DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
SÓNG LỤC BÁT TRONG DÒNG SÔNG LẶNG LẼ

                                                                                       Trần Quang Quý

(Đọc “Lặng lẽ một dòng sông” của Đinh Nam Khương, Nxb Hội Nhà văn, 2013)

Trên cánh đồng thơ truyền thống, Đinh Nam Khương như nhà chuyên canh lục bát, nó cho thấy con đường mà ông lặng lẽ, bền bỉ đeo đuổi không ngừng. Giữa muôn vàn xô bồ, đa giọng, sự tìm tòi, cách tân…của dòng chảy văn chương hiện đại, hậu hiện đại càng cho thấy “tín ngưỡng” lục bát mà ông lấy đó làm tiêu chí và nguồn cảm hứng sáng tạo, một sáng tạo luôn được tự thức, nếu người ta chơi violon (thơ hiện đại) thì ông vẫn miệt mài kéo nhị (thơ truyền thống), như những con sóng vẫn dạt dào và lấp lánh trong dòng thi ca của ông.

Hơn 30 năm, do những hoàn cảnh khác nhau, có lúc im lặng, vắng bóng trên văn đàn, có lúc rộ lên… nhưng Đinh Nam Khương vẫn “luôn bình tĩnh và kiên trì …muốn góp thêm một tiếng nói trong việc giữ gìn và phát triển thơ ca truyền thống không bị xói mòn và lấn át trước dòng chảy mãnh liệt của thơ ca hiện đại. Qua đó để chứng minh rằng: Lục bát không bao giờ cũ, chỉ có người viết cũ chứ không có lục bát cũ. Nó luôn mới mẻ và lấp lánh những vẻ đẹp kỳ diệu của thơ ca muôn thuở”. Đó là một phát ngôn khá tự tin và dũng cảm mà bây giờ, không phải ai cũng dám đánh cược cả đời mình vào một thể loại thơ truyền thống đã có hàng trăm năm và đạt những đỉnh cao nghệ thuật, sự tinh túy của thể loại, sự dân gian hóa trong nhiều sinh hoạt đời sống văn hóa (hò, vè, ca dao, hát đối…). Bằng chứng là, những tác giả thơ lục bát bây giờ chỉ có thể lác đác đếm trên đầu ngón tay. Một phần, các nhà thơ đương đại, đặc biệt là lớp trẻ muốn cách tân, hiện đại thơ, muốn khám phá vào những lãnh địa mới; một phần, họ tự thấy mình không mới hơn, hay hơn trong lục bát. Lục bát quá khó! Muốn hay, trước hết phải yêu và nhuần lục bát lắm, phải có bản văn, sự nỗ lực, tìm tòi để vượt qua mòn cũ, nếu không, anh chỉ góp phần nối dài cái đuôi ngày càng vuốt nhỏ của con trăn khổng lồ lục bát, hay một dòng sông ngày càng vơi cạn mà không làm mạnh thêm sức vóc, nhiệt năng tỏa ra từ cơ thể đời sống của nó.

Tín chỉ lục bát của Đinh Nam Khương được phát lộ từ giải A cuộc thi thơ 1981 - 1982 báo Văn nghệ, bài thơ Từ những dấu chân người. Ông còn được giải B thơ lục bát báo Văn nghệ năm 2002 - 2003; tặng thưởng chùm thơ hay nhất báo Văn nghệ (2001), bài thơ hay nhất Văn nghệ Quân đội (1992)... Thậm chí, ông còn được dân làng dựng bia vinh danh. Dù sau này, ông viết cả văn xuôi, thơ tự do, nhưng dường như phát hiện quan trọng nhất trong sáng tạo của ông chính là, ông thuộc về lục bát. Hành trình mấy chục năm đã hiển lộ điều đó. Lặng lẽ một dòng sông, tập lục bát mà Đinh Nam Khương dành nhiều tâm huyết đã nói với bạn đọc về “tín ngưỡng” này.

Tập thơ tích hợp tâm trạng và thái độ của Đinh Nam Khương, chủ yếu về đời sống nông thôn, phản chiếu qua những thi ảnh cội rễ quê làng, đó cũng là cội rễ của ca dao, lục bát Việt. Nó được biểu trưng từ những “Nỗi”: nỗi mình, nỗi người, nỗi làng, và đặc biệt nỗi tình (tình yêu). Ông tự soi chiếu và lập trình về mình như sau: “Tuổi này vọc vạch làm thơ/Tiền thì rất ít, mộng mơ lại nhiều/Đường tình cũng khối cô yêu/Chợ đông thì đến, trưa chiều thì tan!/Trời không xếp đặt làm quan/Chỉ cho đèn sách, cây đàn mà thôi” (Lá số tử vi của tôi). Cho đèn sách là cho học vấn, cho trí; cho cây đàn là cho cây nhị thơ truyền thống như ông tự nhận, và đó cũng là quan niệm nghệ thuật của ông: “Không kéo được violon/Thì ta kéo nhị như ông mù lòa/…Con đường gậy vẫn còn đi/Anh còn kéo nhị…em thì còn say” (Với thơ lục bát). Nỗi mình, con đường thơ mà duyên số sắp đặt ấy được giãi bày: “Ta cần có bạn thôi mà/Văn chương chút xíu có là gì đâu/Đời như một khúc sông sâu/Ta người lơ đễnh ngồi câu trên bờ!/Ta câu không lưỡi - giả vờ/Đợi em buổi tối, đêm chờ trăng lên!” (Thơ). Dù là nỗi gì, bao giờ Đinh Nam Khương cũng ngoặc thêm vào “em”, cái “em” dùng dằng, lúng liếng là mảng thơ lớn của ông, sẽ nói ở phần sau.

Nỗi người, sự đồng cảm và sẻ chia với những phận người yếm thế, không chỉ một Ông hát xẩm, Những em bé không nhà, Cô đồng nát…nó còn là những đan chồng, giăng níu các mỗi quan hệ của làng, mà ở đó “ngày xưa” luôn thao thiết trong trong hồn thơ Đinh Nam Khương. Có lẽ vì thế mà ông bỏ chốn phố thị về quê Chùa Hương ẩn dật, như nhiều vị túc nho xưa, để bốc thuốc chữa bệnh và gắn duyên với lục bát. Thơ ông có cái đằm của sự điềm tĩnh, có cái da diết buồn nhớ khi những nét làng dần biến mất. Cảnh quê yên bình, vân vi thương mến của cư dân nông nghiệp có thể vĩnh viễn chỉ còn trong tiềm thức của những người luống tuổi mà thôi: “Ao làng đã biến mất rồi/Không còn mô đất xưa ngồi buông câu/…Ốc nhồi sáng sớm ăn sương/Cá rô đuổi lũ cá mương tranh mồi/Mặt ao in bóng mây trời/Mẹ ngồi vo gạo…đồ xôi lên chùa”. Làm gì còn ốc nhồi, cá rô…, thuốc sâu và nhiều thứ độc hại nữa đã tàn hủy môi trường. Cũng sẽ chẳng còn những thi ảnh lãng mạn của bóng nước, mây trời, cây đa, trăng vàng…khi văn minh đô thị đang “hiếp dâm” văn hóa làng. Nỗi làng còn ở cách “soi” những hành vi ngược với lối sống, văn hóa truyền thống; ở sự giễu cách ăn mặc “thiếu vải” của thời hiện đại: “Dải yếm của thời a còng/Dài hơn một tí, lòng thòng hơn xưa/Lưng trần, yếm buộc gió đưa/Núm cau cũng buộc sớm trưa ỡm ờ” (Dải yếm thời a còng). Hay cái nhìn tinh ngịch và hóm hỉnh: “Chân dài như thể chân cò/Bây giờ váy ngắn…cần cho hở đùi/Một chân em để bên tôi/Chân kia - em gác lên người phương xa!” (Chân dài). Gác lên người phương xa là lối nói ước lệ, nó vừa hiện đại lại vừa đặc trưng thủ pháp ước lệ của sân khấu chèo. Những phai nhạt của lối sống, tình làng, đến nỗi, có thể là thi sĩ nói “dỗi”, nói khuếch đại lên, nhưng có nụ cười tủm tỉm một cách thú vị, rằng Thị Nở còn trở thành ước mơ: “Tóc thị không có hoa cài/Tí thị không lộ ra ngoài yếm the/Ra đường chẳng có ô che/Nắng vàng cứ tưởng đêm hè sáng trăng!/…Ước gì Thị của riêng tôi” (Thị Nở). Nghĩa là, cái “xinh” của Thị Nở ăn đứt những cô nàng người mẫu, ca sĩ... “đầu ngắn chân dài”, suốt ngày thích cởi, khoe vú, khoe mông, khoe nách trước công chúng, trong con mắt của chàng thi sĩ kéo nhị, có bảo thủ quá chăng?

Như đã nói, “nỗi tình” là mảng thơ “gạo cội” nhất của Đinh Nam Khương. Ông có lối nói có duyên, hóm, lại có cái đong đưa, như ông bà xưa mắt liếc đưa tình, phải lòng mặt nhau ở sân đình, lễ hội. Trong vỉa thơ “buông chài thả lưới” này ông có khá nhiều câu thơ thi sĩ, tài hoa trong việc “ghẹo” các cô nàng. Nhiều bài thơ tình của ông mà người đọc có thể bị neo lại: Gọi tim về, Cô đồng nát, Ru hàng xóm, Nước hoa, Phơi gió, Trăng suông, Của giời, Im lặng, Ván đò, Mùa ngô nướng, Áo dài… Trong đó, có nhiều câu thơ thi sĩ, những “đoạn trường” thơ hay, bay và dí dỏm. Đây là nỗi hờn mát, chạnh lòng tiếc nuối: “Người ta - giờ đã có chồng/Tim ơi - ta gọi sao không chịu về?/Bây giờ chui ống cá trê/Còn đâu hoa tím, trăng thề nữa đâu?” (Gọi tim về). Một nỗi buồn vời vợi, cô liêu với Cô đồng nát: “Tiếng rao bỏ lại mình tôi/Cánh buồm nâu vá, đã vời vợi xa!”. Một lời ru, nghĩa là sự tự an ủi mình, cũng hiển lộ và mách bảo về những thất bại, tiếc thèm, nhưng với giọng “trai lơ”, giàu “chí tưởng bở”: “Ru cho lửa bén vào rơm/Cho con diếc nhảy vào nơm tre ngà/Ru cho một ả mái gà/Đẻ lang sang đất sang nhà của tôi/…Ru cho dải yếm thắt lưng/Gặp tôi phút chốc tưng bừng tuột ra!” (Ru hàng xóm). Một cái liếc mắt vào tình yêu của thời hiện đại: “Tình yêu nghĩ thật lạ lùng/Rồi bai, rồi gút, rồi bùng thật xa!/Mưa rơi thỏa thích người ta/Cau mình phơi gió…thế là cau khô!” (Phơi gió). Một cái nhìn tưởng là tinh nghịch nhưng đằng sau là cả một nỗi buồn thăm thẳm về thời gian, thân phận con người: “Bây giờ cau đã xế chiều/Trầu xanh nguội lá, đã nhiều sương đêm!/Thôi thì cứ gọi là em/Để em trẻ lại mà têm trầu già” (Của giời). Một sự ngẫm ngợi, chôn cất những bí mật tình yêu nhưng lại cởi ra bất ngờ và lãng mạn ở tận miền siêu thực: “Ta chôn im lặng vào lời/Như chôn xuống đất vàng mười - thật sâu!/Vàng này…ta chẳng tiêu đâu/Mai về cõi gió…gối đầu ngắm trăng!” (Im lặng). Nhưng dẫu đi ngang về tắt những lối trăng vàng, dẫu tưng bừng đưa liếc hay giấu nhẹm nỗi lòng thì Đinh Nam Khương vẫn trĩu nặng dòng cảm vân vi, thương nhớ của những ký ức dần xa, những biền biệt cõi người: “Tôi về góc phố ngày xưa/Tìm em ngồi bán gió mưa cuộc đời/Phố không còn tiếng em mời/Ngô không ai nướng - đất trời bỏ không!/…Ngô non mùa nướng đã già/Bấm không thấy sữa như là ngày xưa!” (Mùa ngô nướng)…

Lục bát Đinh Nam Khương có lúc là lối dẫn kể dân gian, như là ông muốn “nôm” hóa cho gần đời sống (Đường về nhà tôi)? Có lúc thơ lại dào dạt như chảy ra từ mạch nguồn ca dao. “ Hỡi cô đồng nát kia ơi/Mua tôi tất cả…tôi thời bán cho?”, chắc chắn khởi nguồn từ “Hỡi cô tát nước bên đàng/Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”. Ông không chối bỏ âm hưởng ca dao. Tình thơ, ý thơ, thi ảnh còn phái sinh từ lối nói ngược của của ca dao cổ. Ca dao: “Bao giờ trạch đẻ ngọn đa/sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình” thì ở ông: “Ai làm cho ngói thất tình/Cho mây xuống tóc, cột đình đi tu?/À ơi, trời đã cuối thu/cây bàng trụi lá sương mù đã dăng!” (Tôi ru tôi). Ai làm cho ngói thất tình, cho mây xuống tóc, cột đình đi tu cũng thật mới và hiện đại. Hoặc: “Đợi chờ tôi vẫn cắm sào/Cô đơn bói cá đậu vào nhớ mong!” (Bến sông)…là những câu thơ mới, giàu biểu trưng, không hiếm gặp trong tập.

Bên cạnh việc hấp thụ từ ca dao truyền thống, Đinh Nam Khương cũng gần Nguyễn Bính, có lúc như hình với bóng. Chứng tỏ, ông yêu và chịu ảnh hưởng từ một trong những bậc “tiên chỉ” của làng thơ lục bát Việt, thi sĩ phiêu lãng bậc nhất thiên hạ, với khẩu khí “Giày cỏ gươm cùn ta đi đây” nhưng lại “Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa”. Vì vậy, Đinh Nam Khương tự sự: “Dẫu rằng dưa, muối, tương cà/Còn hơn ở chốn phồn hoa thị thành!/Thịt gà em rắc lá chanh/Áo quai, quần cộc bao anh khát thèm/...Phố phường là của người ta/Người đông như kiến, quỷ ma cũng nhiều/Về thôi! Về thôi! Em yêu!/Bờ đê ta ngắm…Những chiều trăng lên!” (Về thôi em). Những câu thơ luôn khao khát trở về với những giá trị và vẻ đẹp nguyên sơ của quê làng.

Đinh Nam Khương gắn bó và thủy chung với lục bát một cách bất vụ lợi, không xu thời. Ý thức đổi mới của ông không ở hình thức, cấu trúc, những va đập ngôn ngữ…như một số người làm thơ lục bát ngắt dòng, chuyển nhịp…, mà là sự tìm tòi, đổi mới ở hàm lượng cảm xúc, nội dung biểu cảm, những ngữ nghĩa mới trên “phong thổ” ngôn ngữ cũ, do hiệu ứng tu từ.

Trước bề dày ca dao, lục bát và những giá trị mà thể loại này đã bồi đắp, việc làm tươi mới, có được “giọng” là không hề dễ dàng. Nếu không vượt qua, không tìm cho mình một lối đi riêng, nhà thơ sẽ nhòe mờ như cỏ dại lơ thơ trên cánh đồng phì nhiêu lục bát. Mừng cho Đinh Nam Khương, ông vẫn trụ được trên cánh đồng chuyên canh của mình. Ông là một trong không nhiều, các nhà thơ lục bát đương đại có đóng góp cho thể loại thơ này; mà cách nay hơn ba thập niên, Xuân Diệu đã từng nhận định: “Đinh Nam Khương đã góp trả lại giá trị cho thể thơ lục bát…”.

Một lần nữa, tôi cho rằng Lặng lẽ một dòng sông vẫn kế truyền được những giá trị thơ truyền thống mà ông tâm niệm và theo đuổi. Và nó, như đã cộng thêm một “tín phiếu” quan trọng bầu nên thi sĩ Đinh Nam Khương. Bí quyết này nằm ở sự luôn thức ngộ một cách giản dị: “Nhiều khi mải chuyện lăng nhăng/Ta quên mất một vầng trăng trên trời/Nhiều khi chen lấn với đời/Ta quên kỳ diệu sáng ngời ánh sao!”. Vâng, ông đã tạo nên “phong thủy” nghệ thuật của thơ mình. Đó là sự  dân dã, gần gũi, không ồn ào, cần mẫn như một dòng chảy lặng lẽ giữa “Hai bờ cổ tích ca dao” để tạo nên sức sống dào dạt của thi ca.

 

Hà Nội, ngày 1/3/2014

 

Lên đầu trang

Nguồn: vanvn.net

 

Các bài khác:
· CÓ MỘT ĐƯỜNG THƠ MANG TÊN HOÀNG VŨ THUẬT
· KHÍ PHÁCH BỬU CHỈ TRONG PHONG TRÀO SINH VIÊN
· "TRĂNG NỞ NỤ CƯỜI" CỦA LÊ ĐÌNH CÁNH QUA LỜI BÌNH PHẠM NGỌC THÁI
· NGUYỄN HOA VÀ THƠ
· NGUYỄN HUY THIỆP NGỪNG VIẾT
· ĐỨNG TRÊN ĐÔI CHÂN CỦA MÌNH
· NGUYỄN THI - TÀI NĂNG ĐẾN TỪ TRẢI NGHIỆM CUỘC SỐNG
· CAO BÁ QUÁT – MỘT THIÊN TÀI KỲ VĨ CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM
· NHỚ GABRIEL GARCIA MACQUEZ
· BA BÀI THƠ CỦA TƯỜNG LINH, TẦN HOÀI DẠ VŨ, NGUYỄN ĐÔNG NHẬT
· ÂM HƯỞNG KINH THÁNH TRONG NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN
· LỤC BÁT HÀN THỦY GIANG
· BÌNH NGUYÊN TRANG - LỬA THƠ CÀNG DẬP CÀNG NỒNG
· GAGARIN QUA CẦU TREO SÔNG MÃNG
· LÊ MINH - BÀ LÀ AI?
· BÙI GIÁNG - TRIẾT GIA VÀ THI SĨ
· TRAO ĐỔI VỀ TIỂU SỬ, THƠ CA HỒ XUÂN HƯƠNG
· TRƯƠNG XUÂN HUY- "GỬI THƯƠNG NHỚ VỀ SÔNG"
· NGÀY CÁ THÁNG TƯ KỂ THẬT VỀ TRỊNH CÔNG SƠN
· BỐN BÀI THƠ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LẦN ĐẦU ĐƯỢC CÔNG BỐ

 

  
Gia đình Bích Khê