Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_pe5unfs0360h7l7a2mshevus66, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
ĐOÀN VĂN CỪ - THI SĨ THẢO LƯ SÔNG NGỌC

 

LÊ HOÀI NAM

 

 Sự nghiệp thơ ca của ông thăng hoa chủ yếu ở thời kỳ Thơ Mới và giai đoạn cuối đời khi ông đã về hưu nơi thảo lư sông Ngọc…

 

 Nhà thơ Đoàn Văn Cừ

 

 

Năm 1987, tôi chuyển ngành về Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh (cũ). Thời điểm ấy, nhà thơ Đoàn Văn Cừ ở tuổi 74 (ông sinh ngày 25 tháng 11 năm 1913; Hội Nhà văn Việt Nam đang chuẩn bị tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông vào ngày 23 tháng11 này). Tuổi ấy ở xứ ta đã được coi là thượng thọ. Tuổi ấy, thường thì đã tóc bạc da mồi, đi lại chậm chạp khó khăn. Đoàn Văn Cừ thì lại khác, trừ đôi tai hơi bị nghễnh ngãng, tóc ông vẫn đen nhánh như mun, chưa có một sợi bạc. Mỗi lần nhận được giấy mời, ông còn đạp xe hơn 20 cây số từ thôn Đô Quan, xã Nam Lợi, huyện Nam Ninh (cũ), Nam Trực (mới) lên thành phố Nam Định họp Ban chấp hành Hội.

Vào hội trường, ông thường thích lắng nghe người khác phát biểu hơn là ông nói, nhưng nếu gặp vấn đề gì cần có chính kiến của ông thì ông nói rất hăng hái. Ông thường chuyển từ ý này sang ý kia một cách đường đột, tưởng như chúng chẳng ăn nhập gì với nhau, nhưng khi ông phát biểu xong, thâu tóm lại, nó vẫn có một đường dây thống nhất, kết nối giữa các ý, rồi bật ra vấn đề. Ông thường rất có trách nhiệm với những điều mình phát biểu. Các ý kiến của ông đều mang tính xây dựng cao.

Mỗi khi nói về cái thôn Đô Quan, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, Đoàn Văn Cừ thường gọi bằng một biệt danh do chính ông đặt: Thảo lư - sông Ngọc (ngôi lều cỏ và con sông Ngọc). Khi viết cho bạn bè, trước khi thư kết thúc, ông thường ghi: Ngày … tháng … năm…rồi mới ký tên kèm theo biệt danh ấy "Thi hữu thảo lư - sông Ngọc Đoàn Văn Cừ"

Thực ra, vào thời điểm ấy, ngôi nhà gỗ xoan "tư hàng xà" của gia đình Đoàn Văn Cừ không còn là lều cỏ nữa. Nó đã được lợp mái bằng loại ngói tây, nhưng xung quanh nhà thì vườn tược ngồn ngộn những cây cối, hoa cỏ, rơm rạ nên ông dùng hình tượng "thảo lư" kể cũng không sai. Người chưa về quê ông, nghe tiếng con sông Ngọc trong thơ ông thấy nó có gì đó thật ấn tượng, nhưng khi về đến nơi thăm thì thấy nó rất bình thường. Nó chỉ là một con sông nhánh chảy dọc những cánh đồng, bề ngang đủ cho hai chiếc thuyền dọc tránh nhau hay cho một chiếc vó bè hạ xuống.

Cái nhìn của "người trần mắt thịt" thì sông Ngọc chẳng có gì đặc biệt đáng đưa vào văn học, nhưng với Đoàn Văn Cừ thì nó là một trong những kỳ quan của quê hương ông. Bởi nơi đây, trong ngôi "thảo lư" bên bờ sông này, ông đã sáng tác những áng thơ đầu đời, được lưu giữ trong trí nhớ nhiều thế hệ bạn đọc.

Trong số những nhà thơ mà tôi quen biết, hiếm có ai yêu cái Tết cổ truyền, yêu mùa xuân đất Bắc bằng Đoàn Văn Cừ. Ông yêu đến độ ngắm một nhánh hoa đào vừa e ấp nụ, ăn một miếng bánh chưng vừa vớt từ trong nồi ra còn nóng sốt, hai khóe mắt ông cũng rưng rưng lệ. Chẳng thế mà bài thơ "Chợ tết" viết từ thời Đoàn Văn Cừ còn trẻ, nhưng cho đến nay khó tìm thấy một bài thơ nào mô tả cái chợ tết mang không khí mùa xuân và hồn quê xứ Bắc lao xao, đậm đà hơn thi phẩm ấy. Chẳng thế mà từ nơi thảo lư - sông Ngọc này, sau khi ông viết những trang thơ đầu tiên, rồi bão táp xô dạt biến ông trở thành một hương sư; cách mạng đến cho ông trở thành một sĩ quan quân đội, một viên chức nhà nước, rồi cuối cùng khi nghỉ hưu, ông lại trở về với thảo lư - sông Ngọc sống với bà con xóm ngõ và tiếp tục làm thơ chứ chẳng màng nhà cao cửa rộng nơi phồn hoa đô hội.

Chỉ tiếc, quãng thời gian dài tham gia quân đội và làm cán bộ viên chức, ông sáng tác rất ít. Sự nghiệp thơ ca của ông thăng hoa chủ yếu ở thời kỳ Thơ Mới và giai đoạn cuối đời khi ông đã về hưu nơi thảo lư - sông Ngọc. Trong cuốn "Thi nhân Việt Nam", các tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đánh giá ông bằng những lời tôn quý.

Đoàn Văn Cừ viết nhiều đề tài, nhiều dạng thời tiết diễn ra trong bốn mùa, nhưng những bài thơ mang không khí tết và mùa xuân thường thành công hơn. Cho nên có người gọi ông là nhà thơ của mùa xuân là thế.

Với đồng loại, Đoàn Văn Cừ có một cách ứng xử chân thành và cung kính. Người đã nổi tiếng như cồn và người đang tập cầm bút, ông đều có một lối ứng xử ấy. Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, ở Nam Định chỉ có ba cây bút là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam: Chu Văn, Đoàn Văn Cừ và tôi. Năm 1993, nhà văn Chu Văn về cõi với tổ tiên, chỉ còn lại Đoàn Văn Cừ và tôi. Tai không nghe được điện thoại, vì thế mọi thông tin liên lạc, Đoàn Văn Cừ phải dùng phương pháp cổ điển là viết thư.

Hàng đầu từ trái sang: nhà văn Lê Hoài Nam và 2 nhà thơ Đoàn Văn Cừ, Hữu Thỉnh.

Ảnh chụp tại nhà riêng của nhà thơ Đoàn Văn Cừ năm 2003.

 

Tôi là một trong số người được ông gửi thư nhiều nhất. Ông coi tôi như một nhân vật trung gian kết nối cung cấp thông tin cho ông. Ông coi Hội Nhà văn Việt Nam là một chốn thiêng, y như một con chiên trước ngôi đền thánh vậy. Mỗi lần viết thư cho tôi, ông thường hỏi thăm đủ mặt những người mà ông thấy cần thiết. Cái hôm được tin nhà văn Vũ Tú Nam, Tổng thư ký Hội và một số nhà văn khác trúng đại biểu Quốc hội, Đoàn Văn Cừ viết cho tôi một bức thư dài, trong đó có đoạn: "Tôi vui lắm, phấn khởi lắm. Giới nhà văn chúng ta có tiếng nói trong Quốc hội, như thế Việt Nam mình mới xứng đáng là đất nước ngàn năm văn hiến chứ!...". Người nào mà thăng tiến, thành đạt, Đoàn Văn Cừ tỏ thái độ thành thật mừng cho họ. Người nào gặp vận hạn, ốm đau, tật bệnh, Đoàn Văn Cừ  tỏ nỗi buồn thương như người đó là anh em ruột thịt của ông vậy.

Hồi ấy tôi được giao cương vị quản lý tờ tạp chí văn nghệ của tỉnh. Về thứ bậc, tôi còn ít tuổi hơn con út của Đoàn Văn Cừ. Nhưng mỗi lần viết thư cho tôi, bao giờ ông cũng mở đầu bằng câu cung kính: "Kính gửi nhà văn Tổng biên tập Lê Hoài Nam". Sau đó ông mới nói những chuyện cần nói bằng một giọng văn khiêm cung, đôi khi rất hóm hỉnh, vui nhộn. Chính vì cốt cách Đoàn Văn Cừ như thế nên anh em biên tập coi ông như một "sứ giả của mùa xuân". Những số tạp chí ra thường kỳ, có bài của Đoàn Văn Cừ hay không, chúng tôi không quan tâm lắm. Nhưng số báo Tết thì không thể không có sự góp mặt của ông. Chúng tôi coi sự góp mặt của Đoàn Văn Cừ trong số báo Tết từa tựa như người xông đất. "Vía" của ông "lành", sẽ mang lại vận may, sự yên hàn cho tạp chí trong cả năm.

Năm nào Đoàn Văn Cừ cũng viết bài cho báo Tết từ rất sớm. Sau bão rươi, tiết trời có chút heo may, chim ngói bay về, lúa mùa ngoài đồng bắt đầu chín, là ông đã viết. Ông viết cho đến qua tiết Giáng sinh. Nhất là vào dịp áp Tết, sông Ngọc đang cạn kiệt trơ đáy, bỗng dưng con nước màu xanh lam từ sông Hồng đổ về cuồn cuộn, tràn vào những cánh đồng ải, chuẩn bị cho vụ cấy lúa xuân. Những ngày ấy, thi sĩ họ Đoàn chắp hai tay sau lưng, bước lững thững trên bờ, mắt mục kỉnh đeo hơi trễ, dõi theo những mảng bèo bồng bềnh hoa tím trôi rập rình như đi trẩy hội trên sông, trong đầu tràn đầy cảm xúc, miệng lẩm nhẩm làm thơ.

Viết xong, ông đóng phong bì gửi cho các báo. Không phải báo nào cũng chịu đăng bài của ông. Riêng tạp chí của chúng tôi, dù bài năm ấy Đoàn Văn Cừ viết hay hoặc chưa hay, chúng tôi đều đăng. Đăng cho có không khí mùa xuân, Tết nhất. Đăng để mang điều may mắn hanh thông về cho tạp chí. Ngày tạp chí phát hành cũng là dịp tất niên, chúng tôi đánh xe xuống nhà ông, mang theo chút quà Tết và mấy cuốn tạp chí. Những lần như thế, ông cảm động đến độ miệng cứ díu lại không nói nên lời, hết đứng lên lại ngồi xuống, chân tay quờ quạng tìm ấm pha trà, tìm diêm châm thuốc. Năm nào có bài đăng báo, dù chỉ là tờ báo tỉnh, Đoàn Văn Cừ cũng rất hân hoan phấn khích. Ông thường để tờ báo, cuốn tạp chí có bài Tết ngay ngắn trên bàn viết, cạnh một bình hoa nhỏ. Ai đến chơi, ông cũng đưa ra cho họ xem. Bạn văn đến, ông còn cao hứng đọc bài được đăng để bạn nghe cho có không khí mùa xuân. Ông cung kính với con người như thế nào thì ông cũng trọng thị văn chương nhường ấy.

Những năm đầu Đoàn Văn Cừ mới về cõi (ông mất ngày 27 tháng 6 năm 2004), cứ mỗi độ Tết đến, xuân về, tôi thường mang cảm giác trống vắng, thế là tôi lại tìm bài cũ của ông mang ra đăng lại. Cho đến nay, dù vắng bóng ông đã gần mười năm, chừng như tôi vẫn chưa hết cảm giác đó.

Hà Nội, tháng 11.2013

Nguồn: nhavantphochiminh

 

Các bài khác:
· THỬ TÌM DẤU VẾT NGÒI BÚT VŨ BẰNG Ở HAI TỜ BÁO “TRUNG VIỆT TÂN VĂN” (HÀ NỘI, 1946) VÀ “LỬA SỐNG” (HẢI PHÒNG, 1954-55)
· TIẾNG THƠ AI ĐỘNG ĐẤT TRỜI
· THƠ KHÁNH PHƯƠNG VÀ NHỮNG TRÁI TƯỞNG TƯỢNG
· NỮ THI SĨ “ẢO GIÁC” TUYẾT NGA VÀ THƠ NGUYÊN NGHĨA
· THƠ TRONG TẬP THƠ 'THÀNH PHỐ ĐẠI DƯƠNG' CỦA KHÁNH PHƯƠNG
· HÀNH TRÌNH 'ĐI TÌM NHÂN VẬT' CỦA NHÀ VĂN
· VĂN XUÔI NỮ - LÀM MỚI HAY TỰ ĐÁNH MẤT “ĐẶC SẢN TÂM HỒN”?
· VŨ ĐÌNH LIÊN - 'ÔNG ĐỒ VẪN NGỒI ĐẤY...'
· TRUYỆN KIỀU ĐÃ ĐƯỢC VIẾT Ở PHÚ XUÂN - HUẾ
· TỐ HỮU Ở KON TUM
· NHỮNG KỈ NIỆM CỦA TÔI VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM
· NGƯỜI ĐÀN BÀ TRỜI CHO LÀM THƠ
· NGƯỜI ĐÀN BÀ TRỜI CHO LÀM THƠ
·
· VĂN CAO VÀ CHUYỆN THI ĐỔI QUỐC CA MỚI
· ĐOÀN CẦM THI - 'VIỄN VỌNG' LÀ HIỆN THÂN CỦA LỐI VIẾT MỚI
· KHÚC CA THIÊNG CỦA LỬA
· ANH ĐỨC - SỰ TRÙNG HỢP HAI NGUYÊN MẪU
· HAI BÀI THƠ CỦA ĐỖ TRỌNG KHƠI
· VĂN CAO CỦA TOÁN

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_pe5unfs0360h7l7a2mshevus66, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0