lạ với cái gốc gác “nghiêm cẩn, trầm tư  Huế” của anh:

Một đời mông lung

           Một trời nhớ nhung

Ta lang thang tìm kiếm

Lòng tơ trẻ rộn ràng như ngựa chiến

                                                     (Người tình lạ)

            Cái tâm thế “Lòng tơ trẻ rộn ràng như ngựa chiến” ấy khiến cho “con ngựa thơ” Trần Thế Nhân như cứ muốn rời Huế, vượt đèo Hải Vân vào Nam để hòa vào cái ngang tàng xứ Quảng. Vào Quảng để anh thỏa thuê mở toang cánh cửa thơ nghiêm cẩn của cố đô cho “nát mấy hồ trường”, cho “ngấm lửa… cháy bùng”, thỏa sức ‘cạn ly, quẳng chén”, rồi “cười vang một trận cuồng rông”:

Đêm nay nát mấy hồ trường

Men nồng ngấm lửa khói hương cháy bùng

Cạn ly, quẳng chén xuống sông

Cười vang một trận cuồng rông… ngất trời

                                              (Cười vang đêm sông)

Nhưng rồi, tuổi trẻ ngông cuồng  cũng qua, sau những cuộc thế bại thành, Trần Thế Nhân lại vấn vương một niềm hoài cổ:

Thôi tôi về với mình tôi

Người đi hút bóng chân trời mù tăm

Người đi xoá cuộc trăm năm

Ta về ghép lại vầng trăng …vỡ rời

Ta về nhẩm đếm nghĩa đời

Nhặt gom thế sự, ngẫm lời trắng đen

                                           (Rót buồn vào đêm).

Thơ Trần Thế Nhân nhuyễn và sâu, vừa thâm trầm như mặt nước Hương giang lại vừa âm ỉ với chút chút phong ba dưới đáy dòng Hương ấy, nhưng lại pha pha một chút Quảng phá phách, ngông cuồng.

Đọc thơ anh, ta như nghe văng vẳng tiếng vó ngựa rậm rịch vì chồn chân bên dòng Hương trầm tư và những con đường cố đô êm vắng…

 

*

*            *
 

Các bài khác:
· ĐỌC LẠI MỘT BÀI THƠ HAY NHẤT VỀ TUỔI HỌC TRÒ
· TÁC GIẢ 'HÒN ĐẤT' VỚI CÁC NHÀ VĂN ĐÀN ANH
· NHỮNG BÀI THO HAY DÀNH CHO PHỤ NỮ
· NGUYỄN THỤY LONG - BÓNG CHIM TRÊN NGỌN KHÔ
· SỰ ĐAN XEN CÁC KHUYNH HƯỚNG THẨM MỸ TRONG THƠ HUYỀN QUANG
· ĐẶC TÍNH LÃNG MẠN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ THI CA VIỆT NAM THỜI CHIẾN
· CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
· TRÍ THỨC VĂN NGHỆ SÀI GÒN TRƯỚC 75 VỚI VŨ TRỌNG PHỤNG
· DẤU VẾT VŨ BẰNG TRÊN HAI TỜ BÁO “TRUNG VIỆT TÂN VĂN” (HÀ NỘI, 1946) VÀ “LỬA SỐNG” (HẢI PHÒNG, 1954-55)
· NGÀY GIA ĐÌNH VN 28/6: NHỮNG BÀI THƠ HAY VỀ VỢ
· CÁI TÔI ĐỘC ĐÁO CỦA TẢN ĐÀ TRONG TÁC PHẨM 'HẦU TRỜI'
· CHẾ LAN VIÊN VÀ HIỆN ĐẠI HÓA THƠ VIỆT
· VĂN CAO - DÒNG SÔNG BA NHÁNH SƯƠNG MÙ
· TRẦN ĐÌNH HƯỢU VÀ BA LOẠI NHÀ NHO TRONG VĂN HỌC VN TRUNG ĐẠI
· 'THUYỀN TRĂNG' CỦA HỒ THẾ HÀ - TỪ MẪU NGƯỜI VĂN HÓA
· NGƯỜI ĐẤT QUẢNG VIẾT VỀ TRƯỜNG CA NGŨ QUẢNG
· LIỆU DOSTOEVSKY CÓ THỂ LÀM CHÚNG TA CHOÁNG VÁNG!
· TINH THẦN BI TRÁNG VÀ LÝ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG TRƯỜNG CA THU BỒN
· 10 NĂM NGÀY MẤT NHÀ THƠ THU BỒN: THU BỒN VÀ TÔI
· THỜI GIAN VÀ PHẬN NGƯỜI TRONG THƠ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG

 

  
Gia đình Bích Khê