DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NHÀ THƠ ANH NGỌC - VẦNG TRĂNG TREO NỖI CÔ ĐƠN CUỐI TRỜI

NHÀ THƠ ANH NGỌC - VẦNG TRĂNG TREO NỖI CÔ ĐƠN CUỐI TRỜI



Ông là một khối mâu thuẫn, tỉnh táo đấy mà đôi lúc như ở tận cùng cõi mây, cười vui đấy mà bỗng chốc hồn thơ phiêu du ở nơi vô tận của đất trời, hỉ hả với rất nhiều niềm đam mê đấy, mà rồi bỗng chốc như một kẻ lạc lõng ở trong cõi thế. Đơn độc, hoang hoải nhớ quên với đủ bao nhiêu dư vị của kiếp người. Ở vào tuổi “cổ lai hy” (theo cách hiểu của thời ông Đỗ Phủ) ,ông có khi như đứa trẻ với tâm hồn lồng lộng, quên đi tật bệnh, quên đi muộn phiền, có khi lại đóng cửa phòng văn, giam chặt mình với thế giới riêng. Và khi đó, ông chỉ độc hành cùng những áng thơ đã đi cùng ông trong suốt năm tháng cuộc đời, làm nên một con người thơ rất riêng mang tên Anh Ngọc.

 

 


Nhà thơ Anh Ngọc sinh ra trong một gia đình và dòng họ có truyền thống văn học, có 7 người là Hội viên Hội Nhà văn. Sau khi tốt nghiệp khoa ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông là giáo viên giảng dạy tại trường Trung cấp và Đại học Thương nghiệp. Năm 1971, ông nhập ngũ, làm lính thông tin của Trung đoàn 132, chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị năm 1972. Đến năm 1973, ông làm phóng viên báo Quân đội Nhân dân tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam. Có mặt với tư cách nhà báo trong đội quân tình nguyện giúp nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi ách diệt chủng Pônpốt. Nhớ về những ký ức một thời binh lửa, một thời trận mạc ấy, nhà thơ Anh Ngọc chia sẻ: Ngay từ tháng Giêng 1975, cùng với một số nhà báo quân đội, ông lên đường vào Nam để chuẩn bị theo dõi cuộc Tổng tấn công mùa xuân năm ấy, và ông đã may mắn có mặt ở Sài Gòn vào những ngày tháng 4 lịch sử năm 1975. Cùng với nhiều người, ông được chứng kiến sự vận động đến chóng mặt của các sự kiện to lớn, những sự kiện trước đây thường kéo dài trầy trật trong những thời gian đằng đẵng, đến sốt ruột, đến nản lòng… thì chỉ trong có 55 ngày đêm, lịch sử đã làm xong tất cả, nghĩa làm xong công việc của 30 năm. Ngày ấy, đang có mặt ở chiến trường Cực Nam Trung Bộ, và ông với tư cách phóng viên chiến trường, đã theo bộ đội giải phóng đánh chiếm từ một ấp Tân Điền, huyện Hàm Thuận, đến một huyện lỵ Ma Lâm, đến một thị xã Phan Thiết và cuối cùng là cả Sài Gòn, mà chỉ trong vòng chưa đầy một tháng! Dung lượng sống đậm đặc với những sự kiện, những cảnh, những người liên tục thay đổi, đã tràn vào đầy ắp trong ký ức của ông, chúng ở nguyên đấy cho đến hôm nay. Ông bảo phải thật sự cảm ơn những tháng năm nóng bỏng ấy, vì có nó mà ông đã may mắn gặp được sự đồng điệu đã làm nên con người thơ, con người đời của Anh Ngọc bây giờ, đó là âm nhạc của Trịnh Công Sơn.
Nhà thơ Anh Ngọc nói giọng đầy thao thiết: “Ngay vào ngày 30-4-1975, tôi đã lần đầu tiên được nghe một cái băng catset của Khánh Ly và Trịnh Công Sơn -“Hát cho quê hương Việt Nam”, cuốn số 5, - và nó đã giúp tôi mở thêm một cánh cửa ở trong trái tim, mà trước đó bao năm, do hoàn cảnh đất nước, tôi vừa tự nguyện vừa vô tình đóng lại. Bạn không biết được điều ấy với một người như tôi, nó lớn lao đến như thế nào đâu - khi tôi gặp lại cái nửa trái tim vừa lạ lẫm vừa vô cùng gần gũi của chính mình thì tôi đã bắt đầu một cuộc sống với trái tim trọn vẹn - cũng giống như cả dân tộc ta đã tìm lại cái nửa thứ hai của mình nhờ cái ngày 30 - 4 ấy đấy”.
Nếu cần một ví dụ về một con người yêu nhạc Trịnh hết lòng, thì đó phải là nhà thơ Anh Ngọc. Ông như tìm lại được chính mình khi thưởng thức Trịnh Công Sơn, đó là một thứ thuốc đặc hiệu giúp Anh Ngọc thoát khỏi tất cả mọi ưu phiền, mọi tật bệnh, liều thuốc “mạnh hơn tuyệt vọng”: “Ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, tôi trò chuyện với anh. Trong một thế giới chỉ có tôi và anh, ở đấy tôi và anh đều trong suốt, nói đúng hơn, hồn tôi và hồn anh đều trong suốt… Có người nói với tôi: “Thiên hạ bao nhiêu người đáng yêu, sao anh chỉ yêu mỗi ông Sơn?”. Tôi đã trả lời họ thế này: Là vì trong ông Sơn đã có tất cả rồi, tôi yêu ông Sơn nghĩa là yêu cả thiên hạ đấy. Nói vậy chứ, thực ra, chính tôi cũng đã có lần diễu mình về từ “fan cuồng” này đấy, nhưng đấy là dùng đùa cho vui. Cái cách hùa vào theo bầy đàn này rất xa lạ với tôi. Như trên đã nói, Trịnh Công Sơn, dù trong đời tôi chỉ trực tiếp trò chuyện có hai lần, là “người bạn tri âm trọn vẹn nhất trong tâm tưởng” của tôi, bởi thế giới tinh thần của tôi quá gần gũi với anh ấy, mà thế giới tinh thần là một khái niệm bát ngát như biển, “nói bao nhiêu cũng còn chưa đủ - nói mãi mãi vẫn là chưa hết - nói đến chết cũng hãy đang còn…”, như cách nói của Xuân Diệu”. Và tôi đã viết để đồng điệu với nhạc Trịnh: “Em ơi tuyệt vọng màu gì/ Màu đen, màu trắng, lại khi màu hồng/ Nắng vàng màu của nhớ nhung/ Chiều dâng ngập lối người không trở về/ Hoa còn nở tím triền đê/ Áo ai nhuộm sắc tái tê giữa hồn/ Chim bay về phía hoàng hôn/ Vầng trăng treo nỗi cô đơn cuối trời”.


Thật lạ, gặp nhà thơ Anh Ngọc, nếu bàn luận về những trận bóng đá, ông là một con người khác. Nói về những vấn đề thời sự, xã hội ông là một con người khác. Nói về những vấn đề của lớp trẻ, ông lại hoàn toàn là một con người khác. Và nói về văn chương, thì ông lại là chính ông, hiện đại và cổ điển trong cái nghĩa đầy đủ nhất. Nhưng ông có cái tài là cuốn người đọc vào mạch suy tưởng của chính mình và ở đó, người ta gặp rất nhiều trạng huống. Dường như lúc nào cũng cũng tan ra và lan ra cả sang mình . Nhà thơ Anh Ngọc cười: “nhà thơ Chế Lan Viên, trong di cảo của mình đã viết: “Tôi là thần Bayon bốn mặt giấu đi ba”, còn tôi, tôi tự cho tôi là “thần Bayon bốn mặt, nhưng bốn mặt đều… phơi ra, có điều chúng phơi ra không …đều nhau...”. Tôi không thể giấu mình, nhất là đối với thi ca. Hồn vía tôi trút hết vào đấy cả”.


Nói đến thơ, hoặc cứ chạm vào mạch nguồn thơ ca là con người Anh Ngọc bỗng hào sảng đến lạ lùng, bỗng tràn trề năng lượng sống. Ông như khơi lại được cả những giác quan trong tiềm thức, để đọc thơ, nhớ những câu thơ của mình, để vui cũng vui tột cùng mà buồn cũng buồn tột độ. Dường như Anh Ngọc là một nhà thơ luôn nương náu tấm thân mình trong hình thù những câu thơ, để đi về giữa chốn trần gian đầy những nỗi đau mà ông chưa bao giờ thoát ra được: “Tôi đang sống như một nàng chinh phụ/ Trong không gian bất động tự lâu rồi/ Và thời gian chỉ còn là quá khứ/ Như dòng sông cạn nước, đã ngừng trôi/ Tôi một kẻ tù nhân tự nguyện/ Tống giam mình trong bảy mét vuông thôi/ Từ chối hết mây trời và gió biển/ Để chuyện trò cùng bốn bức tường vôi…”


Những thi sĩ đã trót mang trong mình một trái tim quá nhạy cảm, thì luôn là một người đơn độc. Ông không lý giải được điều này mà chỉ cảm nhận nó. Ông bảo: “Thế hệ tôi lớn lên đúng vào cuộc chiến tranh chống Mỹ. Với những người có khát khao viết lách thời ấy, không có con đường nào khác là viết về cuộc chiến đấu ấy. Tôi cũng vậy thôi. Không phải đợi đến lúc vào lính tôi mới ra chiến trường, ngay từ năm 1967, khi còn dạy học ở Thanh Hóa, tôi đã tham gia một trại viết và xin lên thực tế ở trận địa Hàm Rồng, đơn vị pháo ca xạ trên Cao điểm 54 ngay trên bờ Nam Hàm Rồng. Và đỉnh điểm của đời lính trận là trọn vẹn một năm lăn lộn ở chiến trường Quảng Trị, cái “đồi thịt băm” khủng khiếp…Còn sau đó là những đợt đi mặt trận với tư cách “oai” hơn, nhưng cũng cô độc hơn, với tư cách phóng viên chiến trường… Nhờ tư cách ấy, chúng tôi cùng lúc được tham gia vào cuộc chiến cả trên tư cách một người lính và tư cách một người viết. Điều này rất lý thú và bổ ích. Nhưng là một câu chuyện quá dài cho những năm tháng đã lùi xa. Giờ chỉ còn biết cảm nhận về nó như một mạch nguồn chảy vào huyết quản của mình. Có lúc nhìn lại, để thấy yêu hơn, đau hơn với nỗi đau của những phận người, phận mình và để trân trọng những giá trị đã trở thành bất tử”.


Nhà thơ Anh Ngọc là người quá nhiều xúc cảm. Điều này đã được nhà thơ Xuân Diệu phát hiện và ghi nhận trong cuộc thi thơ của năm 1972-1973 của Tuần báo Văn nghệ với chùm thơ “Cây xấu hổ”, “Mưa rơi trên mái tôn”. Xuân Diệu nói: “Người ta quý trọng anh (Anh Ngọc) vì trình độ tư tưởng của anh, nhưng người ta mến yêu anh vì cái lỗ tai nghe, cái con mắt nhìn, cái trái tim xúc động của anh… Anh là một thi sĩ”. Còn nhà thơ Anh Ngọc, nói về mình, ông tự diễu: “Thậm chí, tôi đã phải vào viện để thăm khám căn bệnh cường giao cảm, tức là luôn xúc động quá mức cần thiết. Và cả cuộc đời tôi luôn phải làm cái việc là hòa giải giữa hai cái “thằng tôi”, cả hai đều bướng bỉnh và lắm lúc cực đoan nữa”…Bạn hãy thử đặt cạnh nhau những bài thơ của cùng tác giả là tôi thì sẽ thấy tôi không chỉ có “4 mặt” mà là 40, 400… cũng nên… Chẳng hạn hãy xếp các nhan đề thơ không thôi nhé: Cây xấu hổ - Từ bục giảng đến chiến hào – Cao điểm – Sài Gòn đêm giao hưởng…. đến Vị tướng già, Thị Mầu, Bài thơ về chiếc mũ trắng, Gửi lại thời gian, Những con chim vành khuyên không tuổi (thơ văn xuôi), Trời Điện Biên mây trắng (“màu xương trắng đồi hoang”), Anh còn gì, Chạy trốn dưới gầm trời, Tuyệt vọng màu gì, Nhạc Trịnh, Dắt nhau đến trước Ông Trời và Buổi chiều nhân thế… Những bài ấy đã đi từ Thơ viết về cõi sống “giữa con người với nhau” đến Thơ viết về “Con ngời đứng trước Ông Trời”!!!... Bạn sẽ cố hiểu cái “thằng tôi” mà chính tôi nhiều khi cũng không hiểu nổi…


Bây giờ, bỏ lại phía sau tất cả sự gấp gáp, hối hả của một người luôn trăn trở trước nỗi buồn nhân thế và sự đấu tranh để nỗ lực thống nhất những khối mâu thuẫn ấy trong chính mình, nhà thơ Anh Ngọc biết sắp xếp để cuộc sống của mình dễ chịu hơn. Mỗi ngày, ông chỉ dành một tiếng đồng hồ để sống với thế giới thực, đó là lúc đi bộ ra đường tập thể dục cho cái đầu là chính, mỗi hôm đi một con đường khác nhau, ngồi một quán nước khác nhau, gặp những con người khác nhau, và ai trong số họ đối với ông, cũng đều đáng yêu và chứa đầy bí ẩn vô cùng. Thời gian còn lại ông dành cho niềm vui duy nhất của mình là lên mạng lướt web và thú chơi facebook. Ông khó có thể hình dung được, công nghệ internet lại có thể tuyệt vời đến thế. Nó mang ông đi khắp thế giới, đọc và biết không thiếu một chuyện gì và thậm chí, còn mang đến cho ông hàng ngàn người bạn, có thể chia sẻ mọi chuyện với nhau thông qua bàn phím. Ông như được làm một tờ báo nhỏ của riêng mình, ở đó, ông vừa là TBT, BTV, PV, vừa làm công vụ, vừa làm gác cổng…ông thoát khỏi tình trạng “văn chương tự cổ vô bằng cớ”, hoặc “trò chơi vô tăm tích” theo lời bà Phạm Thị Hoài. Ở đấy, ông có độc giả, có comment, có sự phản hồi ngay lập tức bất cứ khi nào. Ông yêu vô cùng cái thế giới ấy để được trút bỏ và chia sẻ, để được thú nhận những nỗi niềm đôi khi không biết tỏ cùng ai, đôi khi ông hạnh phúc nhận ra, đó là nơi cho ông được thả đầu óc lang thang như những chú ngựa không cương trên thảo nguyên mênh mông của những giấc mơ đầy lãng mạn”.  

 

Trần Hoàng Thiên Kim thực hiện

Nguồn: ANTG

 

Các bài khác:
· NGUYỄN TRỌNG TẠO - MỘT NGƯỜI THƠ LẺ LOI
· 'BÀI CA NGẤT NGƯỞNG' CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ-TỪ VĂN BẢN ĐẾN HƯỚNG TIẾP CẬN
· PHAN TUẤN ANH - GƯƠNG MẶT PHÊ BÌNH TRẺ, VÀ THƠ
· CHỊ NĂM LÊ GIANG
· ÂM NHẠC TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ
· CUNG GIŨ NGUYÊN - 1 CÂY BÚT VHVN VIẾT BẰNG PHÁP NGỮ
· NGUYỄN ANH NÔNG - NỒNG NÀN MỘT TIẾNG THƠ
· 'GƯƠNG MẶT LÚA' TRONG THƠ TRẦN HUY MINH PHƯƠNG
· ĐẰNG SAU CUỘC ĐỜI THĂNG TRẦM CỦA NHÀ VĂN THANH CHÂU
· CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NGHỊCH DỊ TRONG ĐÔN KIHÔTÊ
· THƠ NGUYỄN HOA - TỤ GOM THÀNH NHỊ VÀ LẶNG LẼ TỎA HƯƠNG
· BỨC TRANH CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI
· VÀI NÉT ĐẶC SẮC QUA SO SÁNH GIỮA HAI NHÂN VẬT THỊ NỞ VÀ THẢO
· TRANG THƠ TÁC GIẢ NỮ TP HỒ CHÍ MINH
· VĂN CHƯƠNG VÀ ĐÀN BÀ
· NGUYỄN TUÂN - ÔNG VUA TÙY BÚT THÍCH XÊ DỊCH VÀ GHÉT PHÊ BÌNH
· NƠI ĐẠI TƯỚNG YÊN NẰM
· MA - MỘT HÌNH TƯỢNG VĂN HỌC
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG - KỲ 16 ĐẾN HẾT
· TƯ LIỆU MỚI VỀ HÀN MẶC TỬ

 

  
Gia đình Bích Khê