DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGUYỄN ĐỨC SƠN - MỘT NHÀ THƠ KIỆT XUẤT

                                                                                                         Tâm Nhiên
 

Không biết từ đâu ta đến đây

Mang mang trời thẳm đất xanh dày

Lớn lên mang nghiệp làm thi sĩ

Sống điêu linh rồi chết đọa đày

Mấy câu thơ thời tuổi trẻ, lúc mới 23 tuổi ấy đã theo suốt cuộc đời Nguyễn Đức Sơn, một thi sĩ kiệt xuất trên bầu trời văn nghệ Việt Nam hiện đại. Rờn lạnh hoang vu một tâm hồn cô độc, cô liêu khốc liệt, luôn luôn ngún cháy bên trong chiều sâu linh thức một ngọn lửa tịch mịch vô hình, thường trực đứng giữa đôi bờ sống chết giữa đỉnh cao và hố thẳm của tồn sinh bức bách ngay từ những ngày còn chạy lông bông đùa rỡn cùng sóng vàng cát trắng vu vơ dọc mấy hàng cây thông xanh ngút ven bãi biển Ninh Chữ xa mù. Từ đó, từ thuở nhà thơ chào đời năm 1937 ở làng Dư Khánh, Thanh Hải, Ninh Thuận đến nay cũng hơn 70 năm trời đằng đẵng trôi qua rồi mà ngọn lửa tịch mịch đó vẫn còn hừng hực rực ngời như một ngọn lửa thiêng trong lòng người thi sĩ dị thường :

Tôi chỉ có lửa

Và tịch mịch

Trong người

Lửa thơ, lửa mộng, lửa tình yêu, lửa nghệ thuật hay lửa sáng tạo ấy bao giờ cũng được thi sĩ đốt lên trên dặm ngàn cuộc lữ thênh thang. Năm 1957 lúc 20 tuổi, rời làng quê Dư Khánh, tạm biệt thị xã Phan Rang ra phố biển Nha Trang theo học trường Trung học Võ Tánh một thời gian, nhà thơ thường trốn học rong chơi lêu lổng ven bờ biển với những ý tưởng mông lung vời vợi, chơi đùa chạy đuổi bắt những vệt nắng xanh vàng rơi tan trong bọt sóng bồng bềnh lênh láng mộng rong rêu :

Nhiều khi đợi nắng chiều tan

Tôi mông lung nghĩ theo làn mây trôi

Ngày kia nếu ở trên đời

Cha tôi không cưới mẹ tôi bây giờ

Sinh ra tôi có làm thơ

Để điêu linh vẫn như chờ riêng thôi

Những đêm sao sáng đầy trời

Bỗng nhiên tôi khóc trên đồi hư không

“Sinh ra tôi có làm thơ” vì không biết làm chi hơn là làm thơ, làm một cái công việc mà chỉ có những tâm hồn vô cùng nhạy cảm, thường xuyên có sự giao cảm âm thầm thâm sâu uyên viễn với nhật nguyệt thiên địa càn khôn, với hồn thiên cổ xa xăm diệu vời mới thích thú đam mê  theo công việc duy nhất của đời mình, ấy là cái việc làm thơ làm thẩn đó thôi. Nói như Tuệ Sỹ khi viết về Sơn Núi : “Sinh ra để làm thơ, đó là Định mệnh ?” hay như Phạm Công Thiện, một người bạn thân thiết ngày xưa với Nguyễn Đức Sơn cũng nói : “Làm thơ là hố thẳm xoáy tròn vào cơn bão tố rùng rợn của thơ và chỉ nhìn thấy thơ trên trời, thơ ở dưới đất, thơ trong tim, thơ trong óc não, thơ trong mạch máu, thơ trong hơi thở, thơ trong đời sống, thơ trong cái chết, thơ trong hiện thể, thơ trong vô thể, thơ trong hư vô… Chỉ có thi sĩ mới sống tận bản thân mình, sống phóng tới đằng trước tất cả những khả tính sắp hiện của dân tộc mình.”*

Đích thực Nguyễn Đức Sơn là một thi sĩ kỳ tuyệt, một nhà thơ mà  hồn thơ luôn tuôn trào trong huyết quản rạt rào vô hạn. Chàng “lớn lên mang nghiệp làm thi sĩ” nên đi đứng ngó nhìn bất cứ sự vật trần cảnh, lạnh nóng cao thấp, trời xanh mây trắng, con người con vật chi chi cũng đều thấy thơ và thơ bàng bạc thấp thoáng, ẩn hiện lung linh, rạo rực xao xuyến ở trong máu trong hồn như vậy, khiến cho ý tình rung lên bổi hổi dâng đầy. Tuy thấy được vẻ đẹp cực kỳ của tạo vật đất trời nhưng đồng thời cũng ý thức tận tường cái hư ảo mong manh của cuộc sống, như một lần nhà thơ thổ lộ ở trang bìa trong tập thơ Đêm nguyệt động : “Một buổi chiều trốn học lang thang trên bờ biển Nha Trang thời niên thiếu, tác giả suýt nổi cơn điên khi trực nhận mãnh liệt cái quá ư ngắn ngủi của kiếp sống và từ đó đâm ra khật khùng cho đến nay.” Vậy đó, ngó nhìn đâu cũng rung động cũng thấy đẹp tuyệt vời, nhưng đẹp tựa ánh chớp như bọt nước sương rơi :

Tôi bỗng thấy mạch đời bừng chảy

Như nhựa xuân tràn lên đầu cành

Rồi tôi thấy mạch đời đang chảy

Ở trong tôi mà sao mong manh

Ý thức tức thì cái mong manh thoáng chốc của bọt nước, cái phù du hư huyễn vô thường  của cuộc đời, cái lênh đênh trôi dạt của thân phận kiếp người giữa cuộc phù sinh dâu biển như thế, nhà thơ chợt thấy bùng vỡ ra một điều chi vi diệu như triết gia Nietzsche thấy thượng đế đã chết rồi, nghĩa là không có thực, chỉ còn đây trên mặt đất là sự có mặt đương nhiên của con người và nhà thơ tự hỏi, tự khai phá về sự hiện hữu của con người, về lẽ sống chết, về lý âm dương tự nhiên của tạo hóa. Tất cả sự hiện hữu này có ý nghĩa chi không hay chẳng có nghĩa lý gì cả hỡi trời mây vạn đại thái cổ từ thuở hồng hoang nào lạc dấu mộng sơ nguyên ? :

Lênh đênh thuyền dạt xa miền

Nửa đêm bừng tỉnh man thiên một trời

Trông lên thượng đế đi rồi

Hỏi mây thái cổ con người vân vi

Lối mòn cỏ mọc xanh rì

Ngoài ra kìa chẳng có gì nữa sao

Đảo buồn thổi gió lao xao

Ngàn xưa còn tiếng thì thào biển khuya

Biển tàn khuya gõ nhịp đi về nhưng biết về đâu giữa khuya dài lê thê trong đêm tối đen ngòm mịt mù u ám của nhân loại ? Vai gầy nghiêng nghiêng lệch gót chân xiêu vẹo bước theo bóng mình xơ xác qua vạn nhịp cầu ảo dị suy tư. Tuổi còn thanh xuân mà cứ tưởng tượng đến ngày mái đầu bạc phơ tóc trắng, chẳng hề gì vì đường thơ vẫn còn liều lĩnh dấn thân nhập cuộc, cho dù cũng lắm lắm hiu hắt tàn xiêu :

Biển hoang cồn lạnh tiếp chiều

Đá trơ với đá tôi liều với thơ

Áo quần hai bộ xác xơ

Quạnh hiu dù đến bạc phơ mái đầu

Nẻo xa chưa thấy nhiệm mầu

Chân còn bước vạn nhịp cầu suy tư

Suy tư, trầm tư, uyên tư là sống triết lý. Sống triết lý là sống cố ý, chú tâm triệt để vào một vấn đề nào đó như thiền sư nhiếp tâm miên mật vào công án tử sinh của đời mình. Giữa chợ đời đông đảo náo nhiệt, bắt buộc người ta phải biết suy ngẫm trầm tư để phân biệt đúng sai, phải quấy này nọ, nhưng khi đứng trước đại dương mênh mông rộng rãi bát ngát bao la thì điều đó không còn cần thiết nữa. Cứ thoải mái tha hồ vô tư với từng hơi thở, mở toang từng buồng tim thớ phổi ra mà thở cho thật nhẹ nhàng sảng khoái thẳm sâu :

Đầu tiên tôi thở cái phào

Bao nhiêu phiền não như trào ra theo

Nín hơi tôi thở cái phèo

Bao nhiêu mộng ảo bay vèo hư không

Sướng nên tôi thở phập phồng

Mây bay gió thổi trời hồng muôn năm

Mai sau này chỗ tôi nằm

Sao rơi lạnh lẽo âm thầm biển ru

Thiền sư Nhất Hạnh suốt bình sinh du hóa khắp nơi trên thế giới cũng chỉ xiển dương cái sự việc thở ra thở vào một cách vững chãi thảnh thơi như vậy mà thôi. Biển sóng ru êm ái rào rạt như tiếng nhạc mơ hồ xào xạc từ xa xôi đồng vọng lại, nghe dạt dào xao động như cung đàn Mozart, Chopin, Beethoven… Nắng chiều tà nhòa nhạt dần dần buông nhẹ xuống bóng hoàng hôn lãng đãng phất phiêu bay giữa ngàn trăng thanh gió mát, làm sao mà không nổi hứng bỡn cợt rỡn đùa với nàng thơ diễm kiều lãng mạn phiêu diêu :

Chiều êm hơn cả gió lùa

Tôi ra cuối bãi tôi đùa với trăng

Tay choàng lên với môi hằn

Tôi mơn gió lả tôi măn vú đồi

Có hương có nhạc trên trời

Tóc tôi se gió mắt ngời ánh sao

Rạo rực nao nức những đêm trăng huyền hòa tỏa ngan ngát hương biển trời mới lạ Nha Trang, những chiều vàng thanh xuân long lanh lấp lánh bao mộng đời ơi chao xao xuyến miên man một niềm chi không biết không không biết :

Biển chiều còn lại mình tôi

Đuổi theo mây bạc giữa trời bao la

Thủy triều chợt rút ra xa

Bóng thanh xuân rụng ác tà sau lưng

Sau lưng bỏ lại dấu thanh xuân khuất bóng, khi thi sĩ quyết định dời gót lên đường viễn phương hành vào phố thị Sài Gòn, tiếp tục chuyện sách vở học hành ở Đại học Văn Khoa, nhưng bất ngờ trở chứng, tính khinh bạc ngông cuồng bộc phát đột ngột, mới học vài ba năm chưa tốt nghiệp thì đùng một cái chàng bỏ ngang dang dở nửa chừng, để lạnh lùng đứng dậy quay về thế giới độc đạo riêng mình. Tịch nhiên trầm lặng đối mặt với nỗi cô đơn rờn lạnh quạnh hiu, với nỗi sầu vạn đại như thi sĩ Huy Cận : “Một chiếc linh hồn nhỏ. Mang mang thiên cổ sầu.” Sầu thiên cổ mang mang quằn quại ngay từ lúc còn trốn học lêu lổng rong chơi :

Tôi dòm đời khi tuổi sắp hai mươi

Nhìn trước nhìn sau thấy rõ ràng

Những người đi trước sầu đeo nặng

Những người đi sau sầu không tan

 

Tôi dòm đời khi tuổi sắp hai mươi

Thấy hay hay nhưng làm sao cười

Như chuyện lớn lên rồi có vợ

Cuối đời về đất lạnh nằm xuôi

 

Ngập ngừng chân bước con đường vắng

Mây trắng bay lên òa đất trời

Tôi cúi đầu nghe mình nhỏ lệ

Biết chuyện gì rồi cũng buồn thôi

Người thi sĩ ứa lệ  không phải vì xót thương cho thân phận của mình mà thực ra là chạnh lòng trắc ẩn trước sự mong manh mỏng mảnh, bèo bọt thoáng chốc quá ư là nhỏ bé phù du của kiếp nhân sinh giữa trời đất vũ trụ bao la như nhà thơ Trần Tử Ngang một lần kia tình cờ đi ngang qua nghĩa địa thấy hàng trăm nấm mộ ven đường mà bàng hoàng cảm thán xót xa :

“Ai người trước đã qua

 Ai người sau chưa tới

 Nghĩ trời đất vô cùng

 Một mình tuôn giọt lệ”

Giọt lệ thi nhân nhỏ xuống nấm mồ nhân thế có ý nghĩa gì trên cuộc về của chúng ta ? Cuộc đi hay cuộc về là một cách nói cho văn vẻ có đầu có đuôi, chứ thực ra chẳng có cuộc nào cả ngoài cuộc sống đang diễn ra hàng ngày ở ngay trước mắt sờ sờ, ngay trong từng hơi thở ra vào sinh động đây thôi. Cuộc sống thực tế, thực tại hiện tiền ngay đây trên mặt đất này là đã đủ đầy hoan lạc, vô cùng hạnh phúc rồi, đừng có ngu xuẩn vọng tưởng mong cầu một thế giới nào khác ở đâu đó trên trời với cảnh thiên đàng, cực lạc huyễn hoặc mơ hồ. Bao thần thánh, thần linh, thượng đế tối thượng chưa bao giờ hiện hữu có thực, chỉ là do những đầu óc mê vọng tưởng tượng bày vẽ ra đó thôi. Hãy để cho chúng chết đi, tự rơi rụng cho rồi. Với thi nhân, sống thì phải sống mãnh liệt, dốc hết sức bình sinh ra mà sống một lần cho thấu triệt thiên thu, siêu thần bạt thánh, cho nên hãy vận dụng thập thành công lực, đứng bật dậy nhảy múa hát ca sôi nổi nhập cuộc tuôn trào lai láng theo mạch đời trôi chảy đầy mới lạ mới mẻ đầy đam mê xuất thần  say sưa ngây ngất :

Hãy đốt đuốc hằng đêm trên trái đất

Cho núi rừng và biển thẳm lung linh

Các em làm sáng rực cả vô minh

Để anh có một nguồn vui bất tuyệt

 

Hãy đọc kỹ hồn anh trong bóng nguyệt

Các em vừa mười bốn với mười lăm

Bài học gần nhưng cũng rất xa xăm

Các em hãy bắt đầu yêu bụi cát

 

Bởi trái đất là niềm kiêu hãnh nhất

Dù xe đời lăn hố thẳm ngửa nghiêng

Đã chết rồi bao ngưỡng vọng thiêng liêng

Dù khuya vắng trời muôn sao lấp lánh

 

Chúng đã dựng lên bao nhiêu thần thánh

Ung thúi rồi dưỡng chất của chiêm bao

Đêm mới về niềm hoan lạc xôn xao

Ta đốt đuốc chạy dài trên trái đất

Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất là bước đi  muôn chiều tiêu dao của thi sĩ thiên tài Phạm Công Thiện, còn Nguyễn Đức Sơn nhà thơ xuất chúng thì đốt đuốc lên chạy dài trên trái đất thênh thang. Đi thong dong hay chạy rộn ràng cũng cùng một thể điệu phiêu bồng chuếnh choáng, hân hoan tiếp diễn lồng lộng không ngừng :

Một đêm sao ở trên rừng

Đua nhau rụng xuống chào mừng nhân gian

Hồn tôi cây cối liên hoan

Rưng rưng tôi thấy trăm ngàn ước mơ

Tuổi vàng suối mộng trời thơ

Lớn lên tôi chết trên bờ hư không

Sống rạt rào hào hứng cho đã cái đời chơi ngông bồng bềnh nghệ sĩ rồi bất thình lình nỗi chết hiện về ám ảnh khôn nguôi, khiến chàng thi sĩ thượng thừa như thế cũng ngậm ngùi cay đắng, chẳng biết làm sao hơn là ngắm mây trôi trước niềm đau khổ thống thiết chợt xảy đến trong đời :

Một ngày đau khổ chín trong tôi

Tôi đến bên cây lẳng lặng ngồi

Cây thả trái sầu trên nước lắng

Mặt hồ tan vỡ ánh sao trôi

 

Thôi nhé ngàn năm em đi qua

Hồn tôi cô tịch bóng trăng tà

Trời sinh ra để chiều hôm đó

Tôi thấy mây rừng bay rất xa

Mây bay nước chảy, gió cuốn sương rơi là sự tuần hoàn tự nhiên của tạo vật muôn đời, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói cứ để gió cuốn đi hết những mối tình thơ mộng như dòng sông trôi cuốn phù sa ra biển cả muôn trùng. Chúng ta chỉ cần chứng kiến sự luân lưu trôi chảy là đủ rồi, biết thưởng thức vẻ đẹp luôn luôn thay đổi bởi muôn đời sự đổi thay biến chuyển là chân lý hiển nhiên. Ý thức trục tiếp được điều đơn giản đó, thi nhân chấp nhận sự thật và can đảm lẫm liệt thổi bừng lên ngọn lửa tim hồn đốt cháy, thiêu rụi cả thành vách bịt bùng khủng khiếp của hư vô để hiển lộ ra cái tinh túy tinh hoa, ngay trong sự đổ vỡ dở dang vẫn còn đó vầng trăng bát ngát, vầng trăng tâm linh xanh biếc thiên thu là nguồn cảm hứng sáng tạo vô cùng đắm đuối của bậc tài hoa thi sĩ :

Khi ý thức mặt đất này dang dở

Ta vội chìm trong bóng nguyệt mang mang

Khi chấp nhận ngàn lần trong đổ vỡ

Ta một hồn đắm đuối giữa tan hoang

Phản kháng, nổi loạn là cá tính vốn có sẵn trong dòng máu nhiệt liệt của nhà thơ luôn luôn tìm tòi mới lạ, khát khao tuyệt đối, khao khát tự do từ thời còn nhỏ tuổi, vì ý thức trực cảm trước sự đổ nát tan hoang  trên mặt đất trần gian mà chàng lao đầu húc vào mọi thứ như muốn thách thức những thế lục vô hình cho nguôi đi ý niềm bổi hổi sục sôi :

Tôi dừng lại giữa năm mười sáu tuổi

Một sớm hồng nghe nắng rụng tan hoang

Tôi nằm xuống phập phồng hai lá phổi

Sao mạch đời đang chảy bỗng khô ran

 

Đau nhức quá trong tôi niềm tuyệt đối

Nên cởi quần chạy giữa đám vi lô

Tôi động cỡn nhảy kè bên khe núi

Rồi ôm đầu lao thẳng xuống hư vô

Hư vô, hiện sinh, tình yêu, tính dục là những vấn đề cháy bỏng nóng hổi mà tuổi trẻ rất băn khoăn, thắc mắc và nhà thơ trải lòng ra mà chia sẻ một cách tâm huyết rằng, các em hãy mạnh mẽ hùng tráng mỉm cười đứng lên, tự nhận trách nhiệm với chính mình, mãnh liệt hiên ngang sống tự do, tự giải thoát mình ra khỏi những bóng ma thượng đế thánh thần vớ vẩn đang trú ẩn đâu đó ở trên cao vô tăm tích kia, hãy kiêu hùng dũng khí lao đầu vào con đường không lộ, vô mục đích với tư thế tự tin tự lực, vững mạnh vững vàng :

Các em hãy đi tuần quanh trái đất

Ôi tuổi vàng mười sáu với mười lăm

Phải hoàn thành sứ mệnh một trăm năm

Trước khi biến tan vào trong bụi cát

 

Nắm tay cất đại đồng ca bát ngát

Ở trên đầu thần thánh với âm binh

Mấy ngàn năm nguồn cội của điêu linh

Chúng lảm nhảm an toàn sau bí tích

 

Kiêu dũng nhất là con đường không đích

Ta cắm đầu lao thẳng tới hư vô

Ôi mộng đời cháy sém cỏ cây khô

Trăng thế kỷ rừng Đông phương tỏa chiếu

Phiêu bạt lang thang khắp vùng Phan Rang, Nha Trang ngút ngàn Đơn Dương, Đà Lạt, lưu linh lạc địa xuống miền Bảo Lộc, Bình Dương rồi Biên Hòa, Sài Gòn… Cuộc lữ phiêu hốt những nẻo đời gian nan bão bùng lốc xoáy, xoay xuở đủ đường trước bao nhiêu chuyện đa đoan thúc bách trăm chiều, tự đẩy mình vào những chốn khốn cùng túng quẩn nhất. Có lần bị bắt giam vào nhà lao vì trốn quân dịch, không chịu đi lính ra chiến trường bắn giết đồng loại. Nằm co ro tê tái trong trại giam chật chội ngột ngạt giữa trưa nồng oi bức, bưng chén cơm tù lên thi nhân vẫn trân trọng sự sống, cảm tạ đất trời vô lượng bao dung :

Mỗi ngày cúi xuống hạt cơm

Anh nghe thấm một mùi thơm lạ lùng

Cắn đôi hạt muối thường dùng

Biết ơn trời đất vô cùng em ơi !

Trăm năm ta sống một đời

Ngàn năm gởi lại chút lời thở than

Ai đã từng lâm vào cái cảnh tù ngục đọa đày thì mới thấy thật là kinh rợn khủng khiếp như thân thể bị ghẻ lở tróc da đầy mình, bệnh tật bệnh hoạn không thuốc thang, nằm bầm dập não nề thê thảm, chẳng có một người nào chăm sóc thì bất cứ ai ai cũng cảm thấy xót thân tủi phận, căm hờn phẫn nộ bọn cầm quyền độc tài tàn bạo, thế nhưng ở đây, thái độ ứng xử lại trái ngược hoàn toàn, chàng thi sĩ bị đọa đày nhốt trong tù như thế mà không oán giận, vẫn thản nhiên điềm nhiên bày tỏ những lời tri ân chân thành cảm ơn nhà tù, cảm ơn tật bệnh ghẻ lở, cảm tạ sự tăm tối vô minh :

Cảm ơn ghẻ mọc đầy mình

Cảm ơn bệnh hoạn chung tình với ta

Cám ơn dái tróc đầy da

Cảm ơn tù dẫn tôi ra khỏi đời

Cảm ơn tất cả xa rồi

Hôm nay tôi thấy tôi ngồi bên tôi

Cảm tạ tất cả sự nghiệt ngã của cuộc đời vì nhờ đó mà nhà thơ mới có cơ hội đối mặt với bản thân, thấy lại cái mặt mũi xưa nay của chính mình. Ơi chao ! Thật là một cái nhìn sáng tạo tân kỳ, chỉ có những bậc siêu việt mới thấy được như thế, biểu lộ một tâm hồn thi nhân thượng đẳng hoằng đại, vì đối với một tâm hồn thượng đẳng hoằng đại thì dù họ có sống ở đâu, ngay cả trong ngục tù tối tăm đi chăng nữa, họ cũng chuyển thành một dịp may hy hữu vẫn thấy xiết bao nguồn cảm hứng sáng tạo như thi hào Rainer Maria Rilke phát biểu : “Nếu đời sống thường nhật trở nên nhạt nhẽo nghèo nàn đối với mi thì mi đừng bao giờ oán trách nó. Mi hãy tự trách chính mi rằng mi không đủ tâm hồn thi nhân để mà có thể gợi dậy trong lòng mình tất cả sự phong phú miên man của đời sống thường nhật. Vì đối với một con người sáng tạo thì chẳng có gì nhạt nhẽo nghèo nàn, chẳng có một nơi chốn nào là khô khan lãnh đạm, dù ngay lúc mi đang ở trong nhà tù đi nữa, giữa những vách tường bưng bít, không để lọt vào những tiếng động của thế gian. Phải chăng ngay lúc đó trong lòng mi vẫn luôn luôn còn lại tuổi thơ, kho tàng quý báu, chứa chất bao nhiêu kỷ niệm tuyệt vời ? Hãy hướng tất cả tâm tư mi vào đó… Dọ dẫm tận đáy lòng sâu thẳm mà từ đó đời sống mi đã phát nguồn luân lưu trôi chảy…Bởi vì một nghệ sĩ sáng tạo bao giờ cũng có một vũ trụ cho riêng mình, phải tìm tất cả mọi sự ngay trong tâm hồn sâu thẳm của chính mình đây thôi.”**

Với tâm hồn thi nhân bát ngát vô cùng phong phú, Sơn Núi nhào lộn vào cuộc tồn sinh, giáp mặt trăm bề nghìn phía, từng băng qua lội nát mọi chân trời triết lý Đông Tây kim cổ, ngưỡng mộ triết gia Héraclite, tôn sùng đại văn hào Dostoevsky và nhất là thưởng thức những hương ngàn cỏ nội, kỳ hoa dị thảo của thục nữ mười phương như có lần thi sĩ bày tỏ rõ ràng : “Ngưỡng mộ Héraclite, Dostoevsky và Simone Weil. Yêu chim chóc và cỏ cây một cách lạ lùng nhưng cũng quá cần ngửi mùi quần áo lót của đàn bà và con gái, cần khẩn thiết và triền miên cho tới ngày chui xuống lỗ…”*** Chao ơi ! Mới nghe nhà thơ nói thật lòng thật dạ một cách thiệt tình không giấu giếm như thế khiến ai cũng phải bật cười thú vị. Vì dường như hầu hết thiên hạ người đời trên cõi ta bà tục lụy này đều thích làm chuyện ấy mà chẳng dám nói ra đó thôi. Họ mắc cỡ, cố làm ra vẻ đạo mạo nghiêm trang, điệu bộ mẫu mực chững chạc đàng hoàng  nhưng bên trong lòng dạ thì bị ức chế điều đó lắm, vẫn ham muốn thèm khát âm thầm. Nhằm khai mở những ức chế không đáng có đó, thi nhân vén lên tấm màn che đậy để hiện bày ra sự thật trần truồng qua cách nhìn nghệ thuật mỹ cảm hiện sinh tinh tế, bằng sự rung động bồng bềnh cảm khoái, ly kỳ gay cấn rất mực hài hước lai rai  :

Trên rừng ấy một mình anh hái trái

Đang mơ màng trông thấy quá nhiều chim

Bên mương vắng em vén quần sắp đái

Anh thấy càn khôn rụng xuống trong tim

 

Anh sẽ đến bất ngờ ai biết trước

Miệng khô rồi nẻo cực lạc xa xôi

Ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người

Em chưa đái mà hồn anh đã ướt

 

Không biết trong mơ em còn mắc cỡ

Một đêm vàng rúng động giấc thanh tân

Dưới chăn chiếu thiên nhai lồ lộ mở

Em đái dầm ướt sẫm cả trần gian

 

Giữa khuya đó em bàng hoàng tỉnh dậy

Cả mặt hồ tràn ngập ánh sao băng

Khắp trong người em máu nóng đang căng

Xao xuyến quá em tuột quần xuống đái

 

Bắt đầu thở là bắt đầu hạnh phúc

Không bao giờ anh nói dối em đâu

Ôi bất động ngàn năm thân gỗ mục

Cửa tồn sinh em hãy mở cho lâu

Chúng ta ra đời nhờ cửa tồn sinh kỳ diệu đó, cái cửa mình của người phụ nữ mà Mật Tông Tây Tạng ví như đóa hoa sen thơm ngát mọc lên từ đáy ao hồ đầy bùn lầy nhầy nhụa làm tỏa hương thanh khiết cho đất trời. Hương đời cát bụi ấy, thi nhân tha hồ thưởng thức rực nồng hơi ấm âm dương hòa quyện giữa nhật nguyệt phập phồng hoan lạc lâng lâng :

Đây lứa cỏ của mùa trăng thứ nhất

Đưa anh vào trong cõi mộng xa xăm

Giọt tinh huyết ngàn năm sau chưa mất

Rừng đông phương mù mịt dấu em nằm

 

Thở hổn hển là bắt đầu sướng nhất

Cỏ cây nằm im bẹp giữa hôn mê

Giường tre cũng rung rinh như trái đất

Nên suốt đời tôi thích ở nhà quê  

Thà ở nhà quê thà làm thằng chăn trâu mộc mạc hoang dã còn hơn là chễm chệ phì nộm nặng nề ngồi bệ vệ trên ghế nệm sa lông trong tường cao cổng kín phòng máy lạnh, bày đặt huênh hoang hội thảo quốc gia này đến hội thảo quốc tế nọ để luận bàn về chiến tranh hay hòa bình, tình yêu hay tính dục, duy tâm hay duy vật, Phật hay ma, tà hay chánh, thánh hay phàm, thiện hay ác, hữu hay vô…  bất tận không ngừng :

Luận về không hay có

Đâu bằng nhìn cái mồng của em

Sắp ló

Có lẽ xưa nay chưa từng có ai trên thế giới phát hiện ra một chân lý đơn sơ giản dị mà khổng lồ như Sơn Núi đã phát hiện độc đáo :

Mộ

Một nấm

Hai nấm

Chỉ cần sáu từ ngắn gọn thôi, thi nhân đã lột tả toàn diện, nói lên được toàn thể sự sống và sự chết muôn đời của kiếp nhân sinh trên quả địa cầu tròn  đang quay lông lốc giữa không gian.

Chàng thi sĩ xuất hiện trên diễn đàn văn nghệ như một hiện tượng lạ, một quái kiệt, có cách ăn nói đặc dị quá dỗi lạ lùng bộc trực, khinh bạc khác thường, bằng cái giọng ngang tàng quyết liệt, gây ấn tượng nổi bật vì chuyên gây hấn, tấn công những bọn côn đồ sắt máu, bọn người ngợm đội lốt tôn giáo, văn nghệ để làm những chuyện xằng bậy, gian trá quỷ quyệt, lợi dụng rủ rê mê tín, bắt người ta thờ lạy đấng thượng đế tối cao, bậc thần thánh  tối hậu ở đâu xa lắc trên trời, gieo rắc bao nhiêu nỗi sợ hãi cho rất nhiều người nhẹ dạ. Làm gì có những cảnh giới thiên đường, tây phương cực lạc ở trên đó. Có lần bất nhẫn, điên tiết lên chàng la hét thật to :

Tôi định một ngày nào đó

Thật thảnh thơi

Leo lên trời

Ỉa

Chán ngấy muốn lộn mửa cái cảnh ngoài miệng thì nói bô bô đủ thứ chuyện thiện lành thánh thiện, bác ái vị tha, lương tâm đạo đức nhưng bên trong tâm địa thì hắc ám đầy hiểm ác gian manh kiểu Hoạn Thư : “Mặt ngoài thơn thớt nói cười. Mà trong nham hiểm giết người không dao.” Ngao ngán loại người ngụy quân tử như Nhạc Bất Quần nói một đường làm một ngã, chuyên môn lừa đảo tinh vi quỷ quái vẫn còn hoạt động rộn ràng phát huy môn phái, mở rộng nhà ma cửa quỷ, hoằng dương tà pháp loạn xà ngầu bát nháo lao xao  :

Người ta giấu đạo

Trong hũ gạo

Trời ơi !

Đó là một sự thật cay đắng, bất đắc dĩ thi sĩ phải nói ra, khiến cho bọn đạo đức giả tức hộc máu, không biết làm chi hơn gán ghép chàng là kẻ phá hoại, báng bổ thần thánh, tên du côn hoang đàng ngạo mạn. Chúng không biết rằng, trong thơ văn chàng trái lại, chứa chan tràn đầy tính chất trữ tình lãng mạn, ăm ắp niềm yêu mến thiên nhiên, yêu thương nhân loại, mở ra bầu không khí tự do hít thở, bằng cái giọng tân kỳ mới lạ quá đỗi đặc biệt quyến rũ một cách bất ngờ.  Cái giọng thơ phiêu bồng độc đáo vô song, độc nhất vô nhị. Thơ văn chàng bắt đầu đăng tải nhiều trên các tạp chí Thế Kỷ Hai Mươi, Khởi Hành, Bách Khoa, Sáng Tạo, Thời Tập, Thời Nay, Trình Bày, Đối Diện, Mai, Văn, Văn Nghệ…

Thời kỳ đó là vào khoảng năm 1961 đến 1975 sinh hoạt văn nghệ Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đang chuyển mình thăng hoa huy hoàng, phát triển rầm rộ về mọi mặt. Hàng ngàn tác phẩm thơ văn, nhạc họa, dịch thuật đủ thể loại kim cổ Đông Tây thi nhau xuất bản, ấn hành mạnh mẽ. Nổi bật nhất là các khuôn mặt Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nhất Hạnh, Nguyễn Đức Sơn, Tuệ Sỹ, Phạm Thiên Thư, Hoài Khanh, Thạch Trung Giả, Như Hạnh, Vũ Hoàng Chương, Trúc Thiên, Nguyễn Duy Cần, Tam Ích, Nguyễn Đăng Thục, Quách Tấn, Ngô Trọng Anh, Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Võ Hồng, Bình Nguyên Lộc, Giản Chi, Nghiêm Xuân Hồng, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Hồ Thành Đức, Đinh Cường, Lê Thánh Thư, Thi Vũ, Trần Xuân Kiêm, Kim Tuấn, Trần Tuấn Kiệt, Huy Tưởng, Nguyễn Tất Nhiên, Luân Hoán, Doãn Quốc Sỹ, Mường Mán, Hoàng Trúc Ly, Mai Thảo, Trần Phong Giao, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Nguyễn Hữu Hiệu, Võ Phiến, Tô Thùy Yên, Bửu Ý, Nguyễn Đình Toàn, Hoàng Lộc, Phan Nhật Nam, Quách Thoại, Trần Dạ Từ, Chu Tử, Vũ Hữu Định, Linh Phương, Cung Trầm Tưởng, Phổ Đức, Dương Nghiễm Mậu, Thành Tôn, Đặng Tấn Tới, Nhật Tiến, Nguyễn Bắc Sơn, Tạ Ký, Du Tử Lê, Thế Phong, Hạc Thành Hoa, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Trần Thị Tuệ Mai, Phùng Khánh tức Thích Nữ Trí Hải…

Năm 1965 Tạp chí sáng tác văn nghệ Mặt Đất do Nguyễn Đức Sơn chủ trương ra đời, lồng lộng phóng khoáng một luồng gió mới lạ thổi qua mặt đất  gây nên một trận bão hào hứng xôn xao trong giới văn nghệ sĩ, nhưng chỉ ấn hành được dăm bảy số rồi nghỉ vì nhiều lý do ngoài ý muốn. Buồn bã không còn đất dụng võ, tung hoành ngang dọc trên mặt trận văn chương nữa, thi sĩ buông mình xuống dòng đời trôi lênh đênh như nhánh rong phiêu bạt qua những gập ghềnh suối thác miên man sáng tạo trong cô đơn cố hữu thầm thì :

Mang mang trời đất tôi đi

Rừng im suối lạnh thấy gì tịch liêu

Tôi về lắng cả buổi chiều

Nghe chim ăn trái rụng đều như kinh

Còn một mình hỏi một mình

Có chăng hồn với dáng hình là hai

Từng trưa nằm nghĩ đất dài

Phiêu phiêu nhẹ cái hình hài bay lên

Mù sương âm vọng tiếng huyền

Có con dơi lạ bay trên cõi đời

Sau xưa mắt đã ngợp rồi

Tôi nghe tôi chết giữa trời thinh không

Sống và chết cùng song hành đi chênh vênh bên vực thẳm tồn sinh. Thấm thía rợn cả người trước sự tàn bạo, vô nhân đạo của cuộc chiến tranh tương tàn tương sát đang diễn ra khốc liệt trên khắp quê hương Việt Nam, nhà thơ tìm đủ mọi cách để không bị nhà cầm quyền bắt đi lính ra chiến trường nên thường tá túc trong các chùa chiền liêu vắng hay các xóm nhà lá tồi tàn xơ xác. Giang hồ bạt mạng lên rừng xuống biển, xuôi ngược trăm miền rồi mệt mỏi tấp về Bình Dương dạy học tiếng Anh ở mấy trường tư thục Bồ Đề vào năm 1967. Thời gian ở đây, bất ngờ kỳ ngộ nàng thơ Nguyễn Thị Phượng trong chùa Tây Tạng, một tiên nữ giáng trần diễm tuyệt khiến cho chàng thi sĩ rúng động cả thần hồn, rồi xuất cốt thành tác phẩm Đêm nguyệt động đầy chất thơ mộng, gồm 17 bài thơ để đánh dấu năm 17 tuổi của người tình vĩnh cửu yểu điệu dáng thơ gầy thục nữ đoan trang :

Năm mười sáu em bắt đầu thấy rát

Khắp trong người rờn rợn máu đang căng

Hồn hoa đã động tình đêm thứ nhất

Em đến nằm phơi mộng giữa vườn trăng

 

Trong bóng lá anh thấy mình chết điếng

Cả xác thần rời rụng bãi cô liêu

Từ dạo đó anh đâm ra lười biếng

Bởi mộng đời còn lại có bao nhiêu

 

Anh chưa nắm tay em mà muốn chết

Trong khu rừng huyền hoặc của chiêm bao

Ôi hạnh phúc mong manh như sắp hết

Giữa đêm nào trăng thở quá xôn xao

 

Anh quỳ xuống dưới vòm trời khao khát

Dù thật lòng em chưa muốn cho xem

Đời anh đó đâu lớn bằng hạt cát

Đã vô tình vương dưới gót chân em

Em về em hiện, em đến như tiếng sét ái tình làm bùng vỡ tâm thức rực ngời lửa âm dương cháy đỏ, cho nên đám cưới được tổ chức tức thì ở ngay trong chùa Tây Tạng, lúc chàng vừa đúng 30 tuổi. Buổi tiệc chay đám cưới đó, có thi sĩ Phạm Công Thiện, Nguyễn Miên Thảo, nhà văn Bửu Ý và Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tham dự. Từ đó đến nay Sơn Núi vẫn tiếp tục ăn chay trường vì một lý do dễ hiểu là thương yêu những con chim, con cá, những con gà, con vịt, con hươu, con nai, con heo, con chó, con bò, con trâu…Không nỡ lòng nào ăn tươi nuốt sống, cắt cổ uống máu các loài động vật thân thiết ấy được nữa. Dạy học ê a cho qua ngày tháng trốn quân dịch, nhờ tình yêu dịu dàng chớm nở thành một tổ ấm thâm thiết mặn nồng nên nhà thơ cũng phúc hạnh rưng rưng :

Những chiều sẫm tối anh về

Em ra lớp học đi kề vai anh

Một thân áo cánh mong manh

Hôn nhau lệ nhỏ trung thành cho nhau

Cầm tay ta bước đi mau

Hình như bố ráp đằng sau xóm này

Nhìn nhau bụng trống một ngày

Mà sao hạnh phúc giăng đầy nhà thôi

Nửa khuya sao chiếu đầy trời

Ở trong thiên cổ anh ngồi bên em

Em ơi em hỡi nàng thơ thùy mị, em đẹp chi là đẹp mị kỳ duyên dáng dịu dàng vô biên tuyệt diễm, khiến cho kẻ du sĩ lang thang đang mang cả khối sầu vạn cổ bỗng nghe tan biến hết mọi ưu phiền sầu não một cách mầu nhiệm xiết bao, khi em đem về ngan ngát hương xuân ngạt ngào thấm đượm dạt dào khung cửa sổ bên song :

Em đang thay áo trong phòng

Hương xuân bay tỏa sóng lòng tôi đau

Vú thon quá độ nhiệm mầu

Trộm nhìn quên hết ưu sầu thế gian

Tiêu luôn cả cõi niết bàn

Bắt tay chào nhé cái màn vô minh

Vô minh hay niết bàn chỉ là những danh từ khái niệm hư ảo mà thôi, thi sĩ chẳng bận tâm chi lắm. Tắm mình trong mưa nắng đẫm ướt phong trần, sống thường trực trên tinh thần cảnh giác cao độ, bức bách vây khổn bốn bề trăm phía giữa thời buổi loạn ly chinh chiến, bom đạn nổ tứ tung đe dọa mạng sống hàng ngày như vậy nhưng nhà thơ vẫn thở đều đặn bởi hơi ấm rực ngời của ngọn lửa tịch mịch sáng tạo luôn luôn ngún cháy giữa cuộc lữ phiêu linh. Chính vì thế mà các tác phẩm thi ca tha thiết nồng nàn thấm đẫm ruột rà tim phổi ứa lệ lần lượt ra đời như Bọt nước, Hoa cô độc, Lời ru, Đêm nguyệt động, Vọng, Mộng du trên đỉnh mùa xuân, Tịnh khẩu, Du sĩ ca… và những tập truyện ngắn sâu sắc hàm súc rung động lòng người, phản ảnh nhiều mặt của đời sống chung quanh như Cát bụi mệt mỏi, Cái chuồng khỉ, Xóm chuồng ngựa, Ngồi đợi ngoài hành lang với tập tiểu luận duy nhất Mười lăm năm thi ca miền Nam chưa kịp xuất bản thì xảy ra biến cố vô thường dâu biển năm 1975.

Tâm đắc với tư tưởng đại văn hào Dostoievsky : “Tôi sợ phải tỏ ra có tâm hồn cao thượng.” Sơn Núi im lặng mặc như lôi, vẫn ngẩng cao  đầu một cách lẫm liệt, tuyệt nhiên không thèm gia nhập bất cứ hội đoàn đảng phái, hội hè phe nhóm nào cả, lầm lì bước đi đơn độc một mình như sư tử rừng xanh, khiến những bè lũ cáo chồn đâm ra nghi ngờ ganh ghét, chẳng dám lại gần, đứng xa xa mạ nhục chửi rủa cho thỏa cái thói tật sân si ganh tị.  Chàng thi sĩ lại càng dấn mình vào nẻo thâm sơn rờn lạnh cô đơn cùng tuyệt, heo hút tận chốn miền chẳng có đâu nơi :

Có bay cao chin tầng trời

Chỉ nghe thượng đế ngàn đời nín thinh

Có dòm sâu tận cửa mình

Cũng không thấy được cái hình thế gian

Cái hình thù thế gian như thế nào khó mà thấy cho rõ ràng được, nhất là sau trận dâu biển vô thường 1975. Trong khi hàng triệu triệu người sợ hãi kinh hoàng, hốt hoảng bỏ nhà bỏ cửa, bỏ đất nước vượt biên, dù biết thập tử nhất sinh cũng bồng bế con cái lũ lượt vượt trùng dương ra đi tìm một chân trời tự do mới thì Nguyễn Đức Sơn lặng lẽ rời Sài Gòn đưa vợ con lên núi rừng Đại Lào ở Bảo Lộc, Lâm Đồng, sống trên đồi Phương Bối Am, nơi chốn cũ ngày xưa thiền sư Nhất Hạnh đã khai phá dựng lập từ năm 1958. Bây giờ trơ trọi ngọn đồi hoang vu cây cỏ dại mọc um tùm, chỉ còn một cái hồ chứa nước bằng xi măng hình chữ nhật cũng đủ cho cả gia đình thi nhân tạm trú trong đó. Có đến tận nơi chứng kiến cảnh đời hiu hắt khắc nghiệt của thi sĩ thì mới hiểu nổi hai câu thơ tiên tri đã viết tự bao giờ : “Sinh ra tôi có làm thơ. Để điêu linh vẫn như chờ riêng thôi.”

Dù sống trong tận cùng điêu linh thống khổ nhưng giống như họa sĩ vĩ đại Van Gogh : “Đau khổ không than van là bài học duy nhất chúng ta phải học trong cuộc đời này.” Sơn Núi cũng vậy, chưa bao giờ nghe chàng than thở, oán hờn chi cả mà cứ lầm lũi sớm chiều bằng chiếc xe đạp cọc cạch vào rừng kiếm củi khô chở xuống chợ Blao đổi lấy gạo muối đem về. Thế đó, một cuộc đời vô cùng giản dị đơn sơ, rất bình thường chẳng có gì cả ngoài một hồn thơ vẫn trào dâng bao nỗi niềm chi thao thức diêu mang :

Về đây say với trăng ngàn

Phiêu diêu hồn ngập giấc vàng đó em

Trăm năm bóng lửng qua thềm

Nhớ nhung gì buổi chiều êm biến rồi

Mai kia tắt lửa mặt trời

Chuyện linh hồn với luân hồi có không

Thái hư chừng sắp chuyển vòng

Đại dương tràn kéo núi đồng tan đi

Chúng ta giờ ước mong gì

Văn minh gởi cát bụi về mai sau

Thấy rõ tận tường cõi người ta giữa thời đại văn minh cơ khí đang dần dần máy móc hóa con người, muốn biến con người thành công cụ để sử dụng theo ý đồ nào đó, thi nhân vất bỏ sạch sành sanh hết thảy mọi sự xuống đống rác thành phố khô kiệt, đơn độc quay về với thiên nhiên rừng núi, cúi xuống quỳ hôn lòng đất mẹ, hít thở cùng mây trắng trăng ngàn và đốt lên ngọn lửa tịch mịch thiên thu. Ngày ngày lủi thủi cuốc đất làm rẫy trồng thông, gieo hạt giống mầm chồi xanh tươi mới. Thế rồi hàng ngàn cây thông đã phủ kín triền đồi thành một cánh rừng thông xanh rợp ngời bóng mát để cho hoa cỏ bướm vàng hát ca lặng lẽ vô thanh giữa đất trời tự tại một mình một cõi tự do  :

Được làm một sinh vật tự do

Cho đến chết

Tôi quyết không lết

Cũng không bò

Như hầu hết đồng loại hai cẳng

Cứ suy tư nhưng cứ giống bò

Đó đó

Đó

Thái độ vô úy không sợ hãi trước thế cuộc hỗn mang là một thái độ hùng tráng mà người thi sĩ đơn thân độc mã thể hiện giữa thời buổi dầu sôi lửa bỏng, đất bằng dậy sóng ngả nghiêng làm đảo lộn hết mọi thứ giá trị cao quý, nhất là giá trị tinh thần đạo đức cũng xuống cấp trầm trọng, hầu như không còn đất đứng nữa rồi. Ngay trong giới tu sĩ Phật giáo, hình ảnh tiêu biểu cho đạo đức con người cũng mất đi ý nghĩa tốt đẹp, bởi đa số hướng ngoại tầm cầu, chạy theo hào nhoáng âm thanh sắc tướng bên ngoài, vô tình biến Phật giáo thành độc thần giáo, xem Đức Phật như vị thần linh ban phước giáng họa. Họ đem Phật, Tổ ra kinh doanh đủ mọi hình thức, tranh nhau làm thầy phong thủy, thầy cúng, thầy bói coi tướng, đoán vận mệnh, xem nhà cửa bếp núc, cúng sao giải hạn, đua nhau tạc tượng Phật khổng lồ, xây chùa đồ sộ rộng lớn, dựng tháp hoành tráng cố đạt hạng nhất để được xếp vào kỷ lục guinness. Quá vô ích vô nghĩa, phi lý nhất là những cái tháp xây lên tốn bạc tỷ, chỉ để chuẩn bị khi chết, họ vào nằm rục xương cốt trong đó. Họ cũng ráo riết chạy theo bằng cấp, bon chen giành giựt chức vụ lãnh đạo tăng đồ, lập hội này nhóm nọ lu bù gọi là Phật sự, tìm cách phát triển kinh tế riêng tư, hưởng thụ đủ thứ danh lợi thế gian và hèn nhát toa rập làm công cụ cho thế lực vô minh, tiếp tay đưa Phật giáo vào chỗ bạc nhược suy đồi :

Tôi có biết nhiều thiền sư

Rất được lòng quần chúng

Nhờ liên hệ tưởng xa mà gần

Với đủ các loại súng

Đúng là như vậy đó, ai cũng khinh rẻ coi thường, khi nhìn thấy nhiều vị tăng sĩ đi xe hơi tới quốc hội, ngồi lơ láo thảo luận với các đảng viên chính trị về các vấn đề tham nhũng hối lộ, về dân số tăng nhanh, về giáo dục suy thoái, về kinh tế suy sụp, về kế hoạch sinh đẻ, về tệ nạn xã hội…Rồi hô hào tín đồ hãy chấp hành mọi chủ trương đường lối, cố tu phước gắng niệm Phật cầu nguyện chết về niết bàn, hưởng cảnh cực lạc phương tây mơ hồ nào đó, còn sống thì phải tốt đời đẹp đạo…Thật là lố bịch làm sao ! Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn tuy cũng có vài đứa con đi xuất gia nhưng đành phải nói lên mặt trái của một số tà sư quốc doanh thời bây giờ đấy thôi. Dù tịnh khẩu lâu rồi mà vẫn muốn gầm lên một tiếng cho khỏi day dứt trong lòng. Có ai nghe không là một chuyện khác, Sơn Núi cứ khẳng khái nói cho những ai còn chút tối thiểu lương tâm nghe ra một sự thật đau lòng nhất, đó là chỉ có vi trùng trong thân sư tử mới ăn thịt sư tử, cũng như vậy, chỉ có tăng sĩ mới có thể phá hủy, phá hoại Phật giáo chứ tuyệt nhiên chẳng phải ai cả, chẳng có thế lực bạo quyền nào nhúng tay vào được cả. Đây là những lời thơ tâm huyết chỉ thẳng vào sào huyệt những kẻ giả danh tăng sĩ, bọn nội trùng Phật giáo cuồng đức loạn tâm :

Về đi thôi kiếm chỗ nằm

Mõ chuông đang nện trăng rằm ngất ngư

Thiền sư ăn thịt thiền sư

Niết bàn nhiều giống chân như nhiều nòi

Tâm teo tóp trí cọc còi

Ma đang thuyết pháp quỷ đòi giảng kinh

Kìa em tịnh thủy một bình

Cửa Không ai viếng cửa mình tôi thăm

Kinh khủng thật, chỉ có Sơn Núi tính khí bộc trực can trường mới dám sấm sét thẳng thắn chỉ trích ngay vào mặt, chẳng vị nể làm bộ giả đò cung kính gì cả, thích nói là cứ nói ào ào ra vậy thôi. Đôi khi “dĩ độc trị độc” cũng cần thiết lắm phải không ? Nói xong rồi thì mỉm cười thư thái, coi như không có việc gì xảy ra và nhẹ nhàng đưa chân lửng thửng đi đứng bồng tênh trên đồi cao Phương Bối cuối mùa thu nhìn ngắm rừng sương bay phiêu phưỡng bồng bềnh :

Trưa đứng một mình đợi ai lên

Đất trời đâu có dưới và trên

Đồi cao ổi sót rụng một trái

Dòi ăn một bên ta một bên

Hình ảnh “dòi ăn một bên ta một bên” thật cảm động, không thể nói nên lời. Phản ánh tình trạng nhà thơ đang đói, đói và đói, gian nan và khổ cực bức bách thường xuyên ráo riết đến chỗ gần tuyệt lộ, thế mà không biết có một phép mầu nào đó đã âm thầm trợ lực cho thi sĩ vượt qua và vượt qua mọi thử thách cực khổ gian nan một cách ngoạn mục như vậy. Giống như nhà văn Henry Miller, một nhà văn mà Phạm Công Thiện ca ngợi tới mây xanh, rời bỏ kinh thành New York về vùng sơn thượng Big Sur quyết định không làm gì hết, ngoại trừ sáng tạo vì nhà văn nhận định rằng : “Bổn phận của thiên tài là giữ phép mầu sinh động, là luôn luôn sống trong phép mầu, là khiến cho phép mầu càng mầu nhiệm hơn nữa, là không thệ nguyện trung thành với bất cứ cái gì, nhưng chỉ sống một cách mầu nhiệm, suy tưởng một cách mầu nhiệm, chết một cách mầu nhiệm… Sự kỳ diệu và huyền nhiệm của cuộc đời bị bóp nghẹt trong chúng ta, khi chúng ta trở thành một phần tử nào đó có trách nhiệm với xã hội. ”**** Sơn Núi cũng vậy thôi, cũng rút lui về núi rừng hoang vắng tịch liêu, nằm lẫn trong sương mù vạn cổ gõ vào vách đá mà hát khúc hạo nhiên chi khí ca và sáng tạo, sáng tạo không ngừng qua từng hơi thở, từng tế bào mạch máu, từng bài thơ máu lệ thâm thiết quyện hòa vi diệu nghĩa đại thừa Bát Nhã Kim Cang  :

Tháng chạp sầu đời trên núi lạnh

Ta và em hai kẻ cóc cần đời

Đời mạt pháp con người mạt hậu

Có một tấm lòng rồi cũng chỉ rong chơi

 

Sương mù sương mù ừ sương mù

Khuya về trăng mọc ngọn mù u

Cầm ống sáo đồng gõ vào vách núi

Tráng sĩ hề lạnh thấu thiên thu

 

Ta lạnh còn em đâu có ấm

Tiếng tụng kinh là tiếng chim rơi

Để ta tụng bài thơ thiên cổ

Thơ là kinh thật đó nàng ơi !

 

Về núi mang theo kinh Kim Cương

Dăm cuốn thơ tình đẫm phong sương

Nửa đêm tụng chú mà rơi lệ

Nơi thanh lương địa mà sao lòng mình chưa thanh lương ?

 

Nhảy tòm xuống suối giỡn trăng khuya

Hát khúc vọng tình khúc nhớ quê

Quê nhà xa tít và xa tắp

Non nước ngàn thương chẳng chốn về

Ba đời sáu cõi, mười phương thế giới đâu đâu cũng đều yêu thương hết rồi thì cần chi phải về đâu nữa, do vậy, chẳng chốn về là đã về tới nơi rồi đó. Đó là quê  Nghệ Thuật nhà Thi Ca như có lần thi sĩ tuyên bố trong Thay lời tựa tập thơ Tịnh khẩu : “Có sống nhiều năm ở Sài Gòn nhưng không hề thấy chút chi cái đẹp của thành phố và tự hỏi không hiểu vì sao hàng tỉ người có thể sống trong những đô thị lớn trên thế giới. Sẽ tự cứa cổ tự tử ngay nếu một ngày nào đó đầu thai lên thấy đất của các đô thị, nhà cửa và khu kỹ nghệ tràn lấn quá nửa diện tích của núi rừng, sông biển, thác suối, ao đầm hồ…Tự nhận là tha thiết với xã hội vô chánh phủ, khó có thể có trên thế giới này. Từ đó, từ đó thôi cũng dễ tắt thở rồi. Vậy chớ cái gì làm cho nó có thể còn sống được cho tới ngày nay ? Ông Phật, ông Khổng và nhất là ông Lão, đành rồi, nhưng còn một ông bao trùm hết và hốt ba ông kia bốc cao lên : Ông Nghệ Thuật.”

Đúng thế, nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động cụ thể, gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng tình cảm tuyệt trần Chân Thiện Mỹ. Nghệ thuật là một phương tiện giúp cho chúng ta đạt tới chân lý, tới cái như thật, như thị, như như. Sự thật khách quan như thế nào nhìn đúng như thế ấy, bản chất mình như thế nào nhận đúng như thế ấy nhưng dĩ nhiên điều  kẻ sáng tạo thấy biết đó không phải là sự thực khách quan cứng nhắc khô khan mà là sự thực sinh động, rung động hơi thở sự sống, rộn ràng nhịp đập thiên thu. Như vậy nghệ thuật ở đây là hơi thở, là đạo sống đích thực, sống hoàn toàn tự do tự tại, giải thoát mọi ràng buộc, mọi trói cột vào vòng nô lệ thế gian. Người nghệ sĩ biết sống thanh thản an nhiên giữa cuộc tồn sinh, dù ở trạng huống bi đát nào thì cũng không run sợ, hèn nhát, van xin, vẫn tự tin chắc nịch vào nội tâm thâm hậu của chính mình, thể hiện qua thơ văn, nhạc họa nhằm nhập diệu ngay vào cái thực tại hiện tiền, ngợi ca cuộc sống yêu thương, thưởng ngoạn cuộc đời thong dong vô sự :

Mai kia tan biến hận thù

Giữa đêm sao chiếu mịt mù phương đông

Cha về ôm cả biển sông

Duỗi chân duỗi cẳng nằm không một đời

Cho con cha hứa một lời

Duỗi mây thiên cổ rong chơi tối ngày

Thu nào tóc bạc òa bay

Có con chỉ trỏ mới hay tuổi già

Cúi hôn trời đất đậm đà

Cha tan theo bóng trăng tà vạn niên

Nguyễn Đức Sơn mà người dân ở quanh vùng phố núi Bảo Lộc đều gọi là Sơn Núi một cách thân mật, rất thương yêu vợ con và làm thơ dành cho con cái cũng khá nhiều, bài nào cũng chắt chiu nhiều ý tứ sâu xa thâm trầm, vô cùng xúc cảm rưng rưng :

Xem cha đốt cỏ ngoài rừng

Nâng niu mẹ ẳm theo mừng không con

Có vài chiếc lá còn non

Gió xua lửa khói nổ giòn trên không

Nắng tà trải xuống mênh mông

Bước theo chân mẹ cha bồng hư vô

 

Nắm tay lật úp đi con

Co thân tròn trịa như hòn đá lăn

Muốn cho cuộc sống không cằn

Tập cho quen mất thăng bằng từ đây

 

Nằm yên thôi chớ vùng vằng

Để cha rơ miệng con bằng mật ong

Bẻ luôn cái lưỡi cho cong

Nói năng lấp liếm mới hòng người nghe

Thế đó, một bầy con sinh ra đều đặn dưới trăng mờ sương khói rừng xanh, có hai cô gái út Phương Bối, Tiểu Khê, bây giờ đã lớn hết rồi, trừ  Đức Thảo đã mất, còn lại đứa nào cũng tung cánh chim trời, rời núi rừng hoang vắng bay xuống vùng thung lũng bình nguyên, biết sống tự lập và cũng biết mần thơ, nhất là thơ Nguyễn Đức Vân, Nguyễn Đức Yên bàng bạc hơi giống hồn thơ lục bát của phụ thân. Bởi do có nhiều con cái, lúc nhúc thê tử như vậy, làm sao không tránh khỏi phiền não khổ lụy nên chi Sơn Núi có lúc cũng nói thật, một sự thật não nùng của những gia đình nheo nhóc buồn thiu :

Ở ăn với mẹ mày nhiều

Có trưa hộc máu có chiều trào cơm

Có đêm quẩn trí sôi đờm

Sáng ra cuộc sống quá nhờm con ơi !

Ru con cha rống thấu trời

Oan khiên tan ở giữa đời cho mau

Sầu khổ thái quá, hân hoan thái quá, thi sĩ đi từ cực đoan này đến cực đoan khác một cách tự nguyện, tự dấn thân liều lĩnh đương đầu cho đến tận cùng một vấn đề nào đó trong cuộc sống như muốn khám phá để bùng vỡ ra điều chi bất khả tư nghì. Không thể nghĩ bàn, chỉ còn thể hiện bằng hành động nhập cuộc, ôm trọn tử sinh trong vòng tay say đắm một lần thật chặt vì biết rằng chỉ là ảo giác hoang mê :

Rồi mai huyệt lạnh anh về

Ru nhau gió thổi bốn bề biển xưa

Trăng tà đổ bóng cây thưa

Mộng trần gian đã hái vừa chưa em ?

Chắc có lẽ chỉ có Nguyễn Thị Phượng mới trả lời được câu hỏi này mà thôi. Ơi chao ! Hình ảnh nàng thơ gầy mấy chục năm trời sống với chàng thi sĩ dị thường trên núi cao ấy là một hình ảnh đẹp nguyên sơ, một vẻ đẹp hiếm hoi đầy sức chịu đựng kiên trì nhẫn nhục, vô cùng độ lượng bao dung. Tình yêu của con người trên mặt đất quả thật vô lượng vô biên, vừa thiêng liêng mà cũng vừa phù du huyễn mộng :

Sáng mênh mông

Ta đi thơ thẩn trong vườn hồng

Ồ bông ồ mộng ồ không

Bồng tênh mây trắng bạt ngàn cao nguyên Bảo Lộc, bây giờ trên đồi thông bát ngát Phương Bối đã xây thêm một ngôi nhà có vài ba phòng tiện nghi tương đối, do sư cô Hương Nhũ du học từ Ấn Độ về, tận tình giúp đỡ tài trợ cho thi sĩ. Sơn Núi ít khi nghỉ đây mà ở biệt lập một am vắng trên đồi cao nhất Phương Bối nằm ẩn hiện giữa những bụi trúc xanh vàng lãng đãng sương mù bàng bạc mênh mang. Sáng  trưa chiều tối lội lên vòng xuống quanh mấy triền đồi thông trúc biếc song thoại thầm thì với cây cỏ lá hoa :

Sướng quá đời ta tuổi sắp già

Bao nhiêu học thuyết bước đều qua

Nay về dắt bóng chơi am vắng

Ấu trĩ vườn trăng một tiếng gà

Một tiếng gà gáy trưa đâu đó dưới sơn thôn vọng lên văng vẳng rồi tan loãng bay là đà theo sương khói chập chùng :

Nhờ hồng phúc

Mà nay

Mặc dù đã có gia đình bậy bạ rồi

Tôi vẫn đang ngủ trên am mây

Với những bậc thầy

Muôn thuở trước

Còn ngàn năm sau, nếu có ai chợt nhớ đến nhà thơ kỳ dị Nguyễn Đức Sơn thì cứ việc thoải mái như lời nhắn gởi khơi vơi :

Đời sau người có thương ta

Từ lâu xuống lỗ làm ma mất rồi

Đường xa xin chớ bồi hồi

Mả hoang nhảy đại lên ngồi đi cha

Đã nhiều lần rồi, tôi về thăm Sơn Núi, ngồi lại trên đồi cao nhìn xuống chờn vờn thung lũng dưới kia và bao giờ tôi cũng ngâm nga lai rai vài bài thơ của thi sĩ cho gió nắng bồn chồn rộn rã hát xôn xao :

Muôn năm thông vẫn dạt dào

Chiều nay trở lại lũng sầu xa xôi

Tóc em xuống nhẹ vai đời

Ghé thăm hạnh phúc rồi tôi độc hành

 

Ngày mai núi cũ tôi về

Dĩ nhiên hạnh phúc tràn trề em ơi !

Thơ bay tự cổ ngút trời

Quanh năm bảo đảm tuyệt vời nước mây

Cớ sao đãng tử bậc thầy

Hỏi ra từ đá tới cây lắc đầu

 

Một đêm sao ở trên trời

Thi nhau rụng xuống bên đổi cây hoang

Lao xao như nắng thiên đàng

Phấn thông hiu hắt bay vàng hồn tôi

Các em rồi sẽ xa xôi

Mình tôi ở lại bóng ngồi thiên thu

Thiên thu hiện hữu ngay trong cái bây giờ, ngay trong mỗi sát na, rất thanh thản nhàn hạ tôi dạo quanh đồi núi thong dong, lòng rỗng rang như mây trắng, nhắc lại hồi xưa, thời Sơn Núi còn lưu trú chùa Trúc Lâm ở Gò Vấp, Sài Gòn, tôi thường ghé chơi, có lần cùng thi sĩ đạp xe rong rêu lên Lái Thiêu, Bình Dương chơi suốt ngày đêm rồi mới về. Thời đó là năm 1973 tôi đang theo học Đại học Vạn Hạnh, mới tập tành làm thơ và học được ở thi nhân rất nhiều về kinh nghiệm sáng tác văn chương.

Phương Bối đồi thông lộng gió mây trời thiên thanh vĩnh thúy, thỉnh thoảng rộn gót chân du sĩ đi về, những chàng lãng tử tứ xứ mười phương ngưỡng mộ Sơn Núi, những bạn bè vong niên thâm thiết đều tìm viếng thăm một bận thân tình như họa sĩ Đinh Cường từ Mỹ về, nữ sĩ Thu Nguyệt, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ Sài Gòn lên và mới đây thiền sư thi sĩ Tuệ Sỹ trên đường hành cước vân du cũng ghé lại thư thả chơi dăm ba ngày. Gần đây nhất vào tháng 7 năm 2013 tôi lại bầu rượu túi thơ lên Phương Bối, ngồi cùng Sơn Núi khề khà đủ thứ chuyện trong một quán cà phê ở phố núi Bảo Lộc một chiều mưa. Bữa đó tôi có làm bài thơ này tặng thi sĩ  nhưng quên đưa, trước khi từ giã :

Gió bụi mù du sĩ ca

Qua bờ khốc liệt khiến nhà thơ câm

Tịnh khẩu rồi lặng âm thầm

Trầm đêm nguyệt động hỡi thâm xứ nào

Tưởng chừng như giấc chiêm bao

Bao nhiêu bọt nước vỡ trào bấy nhiêu

Vọng sầu thiên cổ tiêu điều

Ngút đồi hoang dại khói hiu hắt vờn

Hoa cô độc trổ cô đơn

Rợn màu máu lệ rợn hồn rưng rưng

Lời ru vẳng gió sương rừng

Mộng du trên đỉnh mùa xuân một mình

 

 

 

* Phạm Công Thiện. Chỉ còn tiếng thơ trên mặt đất. Trần Thi xuất bản, Cali 1998

** Rainer Maria Rilke. Thư gởi người thi sĩ trẻ tuổi. Hoàng Thu Uyên dịch. An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1969

*** Nguyễn Đức Sơn. Đêm nguyệt động. An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1967

**** Henry Miller. Thời của những kẻ giết người. Nguyễn Hữu Hiệu dịch. Hồng Hà xuất bản, Sài Gòn 1971

Thơ Nguyễn Đức Sơn ( chữ nghiêng)  trích trong các tập :

Bọt nước. Mặt Đất xuất bản, Sài Gòn 1965

Hoa cô độc. Mặt Đất xuất bản, Sài Gòn 1965

Lời ru. Mặt Đất xuất bản, Sài Gòn 1966

Đêm nguyệt động. An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1967

Vọng. An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1971

Tịnh Khẩu. An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1973

Những bài thơ rải rác viết sau năm 1975

nGUỒN: VANCHUONGVIET.ORG

 

Các bài khác:
· NHÀ THƠ ANH NGỌC - VẦNG TRĂNG TREO NỖI CÔ ĐƠN CUỐI TRỜI
· NGUYỄN TRỌNG TẠO - MỘT NGƯỜI THƠ LẺ LOI
· 'BÀI CA NGẤT NGƯỞNG' CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ-TỪ VĂN BẢN ĐẾN HƯỚNG TIẾP CẬN
· PHAN TUẤN ANH - GƯƠNG MẶT PHÊ BÌNH TRẺ, VÀ THƠ
· CHỊ NĂM LÊ GIANG
· ÂM NHẠC TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ
· CUNG GIŨ NGUYÊN - 1 CÂY BÚT VHVN VIẾT BẰNG PHÁP NGỮ
· NGUYỄN ANH NÔNG - NỒNG NÀN MỘT TIẾNG THƠ
· 'GƯƠNG MẶT LÚA' TRONG THƠ TRẦN HUY MINH PHƯƠNG
· ĐẰNG SAU CUỘC ĐỜI THĂNG TRẦM CỦA NHÀ VĂN THANH CHÂU
· CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NGHỊCH DỊ TRONG ĐÔN KIHÔTÊ
· THƠ NGUYỄN HOA - TỤ GOM THÀNH NHỊ VÀ LẶNG LẼ TỎA HƯƠNG
· BỨC TRANH CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI
· VÀI NÉT ĐẶC SẮC QUA SO SÁNH GIỮA HAI NHÂN VẬT THỊ NỞ VÀ THẢO
· TRANG THƠ TÁC GIẢ NỮ TP HỒ CHÍ MINH
· VĂN CHƯƠNG VÀ ĐÀN BÀ
· NGUYỄN TUÂN - ÔNG VUA TÙY BÚT THÍCH XÊ DỊCH VÀ GHÉT PHÊ BÌNH
· NƠI ĐẠI TƯỚNG YÊN NẰM
· MA - MỘT HÌNH TƯỢNG VĂN HỌC
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG - KỲ 16 ĐẾN HẾT

 

  
Gia đình Bích Khê