DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CẢ THẢY SÁU NGƯỜI

Dạ Ngân 

 Rời nhà theo kháng chiến năm 14 tuổi, bị chê là nhỏ nên phải quay về. Gần hai năm sau Tiểu ban Thông tin – Báo chí tỉnh Cần Thơ mới cho người về đón tôi trở lại. 

 

      

ád

Nhà văn Dạ Ngân

 

 

 

 

Năm 1967, bấy giờ bom đạn đã nhiều lên vô kể, những người nông dân chung thủy với kháng chiến đã phải ùa chạy ra thành. Dân đi Cứ ở tỉnh tôi chia nhỏ ra cất chòi rải trên những bờ kênh bờ rạch của đồng trũng Phương Ninh mà cái rốn là Lung Ngọc Hoàng nổi tiếng.

 

Chép tin đọc chậm từ Đài phát thanh Giải phóng, tổng hợp thành tin của miền Nam, của miền Bắc và của thế giới để cho báo nhà, tôi là con gái duy nhất của Tiểu ban nên phải làm cá, kiếm rau kiếm củi, nấu cơm nấu nước và…giăng sẵn mấy cái mùng trên nền chòi cho các chú các anh nếu đêm ấy họ đi về khuya. Vùng trũng Phụng Hiệp muỗi kêu như sáo thổi, không giúp đỡ vậy thì người đi công tác về sẽ phải kéo dài thời gian bị muỗi cắn. Ban ngày, nếu hôm ấy không chạy giặc càn thì ngồi viết cũng phải ở trong mùng.

 

Thanh Liêm là một trong ba thanh niên của Tiểu ban, khi đó. Anh căng tràn như một viên pháo. Làm phóng viên, Liêm thích đi chiến trường hơn đi viết phóng sự về quân địa phương, du kích hay nông dân bám trụ. Đêm ấy, anh và các anh các chú bước từ xuồng lên nhà cùng với sự kín tiếng một cách trang trọng, đặc biệt. Nhưng Liêm thì cứ chực nổ, anh cười anh hát anh huýt sáo, anh sửa soạn ba lô bằng tất cả sự náo nức, chực bùng. Chú Tư Dân thủ trưởng nhắc Liêm phải ngủ để dưỡng sức.Tôi chỉ được biết Liêm sẽ đi công tác xa cùng với bộ đội chủ lực, vượt qua Quốc lộ để lên vùng trên, áp sát Cần Thơ. Đại quân mà áp sát Cần Thơ, tôi tự hình dung và cùng háo hức với Liêm. Bữa ăn liên hoan bằng những con cá anh Quốc, anh Cửu đi giăng lưới bắt về và gạo rang thay trà nấu bằng nước ruộng. Liêm đứng ngồi không yên.

 

Anh ra đi như vậy. Tiếng cười, mùi mồ hôi, vẻ tươi sáng ở lại. Như ánh sáng, như niềm tin, long lanh, thân ái. Nếu có một sự đóng đinh trong ký ức về một chàng trai thanh tân lý tưởng, thì trong tôi là hình ảnh con người này, chàng trai Thanh Liêm của ngoại thành Cần Thơ hoa trái.

 

Chú Tư Dân cam đoan thời khắc ấy là vận hội. Hai chàng trai còn lại của Tiểu ban thì so bì không được sứ mệnh của Thanh Liêm. Và giờ G của cuộc Tổng tấn công Mậu Thân đã điểm. Các chú đàm đạo và chờ đợi suốt đêm bên chiếc đài bán dẫn hết BBC, đến Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài phát thanh Giải phóng, bên ấm nước gạo rang. Hai anh con trai thay nhau leo lên ngọn cây trâm bầu xem pháo nổ, súng rền, hỏa châu và máy bay đối phương tất bật ở Trà Nóc, Bình Thủy, Ngã Bảy…Tôi được chỉ định hát và múa, 16 tuổi, tôi rất giỏi những trò này, tôi thấy mình như mọc cánh và đang bay theo đoàn quân có chàng trai nhiệt thành, nhiệt thành nhất tôi từng biết.

 

Chưa đầy tuần sau, anh Cửu của Tiểu ban đi sang tổ Thông tấn mang về một tờ điện nhận theo kiểu đánh morse: Thanh Liêm đi phép, đừng chờ! “Đi phép, đừng chờ”, có nghĩa là hết rồi, đừng chờ đợi gì nữa! Đơn giản như lúc đi, như khoác một chiếc ba lô lên và đơn giản như một đường đạn bắn ra và mục tiêu đổ xuống. Cơ quan lặng lẽ làm lễ truy điệu nhỏ, mãi bây giờ trong tôi vẫn là những câu hỏi: Sao nhanh chóng vậy, sao quá dễ dàng như vậy, sao vừa mới ngây ngất vui mà đã rơi xuống tang thương như vậy? Đây là lần đầu tiên Tiểu ban Thông tấn – Báo chí chỗ tôi tổn thất về người, hao khuyết thực sự một con người vừa cùng tôi những ngày đêm ác liệt dưới một mái chòi chiến trận.

 

        Lại một người nữa đi phóng viên chiến trường. Quốc cũng người ngoại thành Cần Thơ, học sinh dở dang và lựa chọn kháng chiến. Ít nói, ít ấn tượng nhưng thâm trầm, hay làm. Không có liên hoan gì nữa, bị đẩy bật ra khỏi căn cứ đồng Phương Ninh, hệ thống đồn bót của đối phương đã chia cắt chúng tôi khỏi cơ quan đầu não tỉnh. Người đi biết chắc mình khó được trở về, không thể nào hào sảng như lúc Thanh Liêm đi. Quốc chỉ yêu cầu tôi hát cho mình anh nghe. Bài gì? Vàm cỏ đông, bài anh thích nhất. Tôi còn nhớ khi ấy anh đã ba lô trên lưng, dáng người cao 1mét8 rất thẳng, hai anh em đối diện nhau, run run, bứt rứt. Vàm Cỏ Đông ơi hỡi dòng sông, nước xanh biên biếc chẳng đổi thay dòng, đuổi Pháp đi rồi nay đuổi Mỹ xâm lăng…Anh ôm mái đầu tôi, người tôi chỉ cao bằng ngực anh, anh xiết để chia tay và cũng để cảm ơn về bài hát. Chỉ có vậy thôi, phóng viên, ba lô, cây viết và quyển sổ, không máy ảnh không giày dép.

 

Quả nhiên Quốc đã không về, một cái giấy báo tử cho cơ quan, cũng chuyển bằng đường morse, trên một chuyến xuồng của anh Cửu, người thanh niên duy nhất còn lại của Tiểu ban.

 

 

*

Tôi được cử đi Khu 9 học nghề viết báo. Căn cứ Khu 9 ở U Minh, khi ấy còn nhộn nhịp lắm. Tiểu ban chỉ còn có 4 chú và anh Cửu. Nơi ấy luôn luôn vẫy gọi tôi quay về, nơi chúng tôi từng truy điệu anh Liêm anh Quốc.

 

 Báo chí và Thông tấn ở Khu 9 độc lập nhau. Tôi thuộc Ban Thông tấn, vừa học vừa làm. Chung giường, chung xuồng với tôi là chị Nguyệt, người Cà Mau. Vùng nước mặn nhưng chị Nguyệt tóc dài da trắng, mắt sáng mày tươi, chắc được sinh ra bởi một bà mẹ nhan sắc.

 

Học từ kinh nghiệm của các chú các cô là chính. Bổ sung kiến văn nghề báo bằng cái thư viện lạ kỳ. Sách đóng trong những thùng gò bằng tole để nếu có phải nhấn nước khi giặc đổ quân đi càn, sách không bị ướt. Sách được chuyển từ Hà Nội vào, bằng đường Trường Sơn, thấm máu của biết bao chiến sĩ đường dây. Chị Nguyệt còn tưới tắm tôi bằng kinh nghiệm, nuôi tóc, giữ da, ăn nói, bếp núc, đi rừng…Viết những bài báo nhỏ, chủ yếu là làm liên lạc tin bài cho bộ phận chuyển tin đánh bằng morse bằng những chuyến xuồng đêm hôm trên sông Trẹm.

 

 Không như ở Phụng Hiệp – Cần Thơ, Cứ ở U Minh bám theo bờ đìa, nghĩa là bám theo nước ngọt trong đìa và cá mú sẵn trong đó. Chị Nguyệt Cà Mau cho tôi kỹ năng đi tìm đìa để tắm mà không bị lạc, kỹ năng làm những xuồng cá khi người cơ quan đi “chup đìa” (kéo lưới đánh bắt cá) và những kỹ năng khác để tồn tại. Tôi thích nhất những đêm chuyển Cứ dưới trăng, tháo vát, đàn chị, Nguyệt thường vo quần nhảy lên khỏi xuồng trước và khi đó, trời ơi, ánh sáng tự nhiên cho thấy hai ống chân con gái thon tươi, trắng muốt, mê hồn. Hình ảnh ấy vẫn run rẩy trong tôi mỗi khi nhớ lại và nó tê dại như bị lưỡi dao thốc vào. Giỏi giang và đẹp đẽ dường ấy để mà chi? Đó là nguyên mẫu trong truyện ngắn “Trăng về” của tôi in năm 2000 trên báo Xuân Gia Đình & Xã Hội.

 

Tháng 9 năm 1969, 17 tuổi, tôi quay về Cần Thơ vì cơ quan cũ ráo riết đòi người bằng những bức điện morse. Chú Tư Dân thủ trưởng đón tôi bằng nỗi buồn không che giấu: anh Cửu đã hy sinh! Anh hy sinh trên một chuyến xuồng bị biệt kích mai phục giết chết. Anh là người thanh niên cuối cùng của Tiểu ban. Cửu là nông dân chân chất, đầu quân vào cơ quan thông tin báo chí để học việc. Nhiệm vụ chính của anh là con thoi giữa tổ Minh ngữ luôn phải đóng xa cơ quan sản xuất tin bài (vì công việc của Minh ngữ rất dễ bị phát hiện qua đường thu phát sóng). Lại một người không còn sống để có thể lo là bỏ cuộc, phản bội, đầu hàng hay biến chất. Đã có thể định nghĩa trọn vẹn về người ấy, như Liêm, như Quốc. Cửu không có chữ để hoạt khẩu, không tài hoa để phát sáng kiểu Thanh Liêm, nhưng sự siêng năng, thầm lặng và tốt bụng vô điều kiện của anh thì không ai sánh kịp.

 

Không bao lâu từ Khu 9 dội lên chỗ tôi tin dữ: chị Nguyệt của tôi đã bị giặc bắn trực diện, trong một trận càn dài ngày có tên là “Nhổ cỏ U Minh”. Đó là cái chết của một phụ nữ mà tôi hình dung được rõ nhất, dù ở cách xa chị hàng tuần đường giao liên. Bởi chị quá đẹp, ngang tàng và gan góc.

 

 

*

Những năm ấy người kháng chiến ở miền Tây ở vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Sự hủy diệt thường trực, ngày và đêm. Đồn giặc vây kín. Sự cách bức tuyệt đối. Không cả gạo để rang, chúng tôi ăn trái chuối và củ chuối đã nhiều ngày.

 

Chú Tư Dân đi họp Tỉnh ủy, phải chống xuồng trong đêm tối, nhờ những đường mòn trên ngọn đưng ngọn sậy của dồng nước. Họp hành khó khăn nên có những đợt chú đi họp cả tuần. Là một thầy giáo ngoại thành Cần Thơ, không còn anh Cửu đỡ đần chèo chống, chú phải đi cùng khi thì với tôi hoặc một trong hai chú của Tiểu ban cũng ốm yếu như chú.

 

 Chuyến ấy chú không đi cùng tôi. Một trận càn của đối phương đã vây căn cứ Tỉnh ủy và chú Tư đã hy sinh ở đó. Đó là một tổn thất lớn lao cho cả cơ quan và những ai được làm cộng sự của chú. Chú để lại cho tôi nhiều vô kể dù từ lúc cô bé 16 tuổi trở lại cơ quan đến lúc chú Tư nằm xuống chỉ có 4 năm. Chú cho tôi lẽ sống, kiến văn, tình yêu văn chương, tấm gương đạo đức và lời tiên tri định mệnh: “Con sẽ thành nhà văn, nhất định với năng lực và tâm hồn mình, con sẽ trở thành nhà văn!”

 

Không lâu sau, cũng trên một chiếc xuồng như anh Cửu, một người chú khác, chú Ba Phú trên đường công tác đã lọt vào ổ phục kích của thám báo và bị bắn chết. Người phóng viên già ngã xuống kênh, mất xác. Chú Ba cũng là người ngoại ô Cần Thơ, có chữ có học nên được phân công vào Thông tấn – Báo chí. Nếu không có chiến tranh, các chú đã là những ông giáo mẫu mực, an nhàn.

 

Thế là, quá nhiều con người tốt đẹp đã ra đi. Một cơ quan chỉ có một nhúm người mà lần lượt hy sinh chừng ấy. Suy rộng cho toàn cục, ở những nơi còn sống mới là điều lạ, đủ thấy cuộc chiến ấy quá nhiều đau thương. Đó là điều mãi mãi khiến ta bàng hoàng, day dứt, tự vấn và ám ảnh.

 

 Mong sao con người mãi mãi được sống, sống và sống, thế thôi.

Nguồn: (Báo Văn nghệ Trẻ tết Giáp Ngọ)

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ DỰ THI 'THƠ TÌNH MÙA XUÂN 2014' CỦA NGUYỄN NGỌC HƯNG
· THƠ KHAI BÚT NĂM NGỌ CỦA ĐẶNG HUY VĂN
· TÂM TÌNH LÊ ĐÌNH BÍCH
· BUÂNG KHUÂNG BÚT TÍCH
· NHỮNG TIẾNG NÓI MỚI
· CƯỜI TÚ XƯƠNG, MỘT TRÀO PHÚNG KHÁC...
· NGOẢNH LẠI 'MÙA XUÂN CHÍN'
· HAI BÀI THƠ HỮU LOAN VIẾT VỀ HÀ NỘI
· NGƯỜI CỦA MỘT THỜI, THƠ CỦA MUÔN ĐỜI
· NHÀ VĂN NGUYỄN TRÍ - TIỂU SỬ GÂY SỬNG SỐT
· NGUYỄN BÍNH VÀ BÀI THƠ TẾT BÍNH NGỌ
· NHIỀU KHI THẤY THƠ HAY MÀ CHƯA CHẮC NÓ HAY...
· ĐINH HÙNG - MỘT NHÀ THƠ KỲ ẢO
· CHÙM TRUYỆN VUI VỀ VỢ CỦA ĐẶNG VIỆT THỦY
· MỘT NHÀ THƠ TÀI HOA BỊ LÃNG QUÊN
· LÂM ANH - CŨNG VÌ NGƯỜI TRỔ HẾT MÙA BÔNG
· DƯỚI NGÒI BÚT NGUYỄN DU, NGÔN NGỮ VIỆT GIÀU THÊM BIẾT BAO
· PHÁC THẢO TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
· PHẠM NGỌC THÁI VỚI TẬP 'PHÊ BÌNH & TIỂU LUẬN THI CA'
· NGÔ THỊ Ý NHI - GÁNH THĂNG BẰNG MÀ ĐI

 

  
Gia đình Bích Khê