DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
KHI NGUYỄN NGỌC TƯ DONG RUỖI TRÊN ĐẤT LẠ

Có lẽ là chưa chính xác nhưng tôi thích được gọi như thế khi đọc chấm của Nguyễn Ngọc Tư. Việc một nhà văn viết thơ hay một nhà thơ viết văn xuôi vốn không phải chuyện lạ. Nhưng với Nguyễn Ngọc Tư, một cây bút đã lẫy lừng trên địa hạt văn xuôi thì lại là điều rất đáng nói. Hơn nữa, ý thơ rong ruổi trên đất lạ cũng được lấy từ bài thơ hỏi đường đầy trăn trở của chị.

Nghệ thuật làm thơ là phép đem đá hóa vàng, biến đổi những sự yếu hèn thành ra tốt đẹp. Khi đọc những bài thơ đầu tiên trong tập chấm tôi đã nghĩ đến câu nói này của nhà thơ Louis Aragon. Khi một người làm thơ hẳn là người đó ít khi hoặc không hề nghĩ đến nghệ thuật trong thơ, họ viết theo vô thức, và họ thành công khi chạm vào được vô thức của người đọc. Và bản thân thơ đã là nghệ thuật, vậy chẳng nên bàn về nghệ thuật của thơ nhiều. Với chấm, Nguyễn Ngọc Tư đã làm được cái điều mà Aragon nói. Con dế than ẩn khe tường khàn giọng khóc chúng ta đã đánh mất cánh đồng. Nếu nói thơ là sự thật được ẩn giấu kín nhất hay phơi bày tận cùng nhất thì tôi tin rằng trong thơ ta thấy Nguyễn Ngọc Tư rõ hơn trong văn xuôi của chị. Bởi tôi đã thấy có một Nguyễn Ngọc Tư run rẩy và rung cảm mãnh liệt tận cùng trong thơ. Dẫu chẳng thể khẳng định chị đang ẩn giấu mình đi hay phơi bày ra: máu chảy tự khô/ vết đau tự liếm láp/ cúc tự cài/ hát mình nghe/ chưa bao giờ mình mời ai tới đó. Không thể khẳng định bởi ta còn bắt gặp chị hoang hoải, vô định ở chốn đâu đâu: ta thấy mình là khói/ rìa trời/ đến đây mòn còn mấy sợi. Tôi rất thích những hình ảnh giàu liên tưởng trong thơ Nguyễn Ngọc Tư bởi nó đã được lồng vào đó những suy nghĩ, trăn trở sâu sắc và độc đáo của chị. Một tế bào tách khẽ/ da thịt trẻ chật căng/ chúng thì thầm ta lớn lên bằng chia cắt/ rắn gửi lại tấm da khô những giấc huy hoàng. Cái nhìn của chị cho ta thấy được niềm hi vọng, sự sống được hoài thai, sinh ra từ những chia lìa, mất mát: vệt tiếng kêu một con chim trúng đạn/ vẫy bầy đàn bay cao/ trái xanh non náu sau cuống hoa lìa… Cũng như không có sự kết thúc nào cả, ngay cả trong nỗi đau tuyệt vọng: em thấy chữ vươn cao sau dấu chấm/ thấy chưa anh mọi thứ lại bắt đầu. Tuy nhiên, vẫn không thể tránh được cái cảm giác nhoi nhói, nhưng nhức như chính mình vừa trải qua sự chia lìa này. Cái cảm giác ấy phải chăng là sự đồng cảm?

Nếu nhà thơ là người diễn tả được những gì người khác cũng cảm thấy nhưng không nói được thì đây, Nguyễn Ngọc Tư đã viết: gã giang hồ rạp mình cầu an cho bà mẹ ở quê/ bà mẹ rạp mình cầu an cho đám lúa chìm đồng/ lúa cầu an cho những cái bông vừa tượng/ tượng ung dung mỉm cười/ ai nghiêng trời chắt bớt nước đi? Là bởi những thổn thức nhất, đau đáu nhất của người con đất Nam Bộ khắc nghiệt với được mất mùa màng hay là những rung cảm của một tâm hồn trước số phận của con người, vạn vật. Khi mà kiếp người cũng chỉ là ở trọ trần gian, mọi thứ trở nên mong manh trong cõi tạm này: lục bình vừa trôi vừa tàn/ lá đa vừa rã vừa rơi/ vừa đến họ vừa rời cõi tạm.

Giả dụ, nếu chấm với Nguyễn Ngọc Tư là những ngày rong ruổi trên đất lạ thì hẳn miền đất lạ này đã được chị khám phá và chinh phục: nông nổi ơi chỉ cần dừng chân lại/ sẽ thấy người.  Nào ai biết thơ có phải là một con đường chị sẽ tiếp tục đi đến tận cùng khi đã tìm thấy không. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, qua thơ chị đã khẳng định được khả năng đem đá hóa vàng của mình. Mặc dù tôi vô cùng tâm đắc câu thơ: khoảng giấy trắng mang nhiều giải nghĩa nhất.

 

Kim Nhung giới thiệu và chọn

Nhật ký mang thai –

tháng thứ năm

 

Con bỏ lỗi cho

Mẹ vừa làm lễ trước vua xứ khác

Gối chạm đất người thiên hạ

Chỉ mẹ thôi,

Con chớ có quỳ

 

Áo mẹ tối màu

Làm mắt con u uẩn?

Một chút rượu nhấm môi

Con trong ấy nghe cay?

 

Bài ca buồn mẹ để vẳng vào tai

Ấy chết con đừng sớm thở dài

Mẹ lỡ giẫm gai con không cần nhói

 

Hãy cựa quẫy

Hãy trở mình

Nhắc nhớ mẹ thở cho hai người

Mẹ nuôi men ủ nụ cười

Và đứng thẳng.

 

Chốn về

 

Mình có ngôi nhà khép cửa

Chưa bao giờ mình mời ai tới đó

Những tượng đất nung ngủ vùi

Cuộc diễu hành tịch lặng

 

Treo đèn lựu đỏ sân sau

Chỉ một mình ngồi ngắm

Mình không bóng

 

 

Ngủ sâu không ai gọi

Say nắng không người lay

Ai kẻ dắt tay qua ác mộng ngày

 

Máu chảy tự khô

Vết đau tự liếm láp

Cúc tự cài

Hát tự nghe

Chưa bao giờ mình mời ai tới đó

 

Nơi ấy không mặt nạ

Không lời ngọt nhạt lạ xa

Chỉ mình thôi với ngọn gió cuối cùng.

Khúc hát rời Nho Quế

 

Sông chiều

Chan nắng mỏng

Giang hồ ngồi nhớ phù sa quê nhà

 

Cầu nát

Tôi ở bên bờ ngơ ngác

Lòng đục nghẹn ngào trước nước quá trong

Lũ trẻ chăn dê thản nhiên qua sông

 

Em vớt củi giữa dòng

Váy em ướt đẫm

Củi phơi bằng nắng

Váy lay gió rồi khô

Em hong phận người thương khó bằng gì?

 

Người lẻ bảy ngày ngồi đây muốn khóc

Sông lẻ một đời giữa đá, buồn không?

 
 

Các bài khác:
· NGUYỄN ĐỨC SƠN - MỘT NHÀ THƠ KIỆT XUẤT
· NHÀ THƠ ANH NGỌC - VẦNG TRĂNG TREO NỖI CÔ ĐƠN CUỐI TRỜI
· NGUYỄN TRỌNG TẠO - MỘT NGƯỜI THƠ LẺ LOI
· 'BÀI CA NGẤT NGƯỞNG' CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ-TỪ VĂN BẢN ĐẾN HƯỚNG TIẾP CẬN
· PHAN TUẤN ANH - GƯƠNG MẶT PHÊ BÌNH TRẺ, VÀ THƠ
· CHỊ NĂM LÊ GIANG
· ÂM NHẠC TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ
· CUNG GIŨ NGUYÊN - 1 CÂY BÚT VHVN VIẾT BẰNG PHÁP NGỮ
· NGUYỄN ANH NÔNG - NỒNG NÀN MỘT TIẾNG THƠ
· 'GƯƠNG MẶT LÚA' TRONG THƠ TRẦN HUY MINH PHƯƠNG
· ĐẰNG SAU CUỘC ĐỜI THĂNG TRẦM CỦA NHÀ VĂN THANH CHÂU
· CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NGHỊCH DỊ TRONG ĐÔN KIHÔTÊ
· THƠ NGUYỄN HOA - TỤ GOM THÀNH NHỊ VÀ LẶNG LẼ TỎA HƯƠNG
· BỨC TRANH CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI
· VÀI NÉT ĐẶC SẮC QUA SO SÁNH GIỮA HAI NHÂN VẬT THỊ NỞ VÀ THẢO
· TRANG THƠ TÁC GIẢ NỮ TP HỒ CHÍ MINH
· VĂN CHƯƠNG VÀ ĐÀN BÀ
· NGUYỄN TUÂN - ÔNG VUA TÙY BÚT THÍCH XÊ DỊCH VÀ GHÉT PHÊ BÌNH
· NƠI ĐẠI TƯỚNG YÊN NẰM
· MA - MỘT HÌNH TƯỢNG VĂN HỌC

 

  
Gia đình Bích Khê