DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
HÌNH TƯỢNG TỔ QUỐC TRONG TRƯỜNG CA THU BỒN

                                                                                    MAI BÁ ẤN

 

 

 

            Tổ quốc, dân tộc là một chủ đề lớn rất được các nhà thơ chú trọng, đặc biệt là khi đất nước bị lâm nguy. Đối với các dân tộc khác, có thể Tổ quốc, quốc gia là một khái niệm cao siêu, đôi khi trừu tượng, nhưng đối với người Việt Nam nông nghiệp lúa nước, Tổ quốc không có gì xa lạ mà chính là hai yếu tố quan trọng của sản xuất nông nghiệp: Đất và Nước (Đất nước), thậm chí, khi cần, với cư dân trồng lúa nước, người Việt chỉ cần gọi tắt ngay yếu tố quan trọng đầu tiên trong sản xuất nông nghiệp “Nước, phân, cần, giống” thành: Nước Việt Nam! Chính vì thế, khi nói về Tổ quốc, dân tộc; người Việt Nam không sa vào những khái niệm trừu tượng, cao xa mà thường nói đến cái cụ thể, gần gũi trong đời thường. Đó có thể là một quê hương cụ thể, một mảnh vườn, một tất đất ngọn rau, một nơi chôn nhau cắt rốn, một ngôi làng, một dòng sông, bến nước, một lũy tre, bờ thửa thân quen... Xưa nay, trong thơ ca dân tộc nói chung và thơ ca hiện đại nói riêng, hình tượng Tổ quốc, dân tộc cũng đã được nhiều nhà thơ khai thác; nhưng có lẽ, với một chủ đề lớn lao và thiêng liêng như thế, hơn ai hết, Thu Bồn rất hiểu rằng: trường ca chính là thể loại có thể thực hiện tốt nhất chức năng phản ánh đầy đủ  tầm cỡ của chủ đề này; cho nên hình tượng Tổ quốc được anh tập trung thể hiện rất đậm nét trong trường ca so với những bài thơ ngắn của anh. Tổ quốc, dân tộc trong trường ca Thu Bồn được khai thác ở nhiều góc độ, khi cụ thể ở phạm vi quê hương, làng mạc; khi khái quát bao trùm cả văn hiến và văn vật, nhưng dẫu có khái quát, các nhà thơ vẫn luôn đi từ những chi tiết cụ thể đảm bảo sức lay động thơ khi nói về Tổ quốc thiêng liêng. Trong 8 trường ca chính thức (bên cạnh những bài thơ dài) của Thu Bồn, hình tượng Tổ quốc, dân tộc được thể hiện bằng nhiều góc độ, rất phong phú và đa dạng.

 

1. Tổ quốc, dân tộc - cội nguồn và hành trình mở cõi về Nam

Ai cũng biết, vật biểu (vật tổ) của dân tộc Việt Nam khác với các dân tộc khác chính là yếu tố cặp đôi (hài hoà triết lý Âm Dương), vì thế, biểu tượng nòi giống Việt Nam không phải là một con vật duy nhất mà là một cặp đôi Âm trước Dương sau (nòi giống Lạc Hồng, nòi giống Tiên Rồng) gắn liền với huyền thoại về những đàn chim Lạc thẳng cánh về phương Nam mở nước và truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ đẻ ra trăm trứng Việt. Ở “Người gồng gánh phương Đông” - trường ca viết về quá trình hình thành và vị trí địa lý đặc biệt của dân tộc Việt, Thu Bồn đã khẳng định cội nguồn phương Bắc của dân tộc:“nàng Âu Cơ trở mình trên đệm cỏ/ tóc thả xuôi theo dải sông Hồng/ lòng quặn đau nàng nhớ đến chồng/ ôm cả đỉnh Phăngxiphăng nàng khóc”.  Sau khi chia tay, Lạc Long Quân dẫn năm mươi con xuôi về biển và hướng thẳng về phương Nam trong nỗi mong nhớ ngút ngàn của Âu Cơ cùng năm mươi con ở lại: “khắc khoải nhớ người trai gan góc/ ở hướng mặt trời phía ngọn gió nam/ thân ngang tàng trên mặt biển xanh lam/ thả phóng tâm hồn theo ngọn gió”. Để lại nỗi đau của nỗi niềm riêng, chàng chim Lạc vẫn mê mải soãi cánh bay trên tiếng hát mê say mở cõi: “ngực biển đông căng yếm xanh đằng trước/ sau lưng còn vọng mãi tiếng Âu Cơ/ gió kéo dài tiếng khóc con thơ/ anh dừng lại bên biển Đông thăm thẳm/ sóng vẫn hát những lời say đắm/ mặt trời dừng chân trên xích đạo lắng nghe”. Cũng dấu nỗi đau cách chia, nàng Âu Cơ dặn dò đàn con nhỏ: “trọn đời mẹ khổ đau lam lũ/ để tạc ra hình dáng non sông/ tìm cha, con hãy đến biển Đông/ nơi ngọn sóng bạc đầu vì sương gió” (Người gồng gánh phương Đông). Và phương Nam Tổ quốc hiện lên trong lung linh huyền thoại: “ngày xưa có một người con gái/ đến đất này trồng trọt chăn nuôi/ người con trai qua lại đôi lần/ lòng ghen tức của thần cô độc/ muốn hai người phải sống lẻ loi/ nhưng trời sinh ra dòng sông đâu phải để ngăn hai/ con cháu họ sinh ra đông đúc/ đất đai nghèo thành Bến Sắn, Bến Khoai/ xa hơn nữa là con sông Vàm Cỏ/ thả lòng mình xanh thẳm với biển Đông” (Oran bảy sáu ngọn).  Từ máu xương hi sinh bao thế hệ, Thu Bồn khẳng định sự vẹn toàn lãnh thổ của nước non: “vì đất này ta đo bằng máu/ dù cái kiến con ong đều quý/ một dây bìm cũng có biên cương/ dù một tí phân chim vãi giữa trời cũng là đất quê hương” (Ba dan khát). Đó là lãnh giới biên cương ở đất liền, đồng thời còn bao trùm cả lãnh hải xa xôi: “chào Trường Sa/ chào Hoàng Sa/ những chùm đảo chim/ những hòn đảo chìm/ những hòn đảo nổi/ những ốc đảo tù và gió thổi/ gọi hồn Tổ quốc lạc ngoài khơi/ trên thân hình ta áo ướt chẳng cần phơi/ tim chói lọi mặt trời lên tuổi trẻ/ con ở đâu cũng là con của mẹ/ hòn đảo Việt Nam nào cũng Tổ quốc Việt Nam/ thềm lục địa/ nguyên một loài sao bể” (Ba dan khát).

Đọc những câu thơ này của Thu Bồn trong những ngày cả dân tộc đang hướng về biển đảo thân yêu, ta càng thấy quặn lòng bởi tiếng gọi thiêng liêng của hồn Tổ quốc.

 

2. Tổ quốc, dân tộc qua bề dài và chiều sâu văn hóa truyền thống

            Văn hóa chứa đựng hai giá trị cơ bản là giá trị văn hóa vật chất (vật thể) và tinh thần (phi vật thể) với nhiều thành tố cấu thành, trong đó, phong tục, tập quán là một thành tố quan trọng trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân của người Việt. Đó là phong tục hôn nhân với truyền thống “Miếng trầu là đầu câu chuyện” gắn với sự tích “Trầu cau” trong truyện cổ. Tổ quốc bắt đầu từ những cái đơn sơ mà vô cùng quý giá ấy: “đất nước có dây trầu leo cây cau/ bà thức trầu gọi tên từng lá/ tôi ra đời chẳng có tên/ mẹ gọi tôi thằng cu cái tẹo/ đất nước tôi dài một nẻo/ gọi tên mình sợ ma quỷ đến tha” (Quê hương mặt trời vàng), hoặc “Tổ quốc thánh thần và nhân hậu/ có dây trầu quấn quít thân cau” (Campuchia hy vọng)… Đó là phong tục “xăm mình” của cư dân sông nước, của bàn chân Giao Chỉ đặc trưng:“sóng còn in dáng người đáy bể mò trai/ lưng xăm trổ hình thù quái dị/ ngón chân cái xòe ra Giao Chỉ/ tay níu đồi mồi mồm ngậm ngọc trai” (Người gồng gánh phương Đông).

Văn học dân gian vốn là một biểu hiện cụ thể của văn hóa dân gian. Đó là nền văn chương truyền miệng tự xa xưa còn lưu mãi đến ngày nay mà không cần chữ viết. Văn học dân gian Việt Nam cũng đa dạng, phong phú không kém bất kỳ một nền văn học dân gian lâu đời nào trên thế giới. Đó là những thần thoại, truyền thuyết, cổ tích; những ca dao, tục ngữ tồn lưu như máu thịt: “em về hỏi lại Kim Quy/ thần rùa dựng nước biết đi vòng nào/ thành xây trôn ốc tự hào/ mà ngàn năm vẫn ra vào ngàn năm/ một thời con mắt lá răm/ một thời con gái đăm đăm hẹn thề/ ai về nhắn hỏi bồ đề/ Quan âm mấy thuở đi về gốc đa” (Người vắt sữa bầu trời).  Đó là những câu hát xa xưa vang trên đầu nguồn, ngọn thác hòa cùng tiếng đàn đá bay vượt cả thời gian: “đâu tiếng hát rừng xanh chim Lạc/ tiếng ca của đầu nguồn sông thác/ một chiếc đàn bằng đá vang lên/ mang tiếng hát bị lãng quên/ dưới lớp rêu quỷ quyệt/ đem trả lại cho tiếng chim Lạc Việt/ người chủ tiếng hát này/ trên phím đàn lấy sâu lắng làm dây/ lấy bão táp gió ngàn làm nhạc/ lấy con suối dài ngân nga tiếng hát/ bài ca không lời” (Người gồng gánh phương Đông); là những câu ca dao, dân ca đầy chất Quảng thấm mãi trong lòng người chiến sĩ Hùng. Khi nghĩ về quê hương, đất nước là nó lại hiện lên, hiện lên ngay trong giờ phút Hùng sắp hi sinh: “Anh bỗng nhớ tiếng ru hời bài hát cũ/ “Cái con chim xanh ăn trái xoài xanh”/ Mẹ đã ru những trưa nồng anh ngủ/ “Con chim xanh ăn trái xoài xanh” (Bài ca chim chơ rao). Dân ca là hồn vía của quê hương, dân tộc; mỗi lần cất lên là mỗi lần hiện lên dáng hình đất nước thân yêu: “bài dân ca anh hát cho chúng em nghe đấy/ “người ơi người ở đừng về”.../ ruộng vùng cao ngày mai em cấy/ cánh cò đưa quê hương về trên thảm lúa xanh” (Ban dan khát). Đặc biệt là âm vang cồng chiêng của vùng đất Tây Nguyên chứa kho tàng sử thi, huyền thoại: “bao nhiêu người còn thuộc chuyện ĐamSan/ bạn đến đây mời bạn nghe chiêng Mơnông/ chiêng sẽ kể về gươm thần hỏa xá/ bạn sẽ nghe âm vang đàn đá/ mở đầu những vũ điệu Tây Nguyên” (Ba dan khát). Truyền thống văn hóa còn thể hiện qua những lễ hội dân gian, những trò chơi truyền thống gắn liền với tuổi thơ của mỗi con người, mỗi vùng đất. Cái trò chơi tuổi thơ xứ Quảng, hẳn thuở nhỏ Thu Bồn đã từng “tinh nghịch” lấy tổ chim dồng dộc làm dép để chạy thi, giờ lớn khôn rồi vẫn hiển hiện trong lòng mỗi người khi nghĩ về đất nước, quê hương: “thuở nhỏ có lần tinh nghịch/ lấy tổ chim vàng cho em làm đôi dép kéo lê/ tôi đã vô tình để cho em xéo lên nghìn tiếng hát/ đêm con chim vàng về réo trong mê” (Chim vàng chốt lửa).

Nền văn minh lúa nước Đông Nam Á được xem là chiếc nôi của nghề trồng lúa trên toàn thế giới. Chính vì thế, yếu tố sông nước cũng là một điển hình của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp Việt Nam. Cho nên xưa nay, Tổ quốc - Mẹ - Dòng sông là ba khái niệm có những trường nghĩa đồng nhất nhau trong những đặc điểm chung. Dòng sông cũng là biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc:“nơi đất này mẹ đẻ con ra/ con sông nhỏ đã rửa nhiều chua mặn/ đất nước cong như đòn gánh/ nỗi ngày mai trĩu nặng vai gầy” (Người gồng gánh phương Đông). Và khi xa quê hương, đất nước, người Việt nào cũng nhớ về một dòng sông ám ảnh của tuổi thơ:“Đêm hôm ấy người chỉ huy Việt Nam/ nói với tôi về dòng sông Đuống/ một dải bờ xa một bến bờ xa/ đó là quê hương người chiến sĩ sinh ra/ anh về phép một lần/ người mẹ già tóc trắng” (Campuchia hy vọng)...

 

3. Tổ quốc, dân tộc với truyền thống lịch sử oai hùng

Đánh giặc giữ nước là truyền thống nổi bật làm nên phẩm giá Việt Nam. Ngoại trừ những diễn ca lịch sử, trong thơ trữ tình, trường ca chính là thể loại thuận lợi nhất để trường liên tưởng “dài hơi” của nhà thơ thả sức thể hiện cảm hứng sử thi bay bổng của mình khi nói về truyền thống. Quyện hồn mình vào những giá trị thiêng liêng, Thu Bồn đã bật ra những câu thơ mang sức nặng cảm xúc cả bốn nghìn năm lịch sử: chúng sợ An Dương Vương, Thánh Gióng/ sợ trăm dòng sông đều nổi sóng Bạch Đằng? những súng thần công cổ sơ không bao giờ bắn nữa? nhưng chúng sợ lửa bắn về tự phía bốn nghìn năm” (Người gồng gánh phương Đông). Cái “lưỡi cày” tự thuở các vua Hùng khai mở nước non vẫn thường trực đi về trong tâm thức; men chiến thắng giặc Ân của Phù Đổng Thiên Vương còn ủ kín trong lòng cháu con như men rượu để khi đất nước cần, con cháu lại “say đắm” nối gót lên đường: “Lưỡi cày thuở Hùng Vương dựng nước cứ cày hoài ký ức lên phơi. Từ thuở ấy ta đã yêu Thánh Gióng mơ một ngày ngựa sắt ta bay. Phù Đổng hỡi rượu người trên đá giờ đây con cháu vẫn còn say giọng quan họ điệu chèo cò lả. Cao nguyên ơi đất mẹ mới cày - chiếc gạch nối bước qua đầu thập kỷ” (Người vắt sữa bầu trời). Bao trận đánh đầy âm vang trong lịch sử giữ nước, vọng về gọi dậy cả hồn thiêng dân tộc: “ải Chi Lăng rùng rùng vó ngựa/ Sầm Nghi Đống chết treo/ Bắc Bình Vương ra trận/ chiến bào đỏ rực máu quân Thanh/ Nguyên - Mông bao phen vỡ mật/ lời thề Trần Hưng Đạo còn vang” (Campuchia hy vọng).

Truyền thống đánh giặc giữ nước đến thời hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam lại càng được tiếp tục phát huy. Gắn bó với Tây Nguyên trong kháng chiến, Thu Bồn đã viết lên những trang thơ truyền thống hào hùng từ trong máu thịt đời mình: “bạn đến đây nghe chuyện Kapa Kơlơng/ mười sáu tuổi giết trăm tên giặc/ tiếng bom Ngô Mây và anh hùng Núp/ xa hơn nữa về phía bắc dãy Ngọc rinh rua/ sông Sa Thầy/ những chiến sĩ vô danh nằm xuống” (Ba dan khát). Đó là cái hào khí Tây Nguyên bất khuất, kiên trung của những Đăm San trong thời đại mới:“ở đất này tình yêu bắt đầu bằng nhát cuốc/ bằng nước sôi/ lửa bỏng/ thép nung/ bằng nỗi đau không còn nơi rên xiết/ bằng những đêm đốt rào vi quyết liệt/ bằng những đêm bẻ xiềng gãy nát cả hai tay” (Ba dan khát). Và: “Hùng Rin chết nhưng bao người khác/ Đã xông lên như thác đổ cuốn trời/ Dân tộc ta mang trái tim chiến đấu/ Có bao giờ chịu nhục, Sao ơi!” (Bài ca chim chơ rao). Cả âm mưu xâm lược của bọn diệt chủng Pôn Pốt (Campuchia) cũng được Thu Bồn tựa vào lòng tự hào dân tộc viết lên những câu thơ như những lời cảnh báo ngày tàn lụi của những tên diệt chủng:“hai sư đoàn Khơme Đỏ tấn công/ những chiếc máy bay mang bom chực sẵn Pôchentông/ chúng đã chạm đến thành đồng Tổ quốc Việt Nam/ phải đánh trả, diệt chúng ngay trong sào huyệt/ đó là lời kêu gọi của núi sông!” (Oran bảy sáu ngọn). Tổ quốc thấm đến tận tim gan, nằm trong phần “sâu thẳm” nhất của mỗi người để từ đó khái quát cả “nước non” hùng vĩ. Đây là đoạn kết thúc trường ca “Vách đá Hồ Chí Minh” của Thu Bồn: “Đi hết đỉnh cao của nước non này/ Lòng mơ tới trời xanh nhân loại/ Vầng chữ kia như cầu vồng sáng chói/ Trong trái tim sâu thẳm con người” (Vách đá Hồ Chí Minh).

Rõ ràng chủ đề Tổ quốc, dân tộc đã trở thành cảm hứng lớn tạo nên chất sử thi, hoành tráng của trường ca Thu Bồn. Khi viết về cội nguồn dân tộc, Tổ quốc hiện lên lung linh huyền thoại; trong hành trình mở nước về phương Nam thì vừa bay bổng tự do như những cánh chim lại vừa gian lao đến dữ dội của muôn nghìn thử thách. Văn hóa là chiều sâu, là độ dài của những giá trị vượt thời gian làm nên phẩm cách Việt Nam, chính nhờ độ dài của thể loại (trường ca), Thu Bồn đã khai mở và tái dựng rất thành công bằng cảm xúc nghệ thuật mạnh mẽ tạo nên sự đa dạng của chủ đề; đặc biệt Tổ quốc, dân tộc Việt Nam gắn chặt với lịch sử đấu tranh giữ nước vĩ đại chính là yếu tố quyết định để chất bi hùng, tầm sử thi của trường ca Thu Bồn càng lớn lao, hoành tráng và dữ dội. Khác với trường ca của các tác giả cùng thời; Tổ quốc, dân tộc hiện lên trong trường ca Thu Bồn đậm yếu tố huyền thoại, lãng mạn trên nền âm hưởng của các khan Tây Nguyên cùng những thần thoại, truyền thuyết dân gian; vì thế, âm hưởng chủ đạo vẫn là chất hào hùng, thiêng liêng, cao cả. Đó là một tình yêu lớn của một nhà thơ lớn đất Quảng Nam dành cho Tổ quốc, quê hương mình bằng cả tài năng thơ và cả một cuộc đời chiến đấu gian khổ, hào hùng.

Kỷ niệm 10 năm ngày mất Thu Bồn, nghĩ về anh, ta luôn nhớ về một người con trai Quảng hiến dâng cả cuộc đời thơ, cuộc đời chiến đấu vì Tổ quốc, nhân dân.

---------------------

 

 

Các bài khác:
· NGUYỄN NGỌC PHÚ - NẺO VỀ TUỔI THƠ
· GS LÊ ĐÌNH KỴ - NGHỆ SĨ HƠN NGHỆ SĨ
· 'VỀ CHỐN THƯ HIÊN' GÓP LỜI PHONG NGUYỆT
· CÁI ĐẸP CỨU RỖI CON NGƯỜI (VỀ NGUYỄN ĐÌNH THI)
· THÁNG BẢY VỀ, NHỚ NGUYỄN TUÂN
· NGHĨ VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HỌC HÔM NAY, ĐÔI ĐIỀU TÔI MUỐN NÓI
· 'GÁC TRỊNH' - CÁNH BƯỚM VÀ HOA HỒNG
· NHỮNG BỨC THƯ TAGORE GỬI HAI NGƯỜI PHỤ NỮ
· HỎI CHUYỆN TÁC GIẢ “CHUYỆN TƯỚNG ĐỘ”
· VŨ TRỌNG PHỤNG - NGƯỜI KHÔNG HỀ XƯA CŨ
· ĐỌC THƠ TÌNH HÒNG CẦM, XEM ẢNH NGUYỄN ĐÌNH TOÁN
· NGUYÊN HỒNG - NHỮNG TRANG SÁCH THẤM MỒ HÔI VÀ HƯƠNG ĐẤT
· NGUYỄN HOA – THẮP XANH NIỀM TÔI
· ĐỖ TRỌNG KHƠI - NGÕ NHÀ NON LẠI MÀU RÊU...
· VỚI NGƯỜI ĐÃ KHUẤT
· ĐÔI ĐIỀU VỀ TỪ 'NGÔNG' TRONG THƠ VIỆT
· PHÙNG CUNG - CON NGỰA GIÀ TRÊN ĐỒNG CỎ THI CA
· ĐƯỜNG MƠ VỀ TỰ NGÃ TRONG THƠ VĂN PHẠM THÁI
· LỤC BÁT KÝ CỦA MAI BÁ ẤN: HỘI NGỘ NHA TRANG
· VẤN ĐỀ VĂN BẢN CỦA TRUYỆN NGẮN 'CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ'

 

  
Gia đình Bích Khê