DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
BA TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN TRÍ

Tác giả Nguyễn Trí sinh năm 1956, so với những người có duyên nợ với văn chương, anh bắt đầu viết khá muộn, khi đã ở tuổi “tri thiên mệnh”. Nhưng cái tên Nguyễn Trí ngay lập tức gây được sự chú ý từ những truyện ngắn đầu tiên xuất hiện trên các báo trung ương. Truyện của Nguyễn Trí cuốn hút được bạn đọc bởi giọng điệu riêng và những tình tiết, chi tiết độc đáo xuất phát từ chính những trải nghiệm, chiêm nghiệm của một người có đời sống đã từng mang nhiều nỗi đoạn trường. Xin trân trọng giới thiệu 3 truyện ngắn tác giả mới chọn và gửi tới chia sẻ cùng bạn đọc.

Tác giả Nguyễn Trí tại Bảo tàng Văn học Việt Nam (ảnh: Phan Giang)

 

Trong nghĩa địa

                                                                                                                                             

Chùa nằm trên gò nên gọi Gò Chùa. Dười chân gò là Nghĩa Địa Xóm Chùa, gọi vậy là do cư dân ở một bên, nghĩa địa một bên. Từ lộ muốn vào xóm  phải đi qua một ngôi miếu tên Miễu Bà Xóm Chùa.         

Được chôn trong cái nhị tì nầy là ngon lắm nghe. Vào, đã có Bà dẫn độ, nằm, đã có Phật độ trì. Bên Bà bên Phật đố con quỷ vô thường nào dám héo lánh mà bắt hồn uổng tử về Diêm La điện.  Chả phải riêng dân xóm tin vậy mà dân các xã lân cận cũng muốn người thân mình có một chỗ trong nghĩa địa nầy. Nhưng xưa nay xã nào chả có nghĩa địa? Dân ở A mà chôn ở X ư? Đâu có được, khó lắm.          

Nghĩa địa được điều hành bởi người ở xã chớ giỡn chơi sao? Ai ra đi phải có giấy báo tử. Người chết được cấp một lô có giá cả hẳn hoi. Giấy chứng nhận giao cho người trông coi nghĩa địa, ai không có  tấm giấy đính cái mộc đỏ lói đừng hòng được vào với Hùng. Mọi cái từ hốt cốt, chôn cất chi chi mô mô đều phải được sự đồng ý của  Hùng Nghĩa Địa. Cả cư dân xóm nầy ai muốn chi, làm gì đều do Hùng điều hành. Ai cà nghinh, cà bật là thất nghiệp dài hạn liền.        

Thiệt đó, không ai rảnh mà đùa đâu, không tin cứ vô nghĩa địa xóm chùa để thấy cái hoạt động rất chi xôm tụ ở đó. Dám đảm bảo chả đâu trên ta bà sướng và nhàn nhã bằng dân đây. Mới bảnh mắt là chí ít cũng chục sòng nhậu được bày, mỗi sòng ba bốn năm trự, có sòng hiện diện cả phụ nữ phì phèo thuốc lá. Đừng tưởng họ nhậu vậy mà bê tha nghe, nhậu ra nhậu làm ra làm. Ngó vậy chứ việc ở nghĩa địa hà rầm, nhỏ to có hết và thù lao luôn luôn hậu. Còn cái sự nhậu thì chả tốn xu teng nào, toàn của bá tánh cả thôi. Ngày nào không dăm, bảy đến chục người thân đi thăm mồ mả con em. Ngày nay đâu ai cúng xôi chè oản chuối nữa, chỗ khói hương nghi ngút nào không vịt cũng heo quay, bia bọt. Đặc biệt những ngôi mộ mới, dân xin số đề cúng thôi thì khỏi nói.      

Công việc thì đầy. Từ đào huyệt, xây Kim Tỉnh, hốt cốt, lau mã đều được phân chia từng nhóm một. Các nhóm nầy cứ tự nhiên ăn nhậu. Mọi việc đã có Hùng Nghĩa Địa lo. Trước, Hùng chả là cái ôn dịch gì, thiếu đói đến nhà cũng không có mà ở. Hùng ngụ tại miễu bà. Ngày ngày hưởng sái đồ cúng, có người tới thăm con em nhờ dẫy dùm đám cỏ cho tiền, lại có người nhờ hốt cốt, đào huyệt… Cái chi Hùng cũng ra tay, lại rủ thêm vài đệ tử thất nghiệp vô hội. Ba cái vụ dính dấp vô chết chóc tiền ngon lành lắm, người năn nỉ xin theo. Tiền cũng vậy mà vô túi Hùng phần hơn.  Xưa nay kẻ có tiền là cha. Cha nhận việc cùng bầy em ra tay. Riết rồi lên lão. Hùng nên và ra kể từ khi mua được mảnh đất tuy hẹp chiều ngang nhưng dài sọc đối diện nhị tì. Trên mảnh đất nầy Hùng dựng một căn, kiếm chỗ chui ra chui vô, làm luôn cái phần trông coi nghĩa địa. Hùng phân lô bán cho bầy anh em cùng nghiệp, vậy là ra xóm. Xóm Chùa. Ông chính quyền cũng mặc nhiên công nhận Hùng là trùm.     

Ai muốn chôn cất phải qua Hùng, nhờ anh chỉ cho một mảnh đẹp đẹp, đào dùm cái huyệt và xây giúp cái Kim Tỉnh. Chôn xong nhờ chú xây luôn cái mã… Giá cả xong, Hùng gọi đệ tử. Đang khề khà là đứng dậy xà beng cuốc xẻng lên đường. Ai xây cứ xây, ai đào cứ đào… Nhà nào giầu có muốn mã chụp bằng đá hoa cương Hùng nhận luôn. Dân làm mã chụp xứ nầy biếu Hùng năm phần trăm thêm một ngàn cái bắt tay có kèm cám ơn.    

Ngon nhứt là vụ hốt cốt. Ai có con em nằm dưới đất lâu quá rồi, nay nghe thầy nói, phải hốt gửi vô chùa để hương hồn người chết hưởng hương khói và lời kinh tiếng kệ. Có vậy người sống mới ăn nên làm ra. Vậy là Hùng ra tay từ a đến z. Mấy thằng đệ lơm cơm, được cái miệng chứ đụng vô cốt thì rúm người. Ok – Hùng nói – bây cứ đào, chừng nào đụng áo quan thì để đó cho tao. Cái nào mục nát thì còn áo quần và đồ táng. Chả biết Hùng học được cái nghề hốt cốt ở đâu mà hắn rành sáu câu. Hốt phải từ chân trở lên. Bắt đầu từ xương bàn chân, ống quyển, xương đùi… vân vân , tất cả được Hùng xếp đâu ra đó trên một mảnh giấy trắng lớn, rồi cho vô tỉn. Chuyện xin nhập vô chùa Gò cũng do Hùng đảm nhiệm. Sư trụ trì ở đây quý Hùng lắm. Chả phải nhờ Hùng mà Chùa ngày càng phát nhờ bá tánh các nơi tụ về công quả đấy sao? Mấy tay ở thị xã, thậm chí cả phố lớn, kẹt quá cái vụ chôn, đem người thân vô lò thiêu thì không nỡ nên nhờ Hùng chạy chọt dùm.     

- Dạ - Hùng nói – khó lắm mấy anh ơi. Phải dân đây mới được nằm trong nhị tỳ nầy, người xứ khác là ông chính quyền đây không duyệt đâu.   

- Vậy mới nhờ anh. Thằng em tôi mới chôn được hai năm, nay giải tỏa phải di dời. Anh lo trọn gói vụ nầy dùm, tôi thù lao hậu cho.   

- Là sao?    

- Thì nhờ anh bốc luôn cốt về đây.     

- Ai cha… mới có hai năm là còn thịt, chuyện nầy khó lắm đó nghe. Tốn hơi nhiều nhiều à.  

- Thì anh cứ cho giá.      

- Muốn yên vị trong nầy phải chục chai. Hốt mấy cái cốt còn tươi chục chai nữa, bộ dao anh lo à.      

- Dao gì anh?      

- Dao lóc thịt chớ dao chi.       

- Thì anh lo giúp tôi luôn.      

- Thêm chai nữa nghe.      

- Rồi… Chuyện nhỏ.   

Vậy là xem như xong. Hốt cái cốt ở A, đem về yên vị trong nhị tỳ nầy là ngoài hai chục chai. Đừng tường vậy mà Hùng ngon lành nghe. Chi ra cũng bồn bộn à:     

 - Nè, bà Tám. Bà làm cái đơn xin đưa cốt của thằng em ruột trên phố về đây, tui cho bà một chai.      

- Thánh thần ơi, tao có biết chữ đâu mà từ với đơn mậy.      

- Vậy cho thằng Tâm vài đồng nó viết cho.      

- Mày chung cho thằng Tâm nghe.       

- Thôi bà nội. Tui mang đơn đi chứng còn phải chung cho bà Long trưởng ban. Ba chai là tiền đất còn lót tay cũng hai chai nữa bà ơi. Cốt chưa hốt mà chung đã hết gần nửa rồi. Bà không làm thì tui kêu cha Tính à.   

-  Thôi, để tao… Ê Tâm, viết tao cái đơn mậy.      

- Hai xị nghe bà.          

- Năm chục không viết thì thôi, tao ra in tờ nét biểu nó gõ cho lẹ, mười ngàn là hết phép.   

Bước kề là hốt cốt. Bà chúa ăn mày ơi, con xin thề bà mà dám ra tay vô ba vụ nầy là hơn cả chúa. Hãy nhìn nè. Khi cái áo quan lộ diện. Bắt đầu thò xà beng vô để cạy lớp đinh đóng nắp là bọn hành nghề đã tưới rượu từ đầu đến tận chân. Hai thằng nâng nắp đặt lên đống đất. Những cái xác chôn chưa đến kì chỉ mắt quỷ mới dám nhìn. Mấy nhà giàu khi liệm còn bọc trong nilon, dân chơi xứ nghĩa địa bịt khẩu trang ướt đẫm rượu những hai cái mà cái mùi đặc trưng vẫn làm quặn thắt ruột gan, da gà rùng rùng dậy lên cả đỉnh đầu. Một cái mùi không bút mực nào tả được khi túi nilon được mở. Chỉ bọn phu là không, còn người thân của xác chết ai không ói mửa khi bắt mùi người đó là thú chuyên ăn thịt xác chết. Vâng, ói hết cái có trong bụng rồi ra cả mật xanh. Cái mùi ấy sẽ vương mãi trong kí ức bất kì ai có hân hạnh một lần trong đời được thoáng ngửi qua.      

Bọn lóc thịt xác chết sẽ cầm can rượu lên tu ừng ực. Thời điểm vung lưỡi dao mổ cho đến khi hoàn tất họ chỉ uống, nhiều ngày sau cũng uống nhiều hơn ăn. Thực vậy, vô cùng kinh rợn khi lóc những thớ thịt đã bủng nhủng bùng nhùng. Quan trọng nhất là cái đầu…  Chỉ máu lạnh thì chưa đủ để làm cái nghiệp nầy, nó cần phải phải biết tu rượu ừng ực nữa. Xong đâu đó người ta sẽ đưa bộ xương vào một cỗ hàng mới, cũng thợ thầy kinh kệ đưa hồn người chết về nơi yên nghĩ mới. Đó là những bộ cốt còn nguyên vẹn hình hài, giá cao vọi vì chả ai dám làm. Thực ra chủ xị như Hùng cũng chả kiếm được bao nhiêu. Đơn từ một chai, đất chôn ba chai, chung chi hai nữa. Mười chai cho bốn thằng ra cốt. Hùng ẵm năm triệu bạc cũng chẳng bõ bèn gì. Tuy nhiên, vài tiếng đồng hồ kiếm chừng đó trần gian nầy mấy ai được vậy?      

Riêng những bộ cốt hốt xa về mà không đưa vô được chùa để hưởng khói hương kinh kệ thì Hùng nuốt ngon cơm nhất. Nhưng tại sao đã hốt về mà không vô chùa? Đơn giản thôi, những cái gửi vào chùa là những cái tỉn, cái hũ nằm gọn trên một cái đĩa, tức là cốt chỉ là nắm đất, nhiều lắm còn chục mảnh xương đã xỉn một màu mục nát. Còn những bộ cốt phải bỏ vô quách, vô lu để chôn lại thì Hùng cho yên vị trong đất cũ.       

Là sao? Cũ mới gì ở đây?       

Nghĩa là có những ngôi mộ đã được hốt gửi vào chùa, phần đất còn lại nằm đó ta để làm chi? Hùng cũng đơn từ, mộc đỏ ra cái đất mới như ai. Những người tuy cùng xã nhưng ngoài khu vực Xóm Chùa thì ai biết chi trong nhị tỳ? Vậy là bỏ tiền ra mua mới, đâu hay rằng con em bà con mình nằm trong chỗ mà trước đó đã có người yên nghỉ. Nhưng mà chuyện đó đâu có sao. Được yên vị ở nơi được tiếp rước có Bà, lại được nghe sư sãi công phu hết khuya lại sớm thì có tốn kém cũng nào có đáng chi. Vả lại việc nầy chỉ Hùng cùng mấy anh em thân thiết và trưởng ban điều hành biết mà thôi. Mà mấy tay nầy ngu sao hở miệng? Hở ra là mệt mỏi liền.     

Ngoại trừ kiếm chác tương đối từ những công đoạn nêu trên, Hùng Nghĩa Địa còn chấm mút tí tí từ những việc vặt như lau mã đá, quét vôi mã xây, làm cỏ mã đất. Với can nước ba chục lít và cái khăn, lướt sơ qua cái gạch men hay hoa cương là hai trăm bạc. Hùng giao lại cho bà hai bà ba chi đó trăm rưởi, mình bỏ túi năm chục mua ba số hút chơi… nhất là những ngày trong vụ thanh minh dân nghĩa địa xóm chùa thôi thì hốt bạc, hốt luôn đồ cúng từ các loại thịt cho đến bia bọt. Mã nào cũng heineken sang như ông hoàng xứ Ba Tư.       

Anh Hùng bảnh tỏn vậy mà hơn bốn mươi vẫn độc thân mới tội nghiệp. Mà anh đâu xấu xí gì cho cam. Kén cá chọn canh chăng? Không phải đâu. Nghe rằng anh chơi bời hoang phế lắm, tuy chẳng xì ke xì kiếc gì nhưng mà gái gú cà phê ôm dữ lắm, lại xả láng sáng về sớm nên bị vương cái hát i vê ết. Vậy là xong  phim, gái gú nào dám đụng vô ngữ nầy mà sửa túi nâng khăn? Mà không chừng nhờ ết iếc nên người ta ngơ cho để anh cha chú trong nghĩa địa chăng? Cũng dám lắm.       

Đời tưởng đơn giản như đang giỡn ngờ đâu bể chuyện mới chua như dấm. Mà lại bể bởi một thằng ngoại đạo lãng ồ mới đau. Thằng nầy dân trong xã, em nó đi rà cá bị xe tô một phát chết tươi, thằng tô biến mất dạng. Thằng anh ra xã xin đất, đem người đến đào huyệt. Nó lựa miếng đất đẹp nhất rồi ra tay mà không thống qua Hùng Nghĩa Địa:

- Ê – Hùng lên tiếng – Ai cho mấy ông đào ở đây vậy? Giấy tờ giao lô đâu?

- Tao thích đâu đào đó – Thằng anh nói - Mày là cái củ gì mà hỏi?      

Điên gan, lại có rượu Hùng ta sửng cồ đòi thoi thằng xách mé. Thằng anh có em chết oan mạng cũng điên lên thoi mấy cú đấm vô mặt Hùng liền một khi. Thôi thì máu mũi máu miệng cùng với răng cỏ hòa chung một đống. Hùng nhảy vô nhà xách ra một cây mã tấu quyết ăn thua đủ với thằng bạo ngược. Bầy con nít, đàn bà nghĩa địa chạy ra xã báo cáo, ngay lập tức công quyền có mặt. Phải nổ một phát chỉ thiên hai thằng mới buông vũ khí mà sử dụng võ mồm. Thằng có em bị chết có vẻ rành:

- Mày cha chú đây hả? Chuyến nầy mấy ông địa phương đây không làm cho ra ba cái vụ dân phố, dân thị trấn, thị xã… không hộ khẩu xứ nầy mà có phần mộ ở đây là thấy mẹ với tao. Mày với bà Long bán đất nhị tỳ cho ai, ở đâu, bao nhiêu phần, bao nhiêu tiền… tao đây nắm trong lòng bàn tay. Chuyến nầy sám hối đi con. Mày tưởng tao ngu nên khu đen chắc, đem cái si đa si điếc ra hù hả? Mày tưởng tao không biết gia đình vợ con mày ở đâu hả?     

Ai cha… nhìn cái mặt Hùng tái ngắt là biết rồi.

Chuyến nầy bà Long mất chức chứ không chơi.

 

 

Nhí Đen và chuyện không thể tin

 

Nhí. Đen nhẻm nên thiên hạ gọi Nhí Đen. Cũng thiên hạ với cái đa sự lắm lời:

- Bà mẹ nó, cha trắng, mẹ như bông bưởi, bà cô cũng không đen vậy mà nó như dân Khơ-me.  

Rồi cũng chính thiên hạ:

- Nó phơi nắng hồi còn  nhỏ, không đen mới lạ à.    

Tội nghiệp Nhí lắm. Nó rớt vô một cái gia đình bị quỷ ám. Cha nó tệ một cái hết biết luôn, đàn ông đàn ang gì mà sáng xỉn chiều say, giao việc kiếm tiền cho vợ. Mà phải chi già cả thì còn có thể cho qua, đằng nầy trẻ trung phơi phới. Mới sáng, Đỏ - cha Nhí – làm hai xị với tô bánh canh. Tiền bạc đã có má Nhí lo. Phê phê  là về nhà văng tục chửi thề, vợ mà mè nheo là cho ăn cù loi, chị ruột nhằn nhò thì:

- Dẹp mẹ bà đi, nhà của tui, xét cần tui cho bà biến à.    

Gặp trúng chồng như vậy, quả tình nếu không vì Nhí bà má tội nghiệp bỏ từ khuya. Cũng đã đôi lần má ẳm Nhí định làm một cuộc tháo chạy, kẹt cái bà chị chồng canh cháu hơn cú canh nhà bịnh. Chả là Nhí trong tay cô từ lúc lọt lòng. Cô không chồng vì vô duyên và xấu ình nên lấy Nhí làm vui sống. Lúc đầu má cũng mừng vì có người chăm con để mình đi kiếm cái ăn, cả cái nhậu cho chồng. Đàn bà con gái lam lũ trên cạn dưới sâu, trưa về vắt sữa nóng rồi mới cho con bú, tối đến lại bên con bên chồng nó vất lắm. Đến lúc quá chán thằng xỉn say, muốn ẳm con ra đi thì cũng mệt với cô:

- Mày muốn đi đâu đó kệ mày, con Nhí để đó tao.       

Sở dĩ bà cô nói vậy là do má Nhí đi phụ hồ có quen một anh thợ xây. Anh thấy má mắt đăm chiêu xa vắng. Đàn bà con gái dù mặt không xinh có mắt nầy dễ làm đàn ông động lòng lắm, huống chi má Nhí đẹp luôn nói chi xinh. Vậy nên anh thợ hỏi han, rằng sao buồn dzậy em? Rồi anh mua nước mời mắt buồn uống, trưa lại dọn cơm ăn chung. Má Nhí bị ngọt ngào làm rúng động, tóc tai môi má tươi trở lại. Và không qua được mắt bà cô già xấu vô duyên.      

Một hôm kia má biến mất. Nhí cũng không khóc vì từ khi bỏ bú Nhí ngủ với cô. Cô dẫn cháu đi làng trên xóm dưới mỉa mai, trách móc về một cô em dâu táng tận lương tâm nỡ theo tình bỏ con thơ dại. Nhưng thiên hạ biết lắm cái hộ nầy nên nói rằng:

- Vậy là bà phải cám ơn. Thằng thợ hồ mà chịu để má con Nhí dẫn con theo là bà hết có cái hú hí để vui lúc về già đâu bà nội ơi. Với lại ở với chồng như em bà thì thà chết cho xong.     

Vậy là bốn tuổi Nhí mất mẹ. Mất luôn, vì từ đó má không về thăm Nhí dù chỉ một lần. Sau đó  ông cha nghiện rượu cũng mất. Rượu và sự lạm dụng đến thái quá khiến cha Nhí bị mất trí. Anh ta đi dọc theo lộ lượm rác bỏ vô bao, cứ vậy ngày nầy qua tháng nọ. Cho đến một hôm chả ai thấy tăm dạng ba hồn đâu nữa. Thiên hạ luận rằng có lẽ chết vì trúng gió hay xe tô chết đâu đó rồi. Với Nhí điều đó chả có chi lớn, cha là chi Nhí có biết hay cảm nhận được đâu? Lâu lâu nhớ về mẹ, có hỏi cô má sao không về, cái miệng Nhí nhỏ nhỏ xinh xinh, hỏi han nghe thương lắm, vậy là cô ôm cháu vào lòng thương thôi thì khỏi nói.      

Bao nhiêu yêu thương và tiền cô lo cho cháu tất. Cô cặm cụi làm thuê, Nhí ở nhà vui cùng chúng bạn, hết lê la nghịch bẩn rồi dang nắng phơi mưa nên đen thùi. Nhí Đen dữ dằn lắm, có lẽ cái con lăn quăn của cha khi đặt vào bụng mẹ bị xỉn rượu chăng? Hay cái trứng của mẹ có mầm phản kháng? Dám cả hai lắm à. Vậy nên lũ bạn cùng trang lứa, đứa nào cà chớn là bị Nhí cho rơi nước mắt. May mà bà cô cũng mồm loa mép giải, bênh cháu chằm chằm mên mấy mụ mắng vốn phải chắp tay chào thua.        

Chuyện đi học của Nhí cũng nhiêu khê. Cha mẹ gì đâu mà đẻ ra chẳng chịu làm khai sanh cho con. Cô lên xã xin làm khai sanh cho cháu bị tay hộ tịch đòi phạt nầy nọ, năn nỉ không chuyển được với cái luật lệ chi đó mà tay hộ tịch trình bày, cáu lên:

- Chú mà không cấp khai sanh cho cháu tui, nó dốt là chú phải chịu à. 

- Chị phải nột phạt vì trễ hạn, đó là luật.

- Nhưng chú thấy đó. Tui không tiền chú hiểu không?

- Tui hiểu bà rồi ai hiểu cho tui?     

Đến đây thì bà cô tru tréo lên. Ông Chủ tịch đang làm việc ở phòng bên nghe ồn vội ra nghe ngóng, sau đó ông chỉ đạo cho tay hộ tịch cho qua cái vụ việc nầy. Phải uyển chuyển và tùy đối tượng, ông bảo vậy. Bà cô thắng lợi dẫn cháu lên trường, đi đâu bà cũng nói tụi nó chớ mà làm khó được tui. Nhí cũng vậy, ở trường bầy bạn học kể cả con trai cũng đừng ai hiếp được Nhí. Đúng là không cha, không cả mẹ, thêm một bà cô mà ông bà đã đe thành câu con hư tại mẹ cháu hư tại bà…       

Mười hai tuổi Nhí nghỉ học, được cái lớp năm. Bà cô khóc hết nước mắt mà Nhí vẫn không chịu học nữa. Thứ nhất là lớn ầm và cao nghệu mà vẫn ngồi với mấy nhóc Nhí khó chịu lắm, thứ hai là có chuyện với nhỏ Linh bạn cùng lớp, ngồi chung bàn. Cô giáo xếp cho Nhí ngồi bàn cuối, nhưng nghịch quá, đầu têu cho mọi phá phách nên cô chuyển lên cạnh nhỏ Linh. Linh con nhà tương đối, đi học có cha đưa đi mẹ đón về. Cha lại là hội trưởng hội phụ huynh. Nhí học kém, lại quậy phá nên Linh không ưa. Cái thái độ khinh khỉnh (Nhí bảo vậy) làm Nhí chướng con mắt. Hôm đó kiểm tra bài tập toán Linh đứng dậy mách cô:

- Thưa cô bạn Nhí cóp py bài em.    

Cô giáo lại chuyển Nhí xuống bàn cuối. Ra về Nhí chận Linh lại và xáng cho con bé hai bạt tai. Con bé lu loa lên, đúng lúc cha nó đến rước. Ông hội trưởng nóng mũi kiểu no mất ngon, sau khi bạt lại cho đã nư ông lôi Nhí vào văn phòng nhà trường yêu cầu giải quyết. Tất nhiên lỗi thuộc về Nhí. Cô giáo buộc phải xin lỗi bạn. Nhưng Nhí không xin, nó hỏi tại sao?

- Tại vì em đánh bạn. Em có lỗi. – Cô giáo chủ nhiệm nói.    

Nhí lí sự:

- Vậy ổng đánh em, ổng có lỗi không?    

Cả văn phòng chưa kịp trả lời câu hỏi thì Nhí đã ôm cặp bỏ về sau khi thòng một câu:

- Ổng còn chửi em là đồ mồ côi, là mất dạy…

 

***

Mười hai, mười ba rồi mười bốn Nhí theo cô kiếm tiền. Cô phụ hồ trong mấy công trình. Nhí đi theo và ăn cắp phế liệu. Ba cái sắt vụn, đầu thừa đuôi thẹo sau khi gia công giúp Nhí với cái nhanh nhẹn kèm láu lỉnh cũng xủng xoẻng tiền, thậm chí còn nhiều hơn bà cô đầu tắt mặt tối. Nhí làm ra bao nhiêu tự giữ lấy, bà cô cũng mừng vì không phải lo cho một con nhỏ bắt đầu dậy thì với lắm điều cần thiết. Nhí tụ tập cùng chúng bạn. Cũng lũ bạn mà hoàn cảnh có đứa còn bi hơn Nhí. Như nhỏ Thảo, cha mẹ chia tay, cha lấy vợ mẹ có chồng. Sau khi chia của Thảo ở với mẹ, mẹ gửi Thảo vô chùa. Hỏi,Thảo nói:

- Ông dượng ghét tao.

- Sao mày không ở với ba?

- Bà má ghẻ ghét tao luôn.    

Nhỏ Như cũng y khuông như Thảo. Được cái, hai nhỏ nhận trợ cấp từ hai nơi nên tiền bạc muốn xài chi có nấy. Thảo, Như có cả ai pắc ai phôn, ba cái nghe nói, quay phim chụp ảnh là đồ bỏ… Tuy ở chùa nhưng Như, Thảo khoái xoài với mắm ruốc lắm, cả thịt chó cũng không từ. Nhí thì cái gì cũng thông. Nó còn hơn bạn khoản bập phà thuốc lá và đôi khi có uống vài li rượu đế.      

Trời đất ơi. Có vụ đó à?     

Có chi đâu mà đất trời hay thiên địa. Thời nào chả vậy, khi mà con người ta bị đẩy vô thế vô bến vô bờ, sống kiểu hoang dã thì chỉ có thuồng luồng chứ làm chi có giao long. Bạn của Nhí cả gái lẫn trai tuy nhí nhố bé hạt tiêu nhưng tâm hồn khô cháy lắm. Lũ trai uống rượu nói ê Nhí làm hớp mậy, dân chơi mà sợ mưa rơi à? Vậy là Nhí làm một hớp, nhận điếu thuốc Nhí cũng kéo một hơi. Riết rồi quen. Nhìn Nhí cầm điếu thuốc sành điệu như thứ thiệt bà cô hoảng hồn, nhưng khi bà biết thì quá muộn. Nếu biết sớm hơn thì làm gì được nhau nào? Cấm được không? Thôi thì kệ.      

Mười sáu tuổi Nhí làm môt chuyện lớn đến chấn động một cõi ta bà. Hôm đó có tí men trong người, đang trong hẻm đi ra thì tình cờ gặp nhỏ Linh đang đạp xe đi học về. Mới lên lớp mười Linh rất xinh trong áo dài trắng. Nhìn Linh, Nhí nhớ đến chuyện cũ, nó chận đầu xe Linh lại rồi gằn giọng:

- Xuống xe tao biểu mày.     

Nhỏ Linh cũng không vừa, thời nầy chả ai vừa hết:

- Thả xe ra, cà chớn hả? Đồ bụi đời, vô học.     

Điên lên Nhí nhào vô. Thôi thì đàn bà con gái đánh nhau, ai cũng toe xơ mướp và tóc tai rũ rượi, nắm đầu nhau mà không rũ mới lạ à. Thiên hạ được một dịp coi đã rồi nhảy vô can. Mạnh hơn, lớn hơn nên Nhí có phần thắng, Còn Linh áo dài bị xé toạc hai tà, Cô phải túm hai bên nách mà chạy về nhà, Ngay lập tức ông cha cô có mặt. May mà Nhí đã bị di lí về xã còn không không biết chuyện chi xẩy ra. Lần nầy bà cô không còn nước mắt nữa mà rơi. Cha Linh tuyên bố xã mà không đưa Nhí đi giáo dưỡng là ông kiện lên tận huyện. Thứ như Nhí là cần phải loại ra cộng đồng xã hội.     

Nhưng mà chuyện đánh nhau là đôi bên cùng có lỗi. Nhí được thả về và phải chịu bồi thường cơm thuốc, thêm cái tài sản nhỏ Linh bị mất gồm một dây chuyền hai chỉ và cái áo dài. Giận dữ vì không xử đúng như ý mình, ông cha đến tận nhà văng tục:

- Tao không cho qua chuyện nầy đâu, mày không đi giáo dưỡng tao không làm người.    

Nhí mất dạy hết phép:

- Tao thách mày đó thằng già. Mày từng nói tao là mồ côi mất dạy, con mày bảo tao là vô học. Tao đi giáo dưỡng về xin hứa sẽ cho con Linh một ca acid vô mặt. Mày tin đi tao nói là tao làm. Mày có phải là người không khi buộc tao đền hai chỉ vàng? Đồ tham lam.   

Bà cô nghe cháu nói mà táng đởm.   

Con cha Linh cũng kinh tâm. Ông rút về và không nhắc đến vụ vàng vọt hay áo dài nữa.   

Có lẽ ông ta nghĩ tránh voi chả xấu mặt nào.

 

***       

Nhưng rồi Nhí cũng không thoát lưới pháp luật. Sau vụ xung đột Nhí có vẻ bất cần bạt mạng hơn, bà cô đành chịu thua con bé. Nhí cũng lớn rồi, tuy đen nhưng xinh lắm. Bạn trai bám theo cũng kha khá, loại nhà giàu đua đòi cũng có luôn, nhưng cái thứ ruộng rẫy mới lên đời ăn chơi cũng hẻo lắm. Lâu lâu thằng nào vô mánh dăm ba trăm làm thùng bia là xem như bảnh, bằng không chúng cũng lấy ba xị đế làm chủ cuộc chơi. Nhí thì bia hay rượu cũng xong. Nhìn cô nheo mắt đưa cay, miệng phì phèo thuốc lá cứ như mấy cô đóng vai bán bông trong phim vỉa hè vậy.     

Rất nhiều khi Nhí không ngủ nhà. Phê phê là cô đi kiếm nhà nghỉ, về bà cô mè nheo nhức óc lắm. Đêm bẩy mươi nghìn có nệm ngủ êm lưng hơn. Lại có nhà tắm lịch sự không như cái phi nước hôi phèn ở nhà. Tất nhiên là cô ngủ một mình. Nhí chỉ hơi bùi bụi tí thôi, cô đâu đã xả láng sáng về sớm như thiên hạ vẫn nghĩ. Thật vậy, thiên hạ ai chả cho rằng con nhỏ đó tiêu rồi, lại chửi rằng đồ ngu như bò, chơi bời hoang phế với lũ trời ơi chết ráng chịu. Ai nói kệ họ Nhí biết mình.     

Ai mà có ngờ chuyện lớn như động đất xẩy ra. Đêm ấy Nhí về nhà nghỉ, ba thằng bạn nhậu cũng nổi ưng đi kiếm trọ qua đêm, vậy là chúng về nơi Nhí thường trọ thuê phòng. Hai phòng hẳn hoi, trai gái đâu ra đó rõ nét. Xứ ruộng lên đời nhà trọ ế ẩm lắm, có khách vô là như bắt được vàng, ba thằng vai u vô một phòng, trước khi ngủ chúng ghé phòng Nhí đấu láo cho vui. Nhân tiện còn chai rượu cả bọn bày ra uống hết ngủ cho ngon. Nhí cũng uống và than ôi, cô say.    

Tỉnh dậy Nhí thấy mình đà tiêu tùng vì ba thằng bạn. Trong cơn giận dữ đến điên cuồng, Nhí lấy lưỡi dao Thái, ngọn dao nầy cả bọn dùng để gọt xoài đưa cay. Nhí vung tay cho mỗi thằng một nhát vào bụng. Đang ngủ ba thằng ôn dịch tỉnh dậy ôm bụng la như giặc dậy làm chấn động  một vùng. Chủ nhà trọ cùng gác dan ùa đến… mẹ cha ơi cả ba thằng cùng lúc và máu vương vãi khắp nơi. Nhí trong tay đang là lưỡi dao và mắt rực ánh căm thù. Nhìn qua ai cũng biết chuyện chi vì cô đang trong trang phục của bà Ê va. Ta bà bốn phương nghe la cũng chạy đến xem sao, trong đó có cả bà cô của Nhí và tay hội trưởng hội phụ huynh. Ông ta có vẻ hả hê với sự kiện, nhưng khi thấy Nhí quắc mắt nhìn mình liền lơ đi hướng khác.       

Mười tháng sau tòa tuyên án Nhí hai mươi bốn tháng tù, còn ba thằng ôn dịch mỗi thằng tám cuốn lịch vì tội hiếp dâm trẻ vị thành niên.       

Nhí thụ án ở X.

 

***       

 

Tội nghiệp bà cô lắm. Nhìn đi, bà vừa đi vừa khóc tay lủ khủ đồ thăm nuôi. Hồi còn tạm giam ở Huyện cứ tháng hai lần những cơm áo gạo tiền cho cháu. Sau khi kêu án Nhí đi X. Từ nhà đến X cả mấy trăm cây số đường, đâu có dễ mà thăm. Vậy mà đến nơi, khi làm thủ tục cán bộ trả lời làm bà rụng thiếu điều hết cả hàm răng:

- Thím về đi. Phạm nhân nầy vi phạm kỉ luật trại nên không cho thăm nuôi.   

Cô vừa khóc vừa hỏi sao vậy chú ơi. Rồi than rằng tôi xa xôi lắm, lại nghèo nên nó ra trại nhưng ba tháng mới có mà đi thăm. Chú làm ơn giúp dùm tui cắn cỏ cắn rơm vái chú. Cán bộ lắc đầu ra cái vẻ có cắn vàng cũng xin thua. Phán rằng thím về đi lần tới rồi thăm.    

Nửa tháng sau cô cháu được gặp. Cô hỏi:

- Chớ con làm cái gì mà bị kỉ luật?   

Nhí kể rằng, cô đi lao động được một trại viên nam cho điếu thuốc. Cô hút thì bị một đồng đội nữ phát hiện. Nhí nói:

- Con quỷ cái nó báo cáo để tâng công. Con bị phạt viết kiểm điểm. Điên lên, đang bữa ăn con cho nó một trận nên bị kỉ luật.

- Ủa – cô ngạc nhiên - cấm mà lấy đâu ra thuốc mà hút mà cho?

- Càng cấm càng có cô ơi.   

Cô lại thút tha thút thít rằng tu tâm dưỡng tánh mà làm lại cuộc đời con ơi. Con vậy cô đau khổ lắm. Cha mày bỏ xác đâu đó vậy mà sướng hơn cô. Nhí ra vẻ người lớn vỗ vai cô vỗ về rằng cứ yên tâm, đừng thăm nuôi chi cho mệt, để tiền đó mà lo cho bản thân, còn con hả?  Đời có cái gì hay ho đâu mà làm lại với không làm lại hả cô? Nhí nói như một kẻ từng trải lắm rồi vậy. Gì nữa mà không từng, mới mười sáu tuổi cô đã bị bạn bè phục thuốc mê vào rượu làm hoang phế đời con gái. Cô còn cái chi mà làm lại? Mà có ai cho Nhí làm lại không? Nhí đã hỏi cô của mình như vậy?    

Cô nghèo, chữ nghĩa đâu có mà trả lời câu hỏi cháu đưa ra. Cô chỉ biết khóc, khóc xong lại về để tiếp tục hành trình kiếm tiền thăm nuôi cháu yêu quý và khốn nạn. Lần thứ hai cô gặp một thằng trẻ cũng thăm nuôi Nhí Đen. Thằng nầy mập ú nu:

- Con chào cô, con tên Minh, bạn của Nhí.   

Bà cô thực sự ngơ ngác:

- Bạn hả? Bạn làm sao?   

Nhí ra gặp mặt, cô ồ lên:

- Ủa… ông cũng thăm tui hả Minh Heo?   

Sau đó bà cô mới biết Minh Heo cũng vừa mới xong án. Nó quen với Nhí ở trạm xá trại. Minh ta con nhà giàu, ăn chơi, phá của hết phép luôn. Minh hít ma túy xong lên xe rồ hết ga gây tai nạn. Minh bị kêu hết bảy năm sau khi gia đình bỏ ra cả trăm triệu bạc đền bù thiệt hại. Minh Heo ở tù gia đình mừng lắm, cho nó nếm khổ ải để thấm đời, chứ ở nhà phá quá chịu hết xiết. Tù của Minh là tù cha, gia đình thăm nuôi tháng một lần, không cha thì là gì?     

Tình cờ gặp ở trạm xá, chả hiểu sao Minh Heo thích Nhí.      

Nhờ có tí uy vì lâu năm trong trại nên Minh la cà qua bên nữ khi đi lao động. Chỉ có Minh Heo thôi đó nghe chớ anh trai khác thì đừng hòng. Mỗi lần vậy Minh cứ rề rề bên Nhí cà rỡn:

- Ra trại mình lấy nhau nghe Nhí.

- Cám ơn… Lấy xì ke như ông để chết hả?

- Bỏ lâu rồi cưng ơi.

- Ở đây thì bỏ chứ về đời thì bỏ hít qua chính luôn đó cu.

- Em mà yêu anh thì cái gì anh cũng bỏ.   

Bè bạn nói với Nhí:

- Ê , Nhí. Minh heo mê mày dữ à.

- Thằng heo mặt ngu thấy bà.  

Nói vậy chứ Nhí cũng thấy thinh thích. Tưởng về Minh Heo có em ngoài đời sạch sẽ thơm tho xin gá nghĩa, ai ngờ lại đi thăm gái hư.

- Ráng lên – Minh nói – anh chờ em về.

- Thôi – chờ làm chi anh. Em đáng gì.

- Bậy nà. Em là ngôi sao của anh đó nghe.   

Tù tội mà yêu nhau nghe cũng mùi chớ hả?   

Chưa hết đâu nghe. Lần kế tiếp thăm Nhí, Minh dẫn theo cả bà má và cô chị. Cả hai than với Nhí rằng Minh vậy vậy và vậy vậy. Đại khái là chúa của hư hao:

- Nó thích con – Bà má nói – Từ ngày về đến giờ nó hiền lắm con. Nó nói với thím là muốn lấy con làm vợ. Xưa giờ nó không coi gái ra gì hết, nó yêu con. Con mà lấy nó chắc gia đình thím hết khổ con ơi….  

Ngó vậy mà Nhí bảnh thiệt đó nghe.  

Cô về và ngay lập tức thành vợ của Minh Heo. Chả cưới hỏi gì sất.

***

 

Gia đình Minh Heo giàu có và con cái đình huỳnh lắm. Được hai con trai thì hư cả hai. Trường, anh trai Minh ngủm củ tỏi vì tham gia đua xe. Minh cũng y khuông, nêu không dính án e Minh cũng chung xuồng xuống cửu tuyền lâu rồi. Bà má và hai cô chị ngày đêm khấn nguyện cùng trời cao và hằng ha sa số phật cho thằng con còn lại thoát kiếp nạn ma túy. Thấy nó yêu và chừng như đã biết thế nào là lễ độ sau bảy năm tù tội. Gia đình cũng mừng mừng. Nghĩa là mừng có chừng, không trọn vẹn lắm. Vì rằng cái con ma tên Túy nầy ghê rợn vô song, nó quay lại rủ rê không mấy lăm hồi. Vậy nên họ o bế Nhí, biết rằng chính tình yêu với Nhí là động lực cho Minh sống và thấy đời đẹp.        

Tuy con hư nhưng gia đình chồng Nhí loại danh gia chứ không là thứ xổi thì lên đời sau đền bù giải tỏa. Họ giàu nòi nên bè bạn toàn đàn ông áo bỏ vô thùng, đàn bà áo dài tha thướt và miệng nói ra toàn lời đạo đức thiệt. Cái việc Nhí phì phèo thuốc lá làm họ hơi buồn, phải chi cô không hút thì hay quá, nhưng biết làm sao? Chị hai của Minh Heo dân có chữ hẳn hoi, đọc sách thôi thì khỏi chê, cô phân tích cho em dâu biết về tác hại của thuốc lá, nó sẽ làm cho hậu duệ của Nhí đủ thứ tật bệnh về tim mạch. Chị hai nhỏ nhẹ khuyên lơn:

- Bỏ đi cưng, chị mua Bimin cho em ngậm. Hút nhiều quá không tốt cho sức khỏe đâu.     

Kẹt cái, thuốc chứ đâu phải vợ hay chồng mà nói bỏ là bỏ. Nhí vừa ngậm Bimin vừa phì phèo, cả gia đình đành phải bó tay chấm o rờ gờ. Kệ đi, miễn sao nó yêu và lái thằng hư hỏng vô đường thẳng là được rồi. May cha cho cả nhà là chả hiểu làm sao Minh Heo lại sợ Nhí một phép. Cô mà bất định tâm trừng mắt một phát là Minh ta riu ríu như mèo bị cắt tai. Lũ bạn một thời hư hao, từng cùng Minh chết trong sa đọa đến nhà là gặp ngay bà la sát Nhí Đen:

- Đi đâu? – Nhí hỏi chồng – Đi thì đi luôn đừng về nữa à, tao cũng về cô tao ở.     

Vậy là mấy thằng sa đọa rút êm. Chúng không hiểu sao Minh ta lại sợ vợ dường ấy, chúng tuy dân chơi nhưng đâu hiểu được bấy lăm cuộc đời. Cũng chưa từng gặp những kẻ có uy, chưa từng bắt gặp những đôi mắt chỉ nhìn thôi đã khiến người khác phục tùng. Với Minh Heo thì đôi mắt Nhí là mệnh lệnh. Trong cái mênh mang và sâu thẳm của tình yêu, Minh đích thị là gã nô lệ.

- Kệ tao – Minh nói khi bè bạn trêu – Vợ tao tao sợ chứ mày là tao thoi vô mặt à.   

Cả gia đình mừng ơi là mừng. Vậy là tình yêu đã cứu vãn tất cả. Minh Heo ôm vô lăng xe hai tấn rưởi đi bỏ hàng tạp hóa cho mẹ, Nhí theo chồng thu tiền. Bà má và hai cô chị mua cho Nhí một a-ti-là để lâu lâu về nhà cho bà cô vài đồng lẻ xài chơi mà an hưởng tuổi già. Bà má cũng cho cậu con chiếc trăm hai lăm cc. Kẹt cái muốn đi đâu chồng phải xin phép vợ.      

Và Nhí lớn bụng.    

Cả gia đình danh gia mừng ơi là mừng. Riêng Minh Heo thì điếng cả người. Mẹ ơi cứ tưởng ma túy đã làm nó tuyệt đường con cái. Ai ngờ sau hai năm vợ chồng, ái ân tưởng chỉ em và anh ngờ đâu lại ra cái hậu duệ. Ố là la thật trên cả tuyệt vời.      

Cả gia đình xúm vô khấn nguyện cùng trời cao cho họ xin một thằng cu. Nếu có cu họ sẽ tạ kiểng chùa kề nhà một xe bốn bánh mười hai chỗ. Chớ sao? Nhà giàu có không cháu trai thì của nả để cho ai? Chả phải nhờ ơn trên phù hộ mà con trai của họ gặp Nhí đấy sao? Vậy nếu cầu được ước thấy thêm lần nữa thì cái xe có nghĩa địa chi? Được dăm tháng chồng dẫn vợ đi siêu âm màu ở ba cái bệnh viện tư nhân, giấy báo là thai nữ. Hơi buồn tí, nhưng bà má chồng vẫn tạ chùa một cỗ xe. Nhí hỏi chồng:

- Buồn không Heo?      

Thông cảm cho Nhí, dân tù tội xưng hô nó có hơi bụi tí, giận lên cô còn mày tao với chồng nữa kìa. Nghe vợ gọi mình vậy Minh cũng chả tự ái chi:

- Gái trai gì không vậy, mắc chi buồn.

- Heo thích con trai lắm mà. Lần sau tui không đi siêu âm nữa đâu. Biết trước chả ai vui… ông buồn mà, đúng không? Nhìn mặt ông tui biết liền.

- Thì có… nhưng không phải vụ gái hay trai.

- Chớ buồn cái gì?

- Phải chi mà…

- Mà sao?

- Em bỏ được thuốc lá thì hay quá       

Nhí phì phèo điếu con mèo:

- Ông bỏ thử tui coi, ông bỏ được là tui bỏ liền.

- Anh sẽ bỏ cho em coi.

- Sẽ là chừng nào?

- Hút hết gói nầy là bỏ à.      

Nhưng nói thì dễ còn bắt tay vô vụ bỏ thuốc thì khó lắm ai ơi. Nếu bỏ được thì ba cái công ty sản xuất thuốc lá đóng cửa hết rồi. Thử hỏi một thói quen ăn sâu vào đời sống hơn cả cơm ăn và nước uống làm sao bỏ? Thôi, kệ bà đi, tới đâu thì tới. Nhí cũng biết là thuốc lá có hại lắm cho con cô, nhưng không thể dứt ra được. Mẹ và chị chồng đành phải mua ba cái thuốc có tẩm hương bạc hà cho cô thỏa cơn ghiền. Khổ cái, kẻ từng hút thuốc lào khi ở tù như Nhí ba cái thuốc bạc hà nhẹ hìu nào có nghĩa chi. Cô hết điếu nầy đến điếu khác thấy mà kinh.      

Cô ngăm ngăm đau bụng là gia đình tốc hành đưa đi bệnh viện huyện. Thằng chồng bỏ việc chạy theo má và chị trông coi. Chớ sao, đàn bà đi biển phải có cái vai của đàn ông mà bá chớ. Nhìn con vợ vắn dài nước mắt than đau, mặt chồng cũng nhăn như cái giẻ rách… Hú hồn… rồi cũng mẹ trong con vuông.

Nằm ôm con trên giường Nhí nở nụ cười.     

Lạ là nghe mùi thuốc lá cô không chịu nổi. Kì không?     

Thiên hạ bảo rằng có chi đâu kì. Chuyện của đàn bà có cả triệu triệu điều bí ẩn khoa học không giải thích được đâu. Có người trong kì thai nghén thèm ăn đất, họ ăn đất sét như người ta bánh in. Có người thèm nhai thuốc lá… đẻ xong là họ hết thèm, con Nhí cũng một giuộc vậy. Có người cãi rằng, đó là nghén, đằng nầy con Nhí hút thuốc ghiền. Ghiền khác quý ông quý bà ơi. Khác đâu không biết chỉ rõ ràng và chắc như đinh đóng cột là sau sanh con Nhí ta không hút thuốc.     

Gia đình chồng Nhí thở một hơi dài nhẹ nhõm. Chỉ tội nghiệp cho Minh Heo, mỗi khi muốn vào ôm con hun hít cho đã thèm, nhân tiện hun vợ một cái là phải đánh răng súc miệng bằng lít-tơ-rin, vậy mà vẫn bị mắng vô mặt, đe rằng không bỏ thuốc là miễn hun luôn à.      

Bị đe, bị mắng vậy mà con bé Thủy Tiên được hai tuổi thì mẹ nó lại tắt đèn đỏ.     

Yêu mà, cái chết còn vượt qua nói chi mùi hôi của thuốc lá.

***

 

Cả nhà lại một phen mừng ơi là mừng. Họ lại đồ lề lên chùa cầu ơn trên giáng cho thằng cu. Họ phân trần với ba quân rằng không phải là trọng nam khinh nữ chi, nhưng mà nếp tẻ phải đủ thì mới gọi là hài hòa. Dân nghèo nơi cư ngụ được hưởng ân huệ từ đây. Họ làm phước thôi thì khỏi chê cái vụ vật chất, chỉ năm tháng mang cái bụng đi lên đi xuống Nhí cũng đến mệt khi bà má và cô chị chồng tổ chức phát chẩn những hai lần, mỗi lần cả tấn gạo chưa kể ba cái linh tinh. Riêng Nhí, cô dứt khoát miễn cái vụ siêu âm hay khám thai định kì. Gia đình nói cỡ nào cô cũng không là không. Đã nói Nhí khét tiếng lì mà. Thôi thì tất cả ráng chờ cái ngày nở nhụy khai hoa. Lúc ấy buồn hay vui cũng không muộn. Bà má o bế con dâu đủ mọi thứ ngon và lạ trên đời. Đúng vào thời điểm nầy ai lạ mà tình cờ gặp Nhí chắc chả hiểu vì sao cô bị gọi Nhí Đen.       

Ở  tháng thứ sáu, bụng Nhím đã vun cao lắm rồi. Cô có vẻ mệt hơn lần đầu. Đêm ấy, cả nhà bị giật dậy bởi giọng hốt hoảng của Minh Heo. Tất cả bu quanh cô con dâu. Trời ạ, chả hiểu ra làm sao, cái gì mà Nhí bị băng huyết. Máu trong người cô tuôn xối xả làm mọi người tối mặt. Con bé Thủy Tiên thấy mẹ vậy liền òa lên khóc, cả nhà sực tỉnh và ngay lập tức họ gọi taxi tốc hành đi viện.     

Ngay lập tức người ta đưa Nhí vào cấp cứu ở  phòng đặc biệt. Chả hiểu ra làm sao mà dân trong xóm lại biết sự cố mà lục tục kéo đến làm cả khoảng sân trước cổng bệnh viện tụ lại cả chục mạng. Mười hết sáu là dân nghèo từng đưa tay nhận hàng từ thiện nên nghe có biến là bỏ cả ngủ chạy lên chia tí chút buồn phiền. Họ bàn ra tán vào chủ yếu trấn an đừng có lo chi, xưa nay kẻ thi ân bố đức không khi nào bị ông trời cho ăn hồi mã thương đâu mà lo. Riêng Minh Heo chắp hai trước ngực vừa đi vừa lâm thâm trong miệng cứ như bị mắc đường dưới. Nhìn cái bóng nó đổ dài dưới ánh đèn điện, thấy mà tội nghiệp quá chừng. Và may quá bà bác sĩ xuất hiện sau cả tiếng đồng hồ trong phòng cấp cứu. Khỏi cần hỏi vì người thân có mặt ngay tức khắc:

- Vợ con em có sao không bác sĩ?

- Con nào?

- …

- Gia đình sao bất cẩn quá vậy? Nè… vợ anh không có thai mà là bướu. Tại sao thấy lớn bụng mà không đi khám sức khỏe định kì? Bây giờ tình hình rất nghiêm trọng, phải đưa lên tuyến trên cấp cứu?     

Là sao? Tất cả đều ngơ ngác. Sao lại có bướu biếc dính vô đây, mà lành hay ác tính? Cha mẹ ơi thật là chí nguy à. Bác sĩ lại phải giải thích rằng, lành hay ác chưa kết luận được, tuyến trên sẽ trả lời cụ thể vấn đề nầy. Còn đây là một khối u trong dạ con sản phụ, nếu khám định kì và phát hiện từ sớm thì không có sự cố như hôm nay…. Nhưng cả nhà yên tâm có lẽ là không sao.     

Bà bác sĩ cho chuyển lên tuyến tỉnh, nhưng Minh Heo xin lên hẳn phố lớn, dù sao bệnh viện cấp thành phố cũng đủ tiện nghi cho chuyện đối phó với bất trắc. Tiền có hơi nhiều một tí, nhưng mà giờ phút nầy tiền bạc có nghĩa lí chi.     

Nhí ra xe trên chiếc băng ca. Dưới ánh điện mặt cô xanh xao và vàng vọt. Tay phải cô được chuyền một đơn vị máu, tay trái là một chai nước biển. Mắt cô khép hờ trông tàn tạ và héo úa. Mình Heo ràn rụa nước mắt. Mấy người đến chia hoạn nạn cũng giọt giọt châu sa.     

Tôi đến bệnh viện thăm một người bạn và tình cờ gặp ca cấp cứu nầy. Thấy tụ tập đông và bàn tán liền ghé lại nghe chơi.     

Và cũng cầu xin cho cô ấy qua.   

Không lý bắt cô ấy đi sao thưa các đấng tối cao?

 

 

Xin Nhúm Nhen

 

Xin Nhúm Nhen là cái tên mà thiên hạ xứ Phước Kiểng dùng để gọi hắn.      

Cái tên nầy gây ngạc nhiên gấp nhiều lần hơn Trạch Văn Đoành của nhà văn Nam Cao.  Xin Nhúm Nhen ngụ trong một cái trại bằng bạt nilon. Cực đơn giản. Một cây tầm vông cột vô hai cây cao su, tấm nilon vắt ở giữa, bốn góc cột dây và níu vào cọc là ra cái trại. Trong đó duy nhất một cánh võng. Không lúc nào Xin Nhúm Nhen không là đà trong rượu, phê suốt. Tuy lẩm đẩm và thường huỵch ra đất vì nam đá chiêu, nhưng Nhúm Nhen không hề say.      

Mà sao gọi gì nghe chói lỗ tai tợn. Tên thiệt hắn là chi? Nhà đâu mà ngụ bên rìa lô? Xin thưa rằng chả ai biết lí lịch của hắn. Thiệt đó. Tại hắn không thiệt thọ là dân xứ nầy, nghe đâu vào đây từ cuối thập niên tám mươi của kỷ hai mươi. Ngụ ở đây mấy chục năm mà không ai biết, vô lý quá, nói nghe không lọt tai, ít ra những người tầm tuổi hắn phải biết chớ, đúng không? Để hỏi già Chín Trà thử coi:      

- Chú Chín ơi đi đâu vậy? Vô làm ly trà đá cho thơm râu rồi đi ông.      

- Trà đá chớ rượu hay sao mà thơm râu mậy… Chủ quán đong Chín Trà nầy xị nếp than coi.    

Khà... Đúng là dân rượu, xây chừng quất một phát cạn queo. E hèm xong Chín Trà hỏi:      

-  Ngữ bây rảnh dữ ha? Ăn rồi chuyên trị quán xá và đấu láo là sao?      

- Đâu có ông già ơi. Đi làm chết bà luôn, bộ ông không biết bữa nay chủ nhựt ha? Ngày của riêng mình mà chú Chín.     

- Nhưng mà cứ tụ vô quán nhậu như vầy trước sau gì bây cũng như thằng Xin Nhúm Nhen.   

Bầy trẻ phá ra cười:      

- Bọn con cũng vừa nhắc tới ổng nè chú Chín. Mà sao ông ta có cái tên kì vậy chú?      

- Bà cha nó… Vụ đó là bây phải hỏi tao. Tao với hĩa cùng xứ đó chớ.      

- Ủa, chú cũng nhập cư đây à? Vậy mà con tưởng chú cố cựu xứ nầy.      

- Đâu có, tao vô đây hồi năm bảy chín, còn Xin Nhúm Nhen vô năm tám mươi. Trước đó hai thằng tao ở miền trung. Tên thiệt của hĩa là Tưởng Lùn… Bà mẹ nó… bây biết không. Tao chưa từng thấy một thằng nào phản bội bè bạn anh em như nó.      

Hồi chiến tranh Tưởng cũng dạng không bờ, không bến như bất kì con em lính chiến miền nam nào khác. Sinh ở Huế, nhưng lớn lên dọc theo chiều dài đất nước. Tưởng cũng được ăn học đàng hoàng. Tới mười hai hẳn hoi, nhưng bằng cấp thì không êm cho lắm vì được tư thục đào tạo. Chỗ nầy phải cần rõ ràng bạch nhật một tí bằng không sinh hiểu lầm, dễ bị mấy ông tư thục ném đá cho vỡ đầu. Thời ấy tư thục cũng có nhiều loại. Những ai không vào được công lập qua thi tuyển thì phải học trường tư. Thiên hạ ai cũng muốn con em mình vào công lập vì không học phí, ông nhà nước bao tiêu tất. Kẻ thi rớt muốn tiếp tục sự học phải có tiền. Thời chiến, những người sống bằng nghiệp dĩ lính tráng, đồng bạc khó lắm, học phí là một gánh rất nặng cho ông cha ôm súng ngoài trận mạc. Không tiền thì con em họ đành nghỉ học. Thực vậy.     

Tư thục hay công lập thì cũng một chương trình học. Nhưng thứ ba học trò thời nào cũng y khuông, từ công sang tư khoái chơi hơn học. Công lập mà biếng lười là ở lại lớp như chơi, nhưng tư thục thì ngược lại, ở lại lớp là ông con nghỉ học hoặc rút hồ sơ qua trường khác. Tưởng Lùn chả hạn, từ lớp sáu đến chín anh ta học ở Bồ Đề. Không lên được lớp mười vì học dở liền rút học bạ qua Tây Sơn, rồi sau đó là tư thục Nhân Thảo. Cũng xong được mười hai, và sau khi cuộc chiến lụi tàn, binh nhì Tưởng ghi vô lí lịch của mình trình độ văn hóa mười hai.     

Năm 1974 Tưởng đi lính. Lúc đó khốc liệt lắm, tổng động binh nên cao có mét năm hai, mang khẩu M16 gần sát đất Tưởng vẫn là lính. Ngo ngoe chưa được một năm binh nghiệp đã quay về dân sự. Đi học tập hết ba tháng. Ông Thinh – cha Tưởng - sau hai mươi năm làm lính, trơ hai bàn tay trắng nhách,  liền đem bầy con tám đứa đi lập nghiệp ở miền kinh tế mới theo chủ trương chung.      

Kinh tế mới nên cái gì cũng mới. Đặc biệt nhất là khâu cán bộ. Lãnh đạo chung còn thiếu thốn nói chi những khâu bên dưới. Một khu kinh tế có nhiều xóm, ai sẽ làm trưởng phó và an ninh của từng xóm một? Thiếu nên phải động viên những người có trình độ văn hóa giúp cho khâu nầy. Người ta mời cả xóm lại và yêu cầu giới thiệu người có chữ nghĩa ra làm đại diện cho họ. Vậy là mấy ông tuy có tham gia cầm súng trong chiến tranh cũng được đề cử làm cán bộ. Ông A trưởng B phó C an ninh. Riêng Tưởng Lùn được đề cử làm thư ký xóm Một, kiêm A trưởng đoàn thanh niên.   

Có quyền rồi Tưởng lối lắm. Với bề trên thì khúm núm, với kẻ dưới thì sẵn sàng đưa chân đạp. Tưởng đạp Chín Trà một phát thiếu cái mạng vong. Nguyên nhân là do Chín mà ra với cái tội khai man lí lịch. Trước Chín có ông anh đi lính ngoài Quảng Trị, sĩ quan hẳn hoi. Chín được ông anh lôi ra Huế học hành ngoài đó. Linh tinh tụ họp cùng chúng bạn rủ nhau đi lính. Sau ba tháng quân trường ra sư đoàn 3 bộ binh, chưa đánh đấm gì đã bỏ Quảng Trị chạy làng vào Đà Nẵng. Rồi cứ thế ăn lương lính văn phòng dưới sự gửi gấm của ông anh cho đến ngày giải phóng. Nghĩ rằng không ai biết nên Trà khai mình là sinh viên. Ai ngờ đâu Tưởng Lùn lại rành. Vậy là để lập công Tưởng đã tố cáo Trà đã từng tham gia cầm súng, và trốn cải tạo.    

Bầy trẻ hỏi:      

- Chớ tố chú làm chi vậy?      

- Là do cái hám danh.      

- Danh gì vậy chú?      

- Thì danh vọng và danh tiếng chớ chi. Tao hay bây, hay bất kì thằng nào dưới vòm trời nầy mà không muốn có tiếng tăm và và quyền lực. Có kẻ đi lên bằng tài năng nhưng cũng lắm kẻ đạp trên đồng loại mà tiến tới. Tưởng Lùn đã đạp tao mà đi lên.      

- Ái cha… li kì à, chú cho bọn con nghe được không?      

- Rồi… bây sẽ được nghe, từ tên thiệt của Tưởng và vì sao ngày nay thiên hạ Phước Kiểng gọi là Xin Nhúm Nhen.     

Tưởng tên thật là Thình. Nguyễn Ngọc Thình. Cha Tưởng phân trần rằng tao khai tên Thìn, tức là con rồng vì nó sinh năm Thìn, ngờ đâu thằng hộ tịch lại thêm cho chữ hát trong khai sinh. Tên Thình không đẹp một tí nào, nhưng may quá giải phóng về nên tên tuổi được khai lại để làm chứng minh, Thình khai là Nguyễn Thùy Mai Tưởng – Bà nội cha nó – Chín Trà chửi. Nghe cái tên mới là tức rực, nhưng lại hợp với chữ lùn nên gọi Tưởng Lùn.    

Chín Trà phải cuốn tượng đi học tập, những một năm lại tuốt trên Kim Sơn. Khi về lại bị địa phương quản thúc thêm sáu tháng. Họp hành chi cũng phải có mặt và cẩn trọng từng câu nói, cà chớn cà cháo là bị liệt vô thành phần phản cách mạng như chơi. Sau lao cải có cho vàng Chín cũng chả dám ti toe. Cái ngạc nhiên nhất là không hiểu vì sao mà chính quyền lại biết anh trốn cải tạo. Và vụ việc được Sơn Cao nhỏ giọng kể với Chín Trà như vầy:      

- Mày biết ai tố mày và tố ở đâu không?- Sơn Cao là bạn Chín nên mày mi tao tớ.      

- Mày biết hả?    

Sơn cũng có chữ nên được một chân cán bộ trong một xóm khác của kinh tế. Lại được đề cử đi học cảm tình Đoàn. Trong khi Tưởng được kết nạp thì Sơn bị ra rìa. Tức tối Sơn liền tìm Chín Trà để sự tích lại cho bạn nghe nhờ đâu Tưởng được kết nạp:     

- Tao thiệt không ngờ thằng Tưởng lại lấy điểm bằng cách tố mày trốn cải tạo. Hôm đó họp nó công khai cho biết. Còn trưng bằng chứng là một tấm hình mày chụp chung với một sĩ quan đang ôm M16 đứng bên chiếc xe tăng ở Ái Tử - Quảng Trị. Mày biết ở đâu nó có tấm hình đó không?     

Chín bàng hoàng:      

- Trời đất ơi. Thật vậy sao?      

- Tao nói láo cho trời đánh. Bà dì của Tưởng là vợ của viên sĩ quan nọ, bà ta vào thăm chị trong nầy nên mới thòi ra cái ảnh đó mày hiểu không?     

Kể từ đó Chín không xem Tưởng là bạn. Nhưng sự đời có lắm cái đoạn trường. Năm bảy tám bảy chín chả hiểu làm sao mà toàn quốc thất thu nông nghiệp. Lúc nầy mới thòi ra cái mặt thật của kẻ cơ hội. Tưởng không chịu nổi thiếu thốn nên bỏ kinh tế về lại thị trấn. Tưởng đã lùn còn ngắn ngủn, tay chân cả hai mươi ngón đều ngắn, mặt cũng vậy, chỉ có một cái dài và cao là lỗ mũi. Mặt ấy và tướng ấy rất khó để có một người yêu. Nhưng ông bà có câu nồi nào úp vung nấy, Tưởng cũng ráp vô với một nàng luôn than thở em là con gái trời bắt xấu mà nên vợ chồng. Nhà nàng có ruộng có vườn có ao cá, nhưng khổ cái, gia đình nàng sống với quan điểm cái dòng con gái ngoại tông, thờ cha kính mẹ bên chồng mà thôi. Họ cũng nghèo nên chẳng hồi môn chi cho con gái. Vậy là Tưởng dẫn cô vợ vào xứ nầy làm ăn:     

- Hồi đó ở đây toàn rừng – Chín Trà tiếp tục - ngay cái chỗ mình đang ngồi là rừng già, nó chạy ra cách đây cả năm cây số đường bộ. Ngày đó tao đi bộ từ chợ thị trấn vào đây làm thuê ngày mười một đồng bạc, ai ở lại coi chòi, coi nông sản cho chủ thì thêm được hai đồng. Hai vợ chồng tao phải đóng đô trong ma thiêng nước độc để kiếm tiền, hết vụ mới cho bà xã về quê đem tiền cho ông bà nội nuôi sấp nhỏ. Tao ở cả năm, lúc về thì bị liệt vô tội đi bất minh… Buồn tình tao dẫn cả bầy con vô xứ nầy luôn.      

- Còn ông Tưởng Lùn thì sao chú?      

- Tao vô được một năm, hôm đó ra chợ mua ít lương thực thì bất ngờ gặp Tưởng Lùn, tụi bây biết hĩa làm gì không? Biết là tao chết liền một khi.      

- Chú Chín nói quá đúng, chuyện làm gì khi con chưa ra đời mà biết là con cũng chết luôn.      

- Hĩa dạy võ.      

- Sao – cả bầy trả nhao nhao lên – Ai dạy võ?      

- Thì Tưởng Lùn tức Xin Nhúm Nhen chớ ai vô.      

- Trời ơi, lại li kì…      

- Bây biết không? Tưởng Lùn hồi đi học cũng có ghé lò võ học được dăm ba bài thảo. Nó lùn một khúc nên múa may quay cuồng vui chơi chớ ai mà thèm đánh đãm chi với nó, vậy mà dám mở lò thu nhận môn sinh. Đúng là gan cùng mình, tao cũng chả biết nó ăn nói làm sao mà thiên hạ tin đến cái độ cho nó mượn sân nhà để dạy. Cho tới một hôm…   

Chín Trà nâng li làm một cái, rồi nhăn mặt vỗ đùi ra vẻ như đau khổ lắm, mà rượu vừa đắng vừa cay nuốt vô ai chẳng cố, và cái nhẩn nha của tuổi già làm bọn trẻ nóng ruột:      

- Rồi sao nữa chú Chín?      

- Hôm đó có một thằng tới thách đấu. Miễn cưỡng Tưởng Lùn phải ra tay, thằng kia đánh cho đến bỉ mặt. Vậy là bị tẩy chay và phải trả lại học phí cho học viên. Không trả có mà chết với dân đây. Nhưng Tưởng không tiền phải chạy đến tìm tao xin cứu khổ cứu nạn.      

- Rồi chú cứu không?     

- Tao mà không cứu chắc nó không què tay cũng gãy chân rồi.       

- Gặp ông chớ gặp tui, tui cho thằng chơi xỏ bạn bè chầu diêm vương luôn.      

- Mày đâu có lâm cảnh mà biết, cái thằng hèn khi hạ mình đáng thương lắm con ơi. Tao vốn lạt lòng nên đâu thể ngó lơ.  

Một thằng trẻ nạt ngang:      

- Mày yên cái coi Hùng. Con hỏi chú về cái tên xin nhúm nhen là do đâu?      

- Vụ đó còn lâu lắm mới tới. Phải từ từ từng bước một mới ra dây mơ rễ má, tạt ngang là bây không hiểu gì sất. Nó bắt đầu từ việc Tưởng để vợ ôm con đi ăn xin ở chợ thị trấn.      

- Trời đất ơi đến nước đó sao?      

- Thiệt tao cũng không ngờ.  Nghe bà xã đi chợ về kể gặp con Thu vợ Tưởng Lùn đang ẳm con lê la xin ăn ngoài chợ. Tao kinh ngạc quá, vội bỏ tất cả lết bộ ra xem cho rõ sự tình. Y như trong kinh luôn. Con Thu để cái rổ trước mặt, nón lá che mặt cho con bú, trông thảm thiết không chịu nỗi. Tao lôi vô góc chợ hỏi vì sao mà ra nông nỗi, cô vợ kể rằng chồng đang bệnh mà khó quá nên muối mặt…    

Thấy bi đát quá, Chín liền móc túi cho người vợ khốn khó một số tiền đủ một ngày công làm của mình, rồi lôi chị ta về nhà. Về đến chòi thì thấy Tưởng đang khề khà bên chén rượu. Thì ra lùn mã tử không có bệnh tật chi hết, hắn vờ vĩnh để đẩy người vợ ra chợ xin ăn. Chín Trà nhìn mà ngao ngán cho đời một con người. Giận quá Chín mắng gã thất nhân:        

- Mày nghĩ sao mà ở nhà uống rượu và đẩy vợ con vô bước cùng.    

Thằng khốn kiếp lô loa là đang bệnh, uống vài li cho nó khỏi bẻ mình vậy thôi. Lại than vì vất quá nên liều chứ cũng biết nhục lắm. Nhìn qua biết Tưởng giả vờ, Chín nói với người vợ:        

- Chị nên bỏ thằng khốn kiếp nầy đi là vừa. Nó đã từng đạp trên đầu tôi chỉ để kiếm cái danh không  giữ được, nay lại tống chị ra chợ làm cái nghiệp bần hàn nhất của xã hội, nếu mà chị có tí nhan sắc dám nó để chị bán thân nuôi nó luôn. Còn sống chung với loại người như vầy chị sẽ khổ suốt đời và nhân cách sẽ mất hết, nay mai con chị lớn lên nó sẽ nghĩ sao khi biết mẹ đã từng ra thân đi ăn mày và cha ở nhà nốc rượu? Tôi sẽ chạy cho chị ít tiền để về lại quê. Có cần gì chị cứ đến gặp tôi.   

Nói xong Chín ra về. Nhưng sau đó anh trai của Thu nghe tin em gái lâm khốn liền thân chinh vào, và đập cho thằng em rể khốn nạn một trận nên hồn rồi đưa em gái về. Vậy là Tưởng Lùn chia tay vợ và không hề biết mặt đứa con gái kể từ hôm đó.     

Nhưng hắn ta tỉnh bơ.

***

 

Vùng đất nầy, cái chỗ mà chú cháu mình đang ngồi đây là do dân du canh, du cư phá mà ra. Những năm tháng ấy, phần ảnh hưởng thất bát mùa màng năm 1978, đất nước sau thống nhất khó khăn nghìn bề, nào cấm vận rồi chiến tranh bên Tây Nam, bành trướng phía Bắc, thêm vụ chuyển lửa về quê nhà của mấy ông lọt ra được nước ngoài hồi 1975, cả cái phun rô phun riếc… Ôi chao mệt mỏi lắm. Dân bốn phương tụ về, ra tay phá lâm làm rẫy cứu đói.    

Một tay ở thành phố cũng bò xuống đây tham gia. Dân phố ít nhiều cũng có tiền liền thuê Tưởng Lùn coi công, coi rẫy cho ông ta. Vậy là lùn mã tử lên cai. Rẫy thì đủ chuyện để làm và đủ chuyện để sùy tiền. Cha nội chủ tin Tưởng Lùn lắm, rẫy nương giao sạch cho hĩa, từ coi công đến thu hoạch. Hồi đó đất đai xứ nầy đâu phải phân bón chi, cứ sạch sẽ thả giống xuống. Một héc ta vụ đầu ra ba tấn bắp, vụ hai một tấn đậu xanh hoặc đậu nành tùy thích. Làm cũng có, thu hoạch có luôn, nhưng giá cả lúc đó hẻo lắm.      

- Sao hẻo chú Chín?       

- Tao chả biết phải nói sao cho bây hiểu, đại khái là thời điểm ấy bao nhiêu nông sản làm ra, nguời dân chỉ có thể tiêu thụ được ở công ty cấp ba của  nhà nước. Công ty sẽ bán lại những vật dụng cần thiết cho dân. Ai bán ra ngoài là cấm ngặt, kẻ nào mua là bị liệt vô buôn lậu, Từ đậu, bắp, cà phê, tiêu vân vân. Giá cả do ông Công ty ấn định. Ổng muốn cho giá bao nhiêu là mình phải chịu bấy nhiêu. Đã là quy định thì đâu có cãi được. Lúc đó tao cũng buôn lậu.      

- Chú buôn gì? 

- Đậu bắp, cà phê vân vân.     

- Ba cái hàng đó mà lậu liệc gì chú?      

- Mày bị điếc hay là ngu đột xuất? Tao mới nói với mày là chuyện hồi đó, hồi mà địa phương nào làm ra cái gì thì phải bán ngay tại địa phương đó. Ai mang ra khỏi địa phận là bị bắt, tịch thu luôn. Và vì giá cả rẻ quá nên người ta phải bán chui, hiểu chưa ông nội?      

- Vậy có ăn không chú?       

- Có, nhưng khổ lắm. Một tạ bắp bảy trăm đồng chỉ cần lọt được về thành phố là bảy ngàn đồng. Nghĩa là với đoạn đường chỉ vài mươi cây số là từ một lên mười, nhưng đâu cũng có trạm lập ra để bắt bớ ba cái vụ nầy. Dân buôn lớn thì bỏ hàng lên xe đò, chủ xe phải thiết kế chỗ giấu cho bạn hàng. Người ta giấu cà phê, tiêu, đậu xanh vô ruột mấy bao lá chuối hoặc bắp chuối. Mỗi lần qua trạm người ta lục banh xe ra để kiểm soát, chả có chiếc xe nào không chở hàng lậu. Từ nhà mình lên thành phố có trạm Ngã ba Vũng Tàu. Ngày nào cũng có lắm kẻ khóc kể vì bị bắt, càng bị bắt càng buôn lậu. Vì lời nhiều, bị tóm bốn chuyến chỉ cần lọt một chuyến là vốn lấy lại cũng còn lời chút đỉnh. Hồi đó tao đâu có tiền mà dám đi buôn lên thành phố, tao chở ra lộ nhựa là một lời một. Phải đi lúc nửa đêm gà gáy để tránh trạm. Cả cái ấp của mình cũng có trạm. Hồi mới lập ấp Tưởng Lùn cùng là du kích như ai, nó bắt thôi thì trời sợ luôn.      

- Ông Tưởng từng là du kích à?      

- Chớ sao mậy, nó lên voi xuống chó dữ lắm chớ chơi ha.      

- Làm sao ổng vô được du kích ấp?   

Chín Trà kể rằng. Chủ của Tưởng giao rẫy cho hắn toàn quyền sinh sát. Ông ta có tiền nên vung ra phá lâm cả hai hecta. Làm được vài vụ, tình chủ tớ thân đến độ ai cũng ngỡ Tưởng là chủ như ai. Tay chủ làm rẫy chỉ cho vui còn chả quan tâm, đùng một cái ông ta quăng rẫy đi mất dạng chả biết đâu mà lần, đồn rằng đã vượt biên. Vậy Tưởng đương nhiên là ông chủ.     

Như rất nhiều kẻ tự nhiên khác mà có của, Tưởng chơi như ông hoàng. Cu cậu áo bỏ trong quần chỉnh chện như công tử, giao rẫy cho đệ tử chăm lo còn mình vung vít ăn chơi tận trên phố lớn. Vênh vang lắm và xạo tầm cỡ. Và như cha ông dạy vai mang bị bạc kè kè, nói quấy nói quá người ta nghe ầm ầm, bầy tôi theo Tưởng mà nâng bi. Tưởng mò đến nhà trưởng ấp thù tạc khoe mình xưa cũng là cán bộ, từng là đoàn viên. Ít nhiều cũng từng qua mười hai, Tưởng ra tay giúp trưởng ấp vài việc về chữ nghĩa… Vậy rồi con gái trưởng ấp trở thành vợ của Tưởng.    

Chuyện cũng chẳng chi khó hiểu. Cô gái này nhan sắc là không điểm, lại chả duyên dáng nên hai mươi lăm mà chả biết tình là chi. Cô mới lớp năm, được đề cử đi học một khóa sơ cấp cứu thương. Là y tá cũng khám bệnh chích thuốc mặc áo bờ lu dông có vẻ bác sĩ lắm. Cha trưởng ấp con y tá nhìn qua cũng bảnh chứ không đùa:

- Mới mấy tháng mà y tá gì chú Chín?

- Là do không có người. Có câu không có bò thì chó cũng cày được ruộng mà mậy.    

Có lẽ do đêm dài lạnh lẽo, cô gái thôi thì thương ai cũng vậy, thưởng Tưởng, Tưởng cám ơn. Cả hai nên duyên tấn tần có tiệc ra mắt hẳn hoi. Rồi ông cha vợ đưa con rể vô làm du kích. Tưởng cũng có khẩu M16 không đạn, vác lên vai đi bắt bớ dân mua bán nông sản lậu, phá lâm bất hợp pháp và nghìn thứ hấm bà lằng xáng cấu khác. Thiên hạ đi rừng lấy cây củi khúc cây về kiếm sống cho qua thì thất nghiệp Tưởng bắt tất. Cả người từng cứu Tưởng qua vụ dạy võ là Chín Trà cũng không thoát.      

Chín nuôi con heo để phòng bất trắc. Vợ Chín đổ ra bệnh phải kêu bán. Nếu bán cho chợ đen thì được mười, nếu giao cho ông thu mua chỉ được bảy, tát nhiên ông thu mua sẽ bán lại cho anh những hành tiêu bột ngọt ba cái linh tinh theo giá đối lưu, những thứ hàng đó thường là phế phẩm mấy ông bà trong thương nghiệp tính giá loại một. Đang cần tiền để đưa vợ đi viện mua mà tế à? Vậy là lái heo đến nhà, ngã giá xong lái nói:

- Nhưng anh làm sao đưa đến nhà dùm cho tôi, tôi chở đi là bị tóm liền, thằng mã tử Tưởng  chuyên gia rình bọn lái heo tui lắm ông Chín ơi.

- Rồi tôi sẽ giao tận nhà anh, như phải thêm công chuyên chở đó nghe.

- Chuyện nhỏ.    

Trà chở con năm mươi kí lòn đường tắt để tránh ải. Có tắt hay hẻm cũng không thoát tay Tưởng Lùn:

- Sao mày không bán cho công ty.   

Trà phải cho Tưởng biết về hoàn cảnh đang cần gấp tiền. Nếu bán cho cấp ba rồi cầm cái phiếu thanh toán hẹn ngày trả tiền, mua thêm ít hàng thì vợ Chín ra nghĩa địa mất. Rồi lại kể lể tao đã giúp mày ra sao vân vân còn hơn Tào Tháo qua Huê Dung Đạo năn nỉ Quan Công. Nhưng Tưởng vẫn đen sì mặt sắt:

- Anh phải theo tôi về công ty.     

Lời nào cũng không thông. Trà điên lắm nhưng đành chịu, lủi thủi đẩy con heo về cân cho công ty. Xong việc Trà đến ngay nhà Tưởng:

- Mày trả lại khoản tiền ngày xưa mày mượn để giải quyết vụ dạy võ cho tao. Bằng không đừng có trách tao à.    

Tưởng trả ngay. Nhưng khốn thay khi mượn thì gạo ba đồng một kí, khi trả thì những tám trăm đồng. Đồng bạc nhận lại không mua được nửa kí gạo. Vậy là ì xèo lên về vụ sái chạy đồng bạc từng thời điểm… Nghe đến đây bày trẻ hỏi:

- Là sao? Chú nói bọn con không hiểu.

- Lúc đó lạm phát kinh hồn lắm. Nước mình bị bao vây bởi cấm vận, phải tự túc tự phát nên khó khăn vô cùng. Tụi bây hãy tưởng tượng đầu năm tao đi làm giá mười lăm đồng một ngày công, nhưng cuối năm lên một trăm đồng mà vẫn không đủ sống .

- À… vậy là hiểu rồi, như hai năm trước một ổ bánh mì thịt hai ngàn mà bây giờ mười ngàn, phải không chú Chín? Nhưng rồi vụ đòi nợ có thông không?

- Thông cái con khỉ khô, nói chung tao thua từ a đến z.     

Vậy rồi quen ăn bén mùi, Tưởng bò ra chợ hộ vệ cho mấy tay quản lí thị trường. Hắn ta cầm súng thị uy với tất cả. Để yên thân vì - nói chung - chả cái cửa hiệu tạp phẩm buôn bán nào có đăng ký kinh doanh, nhỏ lẻ nào mà không có lậu liệc sơ sơ, họ dúi vào tay Tưởng khi gói thuốc khi kí đường, có kẻ dúi cả tiền.  Mấy bà buôn thúng bán bưng cũng bị tra xét. Hôm đó Tưởng lật cái thúng của một bà bán cá. Những tưởng có con cá về nhậu chơi, ai ngờ không cá mà lại là tép. Vậy là bốc một bốc rõ to, Tưởng Lùn nói:

- Xin nhúm nhen.

Nguồn: vanvn.net

 

Các bài khác:
· HAI NHÀ VĂN TỪ CUỘC CHIẾN
· NHỮNG GHI CHÉP VỀ QUỐC CA, QUỐC KỲ VÀ NGƯỜI NGHỆ SĨ
· PHẠM NGỌC THÁI VÀ NỖI TRĂN TRỞ NGƯỜI ĐI TÌM VÀNG
· VŨ THIÊN KIỀU - LỄ HỘI LỤC BÁT KHÔNG "NGÁN" BÃO DƯ LUẬN
· NHỚ LỜI DI CHÚC, THEO CHÂN BÁC
· ANH ĐỨC - CHU ĐÁO VÀ GẦN GŨI
· GIỚI THIỆU LỤC BÁT TỨ TUYỆT CỦA TRẦN VŨ
· CHA TÔI - NHÀ VĂN LAN KHAI
· VĨNH BIỆT CHA ĐỂ TÁC PHẨM HÒN ĐẤT
· NHẬN DIỆN CÁI KHÁC ĐỂ HƯỚNG ĐẾN SỰ ĐA DẠNG CỦA TIỂU THUYẾT
· NHỚ ANH ANH ĐỨC
· MỘT GIỌNG THƠ NỮ KHÔNG CẦN TRANG ĐIỂM
· LÊ VĂN NGĂN - NHỮNG CÂU HỎI, NHỮNG CUỘC HÀNH TRÌNH VÀ NHỮNG NIỀM HY VỌNG
· TẠ MINH CHÂU - CÓ MỘT MIỀN KÝ ỨC MÃI MIÊN MAN
· CON NGƯỜI THỜI ĐẠI QUA NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
· TA MÌNH ƯỚT NHAU
· TRANG THƠ TRẦN HUY MINH PHƯƠNG
· THANH HẢI - NHÀ THƠ NHƯ TÔI TỪNG BIẾT
· THƠ THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
· NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT THA HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ SAU 1975

 

  
Gia đình Bích Khê