DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
THƠ TRẺ CHĂM ĐƯƠNG ĐẠI HÀNH TRÌNH VÀ SÁNG TẠO

                                                                                               Inrasara

So với các dân tộc thiểu số khác, thế hệ sáng tác trẻ Chăm có đôi chút may mắn hơn. Khởi đầu cuộc viết, họ được trang bị hành trang văn học dân tộc khởi từ nỗ lực không mệt mỏi của mấy thế hệ nhà nghiên cứu trước đó, để cuối cùng quy tập ở bộ Văn học Chăm, khái luận - văn tuyển ba tập ra đời vào năm 1995. Đó là nền đất họ đã đứng, đứng để có thể tự tin bước đi.

 

Nhưng giữa bạt ngàn trang của những sử thi và trường ca, đâu là cái tinh túy? Tinh túy đầy bản sắc, để các thế hệ tiếp nối dẫu luân lạc đến tận chân trời xa lạ nào, vẫn không thể đánh mất sợi dây kết liên với cuống rốn kia, khi sáng tác? Đó chính là tâm hồn và tư duy Chăm, cả tư duy bình dân lẫn tư duy bác học: tư duy phức hợp, tư duy trừu tượng, siêu hình, tư biện, suy lí… biểu hiện ở bề nổi lẫn phần chìm trong mọi khía cạnh, lĩnh vực. Tâm hồn và tư duy tồn tại ngay trong cấu trúc ngôn ngữ, ẩn tàng gần như vô hình trong các tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học ấy. Thế nhưng dẫu sao, sau khi hòa vào cộng đồng dân tộc Việt Nam, người viết Chăm vẫn xuất hiện khá mờ nhạt. Mãi khi Tagalau, Tuyển tập sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu Chăm ra đời vào mùa Katê năm 2000, sau mười bốn kì, tuyển tập đã trình làng hàng loạt tác giả thơ thuộc nhiều thế hệ cư trú ở nhiều vùng miền khác nhau. Từ bác tiều phu tuổi thất thập đến anh giáo viên trung niên vùng cao cho tới các cháu đang ngồi lớp cuối cấp Tiểu học trường làng. Thơ ngắn hay trường ca. Tiếng Chăm lẫn tiếng Việt. Đây chắc chắn là mảnh đất lành cho thế hệ mới xuất hiện và thể nghiệm. Dù mức độ ý thức và cách thể hiện mỗi người mỗi khác, tất cả đều tự thức về cá nhân và thân phận, về sinh thể mang tên con người là "tôi" trong lòng xã hội Chăm giữa cộng đồng Việt Nam. Từ Jalau Anưk:

Nhễ nhại mồ hôi, xé lòng cơn đau đêm, lập cập run - bi mìn sót lại.

Mẹ dội tôi vào đời, khóc oang oang, nhầy nhụa chiếc phòng, quờ quạng trong đặc sệt bóng tối, phủ lên palei gánh nặng một đời người.

Loài quạ thét trong đêm, tan tác bầy cú vọ, tiếng khóc vỡ òa đánh thức bầy gà lười gáy tinh mơ.

Đi - cha tôi đi - cánh tay trần gầy guộc, lôi không nổi bầy ngôn ngữ nằm sâu dưới vực, chiếc tàu gặp nạn, chìm vùi illimo.

Tôi - cái thằng tôi - trơ trẽn vỗ ngực, ngủ vùi cùng cái mác bảnh choẹ, láng coóng một cái đầu to hai mái - rỗng tuếch bên trong, tỉnh vội - soi gương thấy mình cũng chỉ là cái thằng Klu khờ khạo, mút mục ngón tay cái mà cứ tưởng là núm vú mẹ nâng niu ngày chào đời.

Cho đến Đồng Chuông Tử:

Tôi – hạt bụi cô đơn của trái đất…

Tôi bừng cháy.

Ta xóc hành trang đựng đầy gió

lên

đôi vai gầy gã trai Chăm mơ mộng

cô độc đi…  

Không phải những cái tôi như thể cái tôi lãng mạn thơ mộng thuở nào, hay cái tôi sơ giản chân chất đậm đà bản sắc, mà là cái tôi đầy hỗn độn nhiều bất trắc đồng thời biết phản tỉnh và dám tự lật trái mình. Lật trái để cười cợt mình. Lại Jalau Anưk:

Thuở ấy tôi đi
với
hào quang trước mắt
ngỡ được tắm trong thế giới diệu kì
ngỡ hái trọn bao trái cây mơ ước.

 

Thuở ấy tôi đi…
mang nông nổi thời trai trẻ
bơm háo thắng qua vụn vặt kiến thức
nuôi xảo quyệt cơm-áo-gạo-tiền phủ bẩn giấc mơ.

Hiểu mình vừa bị đánh bật gốc khỏi nền văn hóa dân tộc qua cơn phấn khích đầy háo thắng trong cuộc vật lộn với cơm-áo-gạo-tiền, trong hướng vọng chiếm lĩnh đỉnh cao "tử số" [mọi sức rướn đang ngoi tìm tử số/ ngậm tiếng hát riêng lẻ - thơ Inrasara], tất cả họ thức nhận mình đang rời xa cội nguồn. Có thể nói, không người Chăm trẻ tuổi nào khi cầm bút viết văn làm thơ mà không ý thức đến tồn vong của văn hóa dân tộc. Tại sao tôi viết thơ? Tại sao là tiếng Việt mà không là tiếng Chăm? Văn bản này dành cho ai? Ai đọc nó? Và nó sẽ đi về đâu, ngày mai? Câu hỏi từ thẳm sâu tâm thức mỗi "đứa con của Đất" dội vọng ra - đã, đang và sẽ mãi mãi đi tìm câu trả lời. Câu trả lời phải là tiếng đáp trả chân thành bật lại từ mỗi sinh thể mang sinh phận Chăm. Từ tâm hồn "tôi", trước tiên. Sau đó, từ em, từ anh, qua bà con lối xóm rồi lan ra cả cộng đồng.

 

Nhưng có phải để bảo vệ bản sắc, muốn ôm khư khư truyền thống mà các thi sĩ trẻ Chăm hãi sợ ngó ra ngoài, không dám mạnh bạo đạp tung cánh cửa truyền thống để bước vào thế giới xa lạ mênh mông ngoài kia không? - Ngược lại là khác. Ưu tư, tìm tòi và khám phá lại. Tuệ Nguyên đã dũng mãnh dấn bước trên con đường đó. Thế giới thực là ở bên kia hiện thực đời sống ngày qua ngày, một thế giới mới lạ nhiều cuốn hút đòi hỏi phương cách chinh phục lạ biệt:

Tôi đang sống cùng thời đại với họ,

nhưng khi họ cứ mải mê dò từng bước để đi thì tôi lại nằm một xó tập bay

Ở đó mọi thứ đã hết còn mang bộ mặt đồng bộ, đơn nhất.

Tôi đi vào con đường không có bảng chỉ dẫn

mỗi lần lầm lạc tôi bắt đầu đánh dấu.

Không ít thi sĩ trẻ Chăm đã dứt áo ra đi.

Mới nhất, nữ thi sĩ Kiều Maily cũng đã đặt câu hỏi với mình, câu hỏi đầy hoang mang trước bao nỗi bất trắc trước mắt. Câu hỏi lớn, không dễ trả lời:

Em về đâu?

người đi rập khuôn

như kịch hài ba xu diễn lại

như phim bộ trên màn ảnh nhỏ mỗi ngày

 

Ta về đâu? da ngâm                  chân trần

đi? hay dậm chân tại chỗ?

bên kia suối                    đồi cát bên kia biển sóng

đâu bến bờ cho bước chân nâu…

Tất cả họ, không chừa trừ ai. Và ráo riết. Trước những “người đi rập khuôn”, những “họ cứ mải mê dò từng bước đi”..., các cây bút trẻ Chăm sống và viết như thế nào?

Bởi nếu chỉ khám phá mình như là mình thì đã đủ chưa? Nếu chỉ gom góp để bảo tồn, họ sẽ làm kẻ giữ kho của cha ông, không hơn. Tiếp thu và sáng tạo. Tiếp thu mình và thiên hạ để làm ra cái mới. Vẫn còn là chưa đủ, khi ta nhìn truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc như là bất di bất dịch. Vì ngay bản sắc cũng là các sáng tạo trầm tích qua nhiều thế hệ. Có thể nói đấy là tiếp thu và sáng tạo được ông cha ta chia ở thì quá khứ. Thế hệ đến sau sẽ gọi là bản sắc điều họ đang dốc sức sáng tạo hôm nay. Bản sắc không chịu dừng lại ở những gì đã có, không cứ mãi vuốt ve lòng kiêu hãnh qua bảo vật cha ông để lại mà phải dám làm ra sản phẩm mới, có đóng góp mới. Jalau Anưk thôi thúc thế hệ đi tới, cũng là cách tự thôi thúc mình:

Đi đi em! Đi đi! – Mang hình em vào phố

tỏa hơi em vào phố

chìa cả sần sùi bàn tay em vào phố

và lớn lên cùng phố

phố sẽ trải ngực mình/ mở đôi vai mình

để lúc mệt nhoài em gối ngủ giấc trinh nguyên

phố không nuốt chửng em đâu

bởi phố trú dưới vòm trời – rộng lắm!

mà ở đâu dưới vòm trời cũng có những mái nhà cho cả em, anh(*)

"Phố không nuốt chửng em đâu", thì tại sao phải ngại ngần? Jalau Anưk hỏi thế.

Sống xen cư và cộng cư với người Kinh, tiếp nhận thơ dân tộc Việt ngay từ thuở bập bẹ abc, nhưng người Chăm có lối nghĩ khác. Sống dọc bờ biển Duyên hải Nam Trung Bộ, khác với các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên, các thi sĩ trẻ Chăm viết khác. Đây không phải do khác thế hệ. Hoàng Thanh Hương cùng thời với Jalau Anưk, đề tài Thắng cứ giản dị, chân chất. Trong khi Hoàng Chiến Thắng mắc kẹt nơi “Bài ca người gánh lúa”, “Đàn bà núi”, “Câu Sli đánh rơi”, “Đi tìm lời ru”, “Gọi ngày xuống núi”, “Vụ mùa”, “Theo bóng núi”, “Xa núi”... không khác một Dương Thuấn thuở nào (Gọi ngày xuống núi, NXB Hội Nhà văn, 2008) để mà ôm ấp hay tiếc nuối, ngợi ca và hi vọng thì Tuệ Nguyên đã đẩy vấn đề tới tận cùng. “Ở nơi ấy như tôi thấy”, “Nghệ sĩ ban mai & bé gái sứt môi”, “Đêm”, “Truyện mi kể”, “Mặc”, “Hắn và giấc mơ”, “Những mảnh vỡ”, “Chúng ta là những kẻ đáng thương”... đầy phản tỉnh và phản biện. Chính cảm thức mới đã tạo nên sự khác biệt lớn.

Khác biệt từ Jalau Anưk (sinh năm 1975) cho đến Kiều Maily (sinh năm 1985). Khẳng định bản sắc rồi dũng mãnh khai phá, và nỗ lực làm ra cái mới. Sáng tạo bằng cú nhảy táo bạo và quyết liệt:

Giữa anh và em là vực thẳm

mấy lần số cát bãi Nam Kương kia không thể lấp đầy

 

giữa đôi mắt chúng ta là vực thẳm

đắm đuối đến đâu cũng không thể đầy

 

giữa thân thể chúng ta là vực thẳm

ngàn nụ hôn cũng không thể làm đầy

 

anh có muốn nhảy không?

                        (Kiều Maily, “Nhảy”, Giữa hai khoảng trống, 2013)

 

Tư duy đó đòi hỏi một lối viết khác. Các cây bút trẻ Chăm tiếp nhận cha ông, bên cạnh họ không từ chối vận dụng mọi thủ pháp học được từ bên ngoài. Dù gì thì gì, dẫu có phiêu lưu khai phá tới đâu, dẫu cư trú tận đất trời nào, thi sĩ Chăm thuộc mọi lứa tuổi vẫn chưa bao giờ vĩnh viễn rời xa nguồn cội. Cát, nắng và gió réo gọi. Vũ điệu apsara vẫy gọi. Hồn quê hương Chăm thức gọi. Một lần trong muôn ngàn lần nữa, họ lần tìm lại con đường quê hương để làm cuộc trở về. Chỉ khi những đứa con tha phương trở về như là trở về, thì mọi truyền thống và hiện đại, tiếp thu và sáng tạo, tiếp nhận tinh hoa thế giới… thôi còn là những cụm từ, mấy khẩu hiệu vô hồn bật ra ở đầu môi chót lưỡi, mất hết sức nặng vốn có của chúng. Chỉ khi đó thôi, thi sĩ mới tìm thấy mình an cư ở Nhà như là nhà mình giữa miền sỏi đá Quê hương.

 

____

 

(*) Các bài thơ trích từ đặc san TagalauVăn học Chăm hiện đại – Thơ, NXB Văn học, H., 2008.

NGUỒN: PHONGDIEP.NET

 

Các bài khác:
· GS LÊ HUY BẮC - NGƯỜI ĐI TÌM 'CỘT ĐÈN GIỮA NHỮNG NGÃ TƯ'
· 'BÚT KÝ DƯỚI HẦM' CỦA DOSTOYEVSKY - NHỮNG NIỀM VUI VIỆC VIỆC BỊ HẠ NHỤC
· NHỮNG HÌNH ẢNH ĐỘC ĐÁO
· 'THỀ NON NƯỚC' CỦA TẢN ĐÀ
· ĐOÀN VĂN CỪ - THI SĨ THẢO LƯ SÔNG NGỌC
· THỬ TÌM DẤU VẾT NGÒI BÚT VŨ BẰNG Ở HAI TỜ BÁO “TRUNG VIỆT TÂN VĂN” (HÀ NỘI, 1946) VÀ “LỬA SỐNG” (HẢI PHÒNG, 1954-55)
· TIẾNG THƠ AI ĐỘNG ĐẤT TRỜI
· THƠ KHÁNH PHƯƠNG VÀ NHỮNG TRÁI TƯỞNG TƯỢNG
· NỮ THI SĨ “ẢO GIÁC” TUYẾT NGA VÀ THƠ NGUYÊN NGHĨA
· THƠ TRONG TẬP THƠ 'THÀNH PHỐ ĐẠI DƯƠNG' CỦA KHÁNH PHƯƠNG
· HÀNH TRÌNH 'ĐI TÌM NHÂN VẬT' CỦA NHÀ VĂN
· VĂN XUÔI NỮ - LÀM MỚI HAY TỰ ĐÁNH MẤT “ĐẶC SẢN TÂM HỒN”?
· VŨ ĐÌNH LIÊN - 'ÔNG ĐỒ VẪN NGỒI ĐẤY...'
· TRUYỆN KIỀU ĐÃ ĐƯỢC VIẾT Ở PHÚ XUÂN - HUẾ
· TỐ HỮU Ở KON TUM
· NHỮNG KỈ NIỆM CỦA TÔI VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM
· NGƯỜI ĐÀN BÀ TRỜI CHO LÀM THƠ
· NGƯỜI ĐÀN BÀ TRỜI CHO LÀM THƠ
·
· VĂN CAO VÀ CHUYỆN THI ĐỔI QUỐC CA MỚI

 

  
Gia đình Bích Khê