DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
GIÁ TRỊ THẨM MĨ TRONG TRÍCH ĐOẠN CHỊ EM THÚY KIỀU

                           Lê Như Bình                                                            

           Truyện Kiều là một trong số ít những áng văn chương luôn luôn có mặt trong sách quốc văn nhà trường ở mọi cấp học. Ở từng giai đoạn, do mục tiêu thay đổi mà các nhà soạn sách thường chọn các đoạn khác nhau. Tuy nhiên, trong các bộ sách giáo khoa môn văn trung học cơ sở (cấp 2), trích đoạn  được đặt tên là Chị em Thúy Kiều hay Tài sắc chị em Thúy Kiều, hầu như luôn được chọn.

 

Có điều, nếu tính từ 1945, đoạn thơ này đã được giảng dạy trong nhiều thập kỉ, nhưng những giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, được định hướng đọc- hiểu tương đối cố định. Chung chung chỉ là: Thúy Vân, vẻ đẹp về nhan sắc. Thúy Kiều trọn vẹn cả sắc lẫn  tài. Cô em có dáng phúc hậu, quý phái, trung thực, mây thua, tuyết nhường, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Cô chị nhan sắc hoa ghen, liễu hờn, tài năng hơn đứt nên dự báo một số phận bạc mệnh. Nghệ thuật miêu tả nhân vật ước lệ tượng trưng, lấy thiên nhiên để tả người, thủ pháp “đòn bẩy”,....Hoặc cụ thể một chút, thì đây là Thúy Vân: Khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn như mặt trăng, lông mày sắc nét đậm như con ngài, miệng cười tươi tắn như hoa, giọng nói trong trẻo thoát ra từ hàm răng ngà ngọc, mái tóc đen óng nhẹ hơn mây, làm da trắng mịn màng hơn tuyết[2].

 

Vẫn biết ý nghĩa văn chương là vô hạn và có muôn vàn cách hiểu. Nhưng đọc những diễn giải trên cứ thấy ngờ ngợ. Khuôn trăng đầy đặn có phải là khuôn mặt tròn trịa; ngọc thốt phải chăng là răng ngà ngọc, rồi mây thua nước tóctóc đen ... nhẹ?...  Nàng Kiều trong thơ của cụ Nguyễn Du tuy được tả ước lệ nhưng đẹp nhường vậy, mà sao khi bước vào cổng trường lại chỉ thấy ước lệ tượng trưng hơn?

 

Rồi bao câu hỏi cứ đặt ra. Văn chương phải là hình tượng. Với những kiến thức sau đọc-hiểu như vậy, có đủ để HS hình dung ra nét đẹp của  hai nàng Kiều? Nói Văn học là nhân học (Goroky), là khoa học làm người. Vậy vẻ đẹp của hai nàng, trong áng văn chương tài hoa ấy, có thể cho con người hiện tại bài học gì để tự làm đẹp cho mình cho cuộc sống? Mặt khác, hình thức nghệ thuật phải chăng chỉ có chuyện ước lệ, tượng trưng? Bốn câu cuối (Từ Phong lưu nhất mực...) là dành cho Kiều hay cả hai chị em?...

Miên man với những ý nghĩ như vậy, người viết bài này xin đưa ra những thu hoạch khi đọc-hiểu đoạn trích. Mong được trao đổi cùng các đồng nghiệp dạy văn và những ai say đắm hai cô nàng mười phân vẹn mười này.

                                          ***

1- Vẻ đẹp của một gia đình.

Với bức chân dung gia đình nàng Kiều, mở đầu thiên truyện, cụ Nguyễn Du đã đưa ra một kiểu “gia đình văn hóa” rất đáng học tập.  Cuộc sống hạnh phúc của nhà viên ngoại họ Vương (tất nhiên là lúc còn yên hàn) là đáng mơ ước đối với nhiều người. Kinh tế vào bậc trung, đủ ăn đủ tiêu. Có chút địa vị (viên ngoại), không cao lắm, những cũng vào hàng có tên có tuổi trong xã hội. Thuộc dòng nho gia tức là một gia đình trí thức truyền thống. Trời cho, về đường con cái lại có nếp có tẻ. Theo quan niệm phương đông, nhất nam viết hữu, là nhà có phúc lớn. Đặc biệt bố mẹ rất  biết “nuôi con khỏe, dạy con ngoan”. Cậu con trai út, thuộc hàng con cưng, quý tử, nhưng không la cà lêu lổng mà chuyên tâm học hành, đèn sách để “nối dõi tông đường”. Hai cô con gái đầu lòng thì sắc vào hàng tố nữ mười phân vẹn mười, lại có tư cách trong sáng thanh cao. Mai cốt cách, tuyết tinh thần.  Cô chị cả  còn có tài năng vượt trội. Sắc đẹp thì chắc nhờ gien của bố mẹ, lòng ưu ái của bà mụ mà có. Nhưng con cái biết say mê học tập, lấy việc rèn luyện làm đầu, coi trọng phẩm giá, đoan trang, giữ gìn lời ăn tiếng nói, thì công sức của bố mẹ bỏ ra để nuôi dạy phải cao như núi Thái Sơn, tình thương con phải dạt dào, mênh mông tự nước biển Đông.

 

Nghĩ hiện nay, có cha mẹ để con cái rơi vào cảnh thất học, phải bới đất nhặt cỏ. Có nhà thì phó mặc cho con phá phách chơi bời, thậm chí thành tội phạm. Mới thấy những đứa con trong gia đình họ Vương có trách nhiệm với gia đình biết chừng nào, cũng như bố mẹ họ có trách nhiệm với con cái biết chừng nào.   

 

Nói ông bà Vương có trách nhiệm có thể bị bắt bẻ: Bố mẹ đâu mà để cô con gái mới lớn đứng ra gánh vác cái nạn lớn của cha và em, đến nỗi sa vào hang hùm nọc rắn, tủi nhục không cùng?

 

Xin thưa dài dòng đôi chút. Có ba quãng đời, Thúy Kiều được cảm nhận hạnh phúc. Mười sáu năm đầu còn nhỏ sống với bố mẹ. Rồi một năm ở với chàng Thúc, người cứu nàng thoát lầu xanh mụ Tú. Lần ba là những ngày được làm phu nhân sánh cùng anh hùng Từ Hải. Nhưng bên Thúc Sinh thì nơm nớp cảnh “dấm chua” cay nghiệt. Sống với Từ công thì búa rìu của triều đình lơ lửng trên đầu. Thực sự, chỉ những tháng năm trong vòng tay bố mẹ, mới được êm đềm trướng rủ màn che, mới được dập dìu / chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

 

Còn lúc Thúy Kiều phải bán mình, nhà chỉ còn độc ba người đàn bà. Túng quẫn, bức bách, còn đầu óc đâu mà nghĩ ngợi. Rồi mẹ con  đâu có ngờ vướng tay kẻ ác. Nhà thông gia giầu có, vàng ngoài bốn trăm lạng mà nói cái  có ngay. Chàng rể tương lai là sinh viên trường đại học hạng nhất quốc gia, (giám sinh – sinh viên trường Quốc tử giám). Có vài cử chỉ sỗ sàng, nhưng ăn nói tỏ ra văn hóa (rằng mua ngọc / xin dạy). Gia đình nhà trai  ăn hỏi, sính nghi rất đúng lễ, cẩn thận định ngày nạp thái vu quy.

Trên hết, là cả nhà bị đẩy đến cái chân tường.  Chỉ còn hai sự lựa chọn và người chị cả nhận rõ. Hoặc là tự nguyện bán mình để rồi còn hy vọng có ngày trở về, hoặc là để cho cha và em phải chết trong tù ngục. Với suy nghĩ  Làm con trước phải đền ơn sinh thành, Thúy Kiều đã chọn cách thứ nhất. Vả lại chuyện gả bán ngày xưa cũng không có gì lớn lắm. (Ngày nay, quan niệm gả bán đã bị lên án quyết liệt, mà rất nhiều cô gái Việt phải dấn thân làm dâu xứ người cũng vì hoàn cảnh của gia đình của bố mẹ đấy thội).

Mọi việc có vẻ tạm ổn, nhưng với Vương ông thì không vậy. Khi được tạm tha, về nhà, người cha đau đớn máu sa ruột sầu, đã  gieo đầu tường vôi, rắp liều tự tử. Tại sao vậy? Vì con ông, một đứa thì còn bị giam, một đứa bị gả bán. Nạn này chỉ gỡ bằng tiền. Nhưng gia tài vợ chồng ông tích cóp, đồ tế nhuyễn của riêng tây đã bị bọn sai nha cướp sạch. Cái sự liều của ông chỉ có những người bố hết lòng thương con, rất trách nhiệm đối với gia đình, rồi bỗng nhận ra sự bất lực, chẳng thể che chở cho con cái, không còn là rường cột cho gia đình được nữa.  

Rõ ràng, dù có chuyện hoa trôi nước chảy, thanh lâu hai lượt thanh y hai lần, mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều cũng không thể nghi ngờ những cách ứng xử tuyệt đẹp của những con người trong gia đình họ Vương. Trong khi chúng ta đang gồng mình để xây dựng tiêu chí một “gia đình văn hóa”  nhằm chống đỡ những vết rạn trong quan hệ gia đình hiện nay, có thể coi gia đình Thúy Kiều là một kiểu mẫu đáng học tập được chăng?

           

 2- Vẻ đẹp của Thúy Vân – vẻ đẹp của một người con gái.

Trong hai cô gái, Thúy Kiều là hiện thân của một tuyệt thế giai nhân còn Thúy Vân chính là khuôn mẫu về vẻ đẹp của một người con gái. Một vẻ đẹp rất dễ gần, luôn thấy hiện hữu ở bao người phụ nữ quanh ta.

Nàng có gương mặt hiền dịu, sáng sủa, tốt tươi, hài hòa. Khuôn trăng đầy đặn. Khuôn chỉ khuôn mặt, trăng gợi sắc thái hiền dịu, sáng sủa. Còn đầy đặn: đầy là nói mặt có da có thịt, chưa nói gì đến chuyện đẹp xấu. Có khi đầy lại là thừa, là béo. Đầy đặn mới diễn tả được chất lượng của cái sự đầy. Đó là sự tốt tươi, hài hòa, cân đối, hoàn chỉnh, hoàn thiện, không gầy, không béo, không thiếu, không thừa. Nói chung là gương mặt đẹp, khéo. Giải thích đầy đặn Nét mặt tròn trĩnh phúc hậu[3]. khuôn trăng đầy đặn  khuôn mặt đầy đặn tròn trịa như mặt trăng. E chưa ổn.  Mặt con gái mà tròn trịa, tròn trĩnh chưa hẳn đã đẹp. Mặt khác, trăng rằm mới tròn trịa, tròn trĩnh. Còn khi chỉ nói đến trăng, trước tiên là nghĩ đến sự mát mẻ, dịu hiền. Còn đầy đặn càng không thể coi là tròn được. Có lẽ đầy đặn không bổ nghĩa cho trăng mà cho khuôn. Như vậy, trăng là gợi sắc thái, không tả hình; còn đầy đặn, cũng không nhằm tả hình (tròn) mà tả khối, tả chất lượng của cấu trúc. Tất cả gợi một gương mặt tươi tốt được nuôi dưỡng đầy đủ vừa có cấu trúc cân đối, hài hòa. 

 

 Lông mày của nàng sắc và đậm nét, dài, cong, tươi tắn (như ria con ngài, nét ngài nở nang). Theo cách nói ngày xưa, người con gái đẹp, thuộc hàng mắt phượng mày ngài. Nguyễn Du không tả mắt, (để dành tả Kiều), nhưng với đôi mày ngài cũng đủ gợi một gương mặt sắc sảo. Khi khen người một cô gái có nét vui tươi, sáng sủa, người ta hay nói: mặt mày tươi tắn là vậy. Giải thích nét ngài nở nangđậm như con ngài, dễ hiểu nhầm là mập béo như thân con ngài. Con ngài luôn chuẩn bị đẻ trứng, rồi chết, nên thường mập. Mà lông mày mập thì chưa chắc đã đẹp.

          Nụ cười thường trực khiến cho đôi môi  luôn tươi thắm như một đóa hoa. Giọng nói, lời nói  trong sáng, ngân như tiếng ngọc. Hoa cười ngọc thốt đoan trang là nụ cười đoan trang, lời nói cũng rất đoan trang. Hoa cười...đoan trang là gợi một nụ cười tươi tắn, trong sáng, chính trực, không chút lả lơi, cợt nhã. Còn ngọc thốt đoan trang, nếu tách riêng ngọc thốt và giải thích: ngọc hàm răng ngà ngọc, e không xuôi. Ngọc đi với thốt khó liên tưởng đến hàm răng. Ngọc thốt vừa tả âm sắc của giọng nói, vừa ánh lên phẩm chất của lời: sáng trong, cao quý nghiêm chỉnh, cẩn trọng, (nói lời hay ý đẹp thường được ví von là nhả ngọc phun châu). Có thể nói ở người con gái và nói chung giới nữ, nụ cười và giọng nói có nét rất độc đáo. Vừa là vẻ đẹp của thanh sắc vừa là vẻ đẹp của tâm hồn. Có rất nhiều câu nói hay về năng lượng đặc biệt của nụ cười. Một nụ cười có thể làm bừng sáng một ngày đen tối nhất /  là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn / chiếc chìa khóa duy nhất  mở được trái tim của người khác / Cô ấy cười vì  cô ấy đang tràn ngập hy vọng, niềm tin và sự mạnh mẽ. Đối với các chàng trai: Mỗi nụ cười: một nụ hoa hàm tiếu / Em cười hoài thành cả một vườn hoa / nụ hồng tươi hé mở / cúc đại đoá đang khoe / mai năm cánh vừa xoè / phượng hồng còn bẽn lẽn. (Nguyên Đỗ - Nụ cười sen thắm). Xuân Diệu say đắm Nụ cười Xuân.  Cây vàng rung nắng, lá xôn xao / Mùa xuân chín ửng trên đôi má / Thiếu nữ làm duyên đứng mỉm cười. Có chàng coi nụ cười quý hơn vàng bạc. Hôm qua nhặt được nụ cười / Đem về dấu kín cho đời thêm... xinh  (Nguyễn Ngọc Nông). Có chàng sẵn sàng đi tìm hộ nụ cười / Chín sông cũng lội, đèo mười cũng qua /Ngại gì thăm thẳm đường xa / Chỉ mong nhặt được nụ hoa đem về (Trinhcamle). Nhà thơ Phạm Công Trứ nói về giây phút bị sốc: Em đi để lại chuỗi cười / Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê. Dễ hiểu, vì sao chỉ có nụ cười là được Nguyễn Du tả lặp lại ở cả hai chị em. (Thúy Vân: Hoa cười. Thúy Kiều: Một hai nghiêng nước nghiêng thành)

 

Nàng có mái tóc mây, và còn hơn thế. Dày dặn, mượt mà, óng mượt, bồng bềnh thướt tha, biến hóa hơn cả mây trời. Có làn da tinh khiết, mịn màng trắng trẻo hơn tuyết.  Mây thua nước tóc, giảng là mái tóc đen nhẹ hơn mây, là khó hiểu. Chưa thấy ai khen chê trọng lượng của tóc nhẹ nặng bao giờ. Còn về màu, không phải cứ mây là đen. Mây đen lại thường gợi chuyện xấu. So tóc với mây là nói cái độ dài, sắc óng mượt, trạng thái biến hóa bồng bềnh, dáng vẻ thướt tha của tóc, chứ không nói chuyện màu. Muốn nhấn mạnh màu đen của tóc người ta so với các khác, Như với gỗ mun chẳng hạn. Còn chuyện thua nhường chẳng qua là thủ pháp phóng đại, ngoa dụ.

 

Điều nổi bật ở Thúy Vân là vẻ đẹp của tâm hồn, là cách sống có quy tắc, cẩn thận lời ăn tiếng nói. Không phải ngẫu nhiên mà chỉ trong mấy câu thơ, Nguyễn Du bốn lần tả vẻ đẹp tinh thần của Vân. Lần đầu, tả chung với cô chị: Mai cốt cách, tuyết tinh thần.  Cốt cách là tư cách, bản chất  bên trong của con người. Cốt cách của nàng trong sạch như hoa mai, (mai vừa là chỉ sự mảnh mai thanh tú của thân thể, biểu hiện của sự trong sạch của bản tính), tinh thần sáng trong như tuyết. Lần hai, mở đầu đầu đoạn tả riêng: Vân xem trang trọng khác vời. Và lần ba, lần bốn trong kết thúc đoạn tả riêng: Hoa cười ...đoan trang / ngọc thốt đoan trang. Học giả Đào Duy Anh giải thích: trang trọng là “đoan chính, cẩn thận”[4], “nghiêm trang và trọng hậu”[5], đoan trang là “đứng đắn nghiêm trang”[6]. Tất cả đều là chuyện tính cách, phẩm chất đạo đức của Thúy Vân. (Nói trang trọng có nét quý phái, chưa chắc đã đúng. Khi nói giới thiệu trang trọng không ai hiểu là giới thiệu một cách quý phái, mà chỉ coi là cẩn thận, chu đáo, nghiêm túc).

Như vậy, sự khác vời  của Thúy Vân là ở chỗ nàng sở hữu hai vẻ đẹp. Vẻ đẹp của thanh sắc, chủ yếu hiện trên gương mặt: khuôn mặt hiền dịu, hoàn thiện; nét mày đậm nét, sắc nét, tốt tươi, đầy sức sống; nụ cười tươi như hoa;  tóc mây óng mượt, mềm mại, da trắng mịn màng. Vẻ đẹp của tinh thần, cốt cách. Toát ra từ điệu cười, giọng nói, lời thưa, đoan chính, cẩn trọng, sáng trong. Cho thấy, với Thúy Vân, Nguyễn Du không phải chủ yếu gợi tả nhan sắc[7].  Trong quan niệm của của ông, vẻ đẹp hoàn mĩ của một người con gái phải là sự kết hợp giữa vẻ đẹp của thanh sắc và vẻ đẹp của đạo đức tư cách con người.

Có lẽ mọi cô gái, dù đã có thanh sắc trời cho hay không, ai cũng cố gắng làm đẹp. Phần lớn cậy nhờ vào “vôi ve”. Có người chịu đau thay đổi “kết cấu”. Có người không tiếc tiền đầu tư vào phụ kiện. Còn có người đành sử dụng cách không được tích cực như tạo xì-căng-đan, thậm chí “vô tình lộ hàng”,... Tuy nhiên, đôi lúc dù khá vất vả nhưng hiệu quả không như mong muốn thậm chí là phản tác dụng. Đủ thấy, thế nào là vẻ đẹp của một người con gái, một người con gái bình thường, là câu hỏi  không dễ tìm thấy lời giải.

 

Những ai quan tâm đến điều này, có lẽ thử đọc lại Truyện Kiều, tham khảo nhân vật Thúy Vân. Nàng chỉ cần vẻ đẹp trên gương mặt (mà chủ yếu là nét mày, nụ cười trên môi, mái tóc và giọng nói, lời nói,...), và vẻ đẹp của cốt cách, của tinh thần, là đủ cho những người cùng giới phải thua, phải nhường. Cỏ vẻ những tiêu chí tối thiểu ấy chẳng có gì là xa vời đối với mọi cô gái trên thế gian này.

 

  3- Vẻ đẹp của Thúy Kiều - một tuyệt thế giai nhân

 Trong bức chân dung gia đình cụ viên ngoại họ Vương, Thúy Kiều là nhân vật chính. Có thể nói nàng đã trở thành biểu tượng về sự tuyệt đỉnh của phái đẹp.

Theo mô tả của Truyện Kiều, sự khác biệt giữa một người con gái đẹp nói chung với một tuyệt thế giai nhân là ở cấp độ vượt trội trong mọi tiêu chí: sắc: thuộc số một;  tài:  ăn đứt người khác; nữ tính (hồng quần): thuộc hàng nhất mực, v.v...

 

Trước hết là sự vượt trội về thanh sắc. Nguyễn Du đã tả Vân như một “đòn bẩy”, một “phông nền” để đặc tả Kiều. Và từ “bức nền” Thúy Vân, hình ảnh nàng Kiều, một tuyệt thế giai nhân, đã hiện lên thật lung linh, lộng lẫy như một nữ thần của phái đẹp. Nàng như một tập đại thành sắc màu của trăng, của hoa, của  ngọc, của mây, của tuyết, của liễu, của mai. Tại sao hoa phải ghen, liễu phải hờn. Vì mọi cái thắm tươi, tất cả xuân xanh, bao nhiêu tinh túy, vốn liếng của đất của trời, dồn lại lại vẫn thua, vẫn kém. Cái tuyệt đỉnh (đẹp như hoa) bị vượt qua, sự  vĩnh hằng (xanh như liễu) bị phủ định thì không đau đớn sôi gan tím ruột (ghen, hờn) mới là lạ.

 

Trong bức hình có một không hai này, điểm nhấn tỏa sáng, xuất thần là Làn thu thủy, nét xuân sơn. Chỉ hai nét phác họa theo phong cách ấn tượng, nhưng đủ gợi liên tưởng về hình ảnh đôi làn sóng mắt và đôi nét mày của hàng quốc sắc. Đôi mắt – một dòng thu sóng sánh xôn xao bao trọn cái mênh mông xanh thẳm của thu trời. Đôi mày – một sức sống tràn đầy tươi thắm, rộn ràng của vạn vật, cỏ cây trong sắc núi ngày xuân.  Đôi mắt ấy, cùng với nụ cười Một hai nghiêng nước nghiêng thành có thể khuất phục cả bậc khanh tướng, những yếu nhân của quốc gia, nắm trong tay muôn vạn hùng binh.  Sáu chữ dịch thoát hai câu thơ Đường, Nhất tiếu khuynh nhân thành / tái tiếu khuynh nhân quốc. Một cách nói ngoa dụ nhưng diễn tả được thực sự sức căng của năng lượng vũ trụ siêu phàm, sức hút huyền bí mãnh liệt, sức mạnh của thiên, của địa, của con người, trong một tuyệt thế giai nhân.   

 

Nhất là thanh sắc tuyệt đỉnh ấy lại song hành với sự vượt trội về trí tuệ, tài năng. Nguyễn Du dành tới sáu câu rưỡi để mô tả cái tài của nàng Kiều. Cũng như đại đa số các bậc quốc sắc thiên hương, tài trí của nàng chủ yếu tỏa sáng trong lĩnh vực nghệ thuật. Mảnh đất mà cái đẹp là cứu cánh và luôn được tôn vinh.  Điều vượt trội của vượt trội ở người con gái họ Vương này là sự đa tài. Nhờ có năng khiếu (sẵn tính trời), hầu như các môn nghệ thuật lớn nhất như thi, họa, nhạc, nàng đều rành rẽ đủ mùi (không có kì, một môn thể thao). Làu thông nhạc lí (cung thương làu bậc ngũ âm), nàng có tài năng đặc biệt trong âm nhạc. Cả ba vai trò: ca sĩ, nhạc công và sáng tác đều xuất chúng. Thúy Kiều là một nghệ sĩ tì bà (Hồ cầm) nỗi danh, có thể ăn đứt các anh tài khác trong làng âm nhạc. Thiên Bạc mệnh, nhạc phẩm do nàng sáng tạo, đã từng khiến biết bao nước mắt phải rơi, biết bao trái tim phải đau đớn não nề. Cho thấy, ở Thúy Kiều, một sức lao động nghệ thuật bền bỉ và một con tim nhân hậu giàu tình người hiếm có.   

Có bốn câu thơ cuối đoạn,  Phong lưu mực hồng quần / Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê / Êm đềm trướng rũ màn che / Tường đông ong bướm đi về mặc ai, thường nhầm là tả chung cả hai chị em. Cho nên, hầu như bị bỏ qua hoặc giảng giải sơ lược. Nhưng lại là nơi Nguyễn Du diễn tả ba (trong năm) vẻ đẹp nổi trội của nàng Kiều. Một người giàu nữ tính nhất, có ưu thế tuổi trẻ và rất thông minh, dũng cảm trong chuyện tình yêu.

 

  Phong lưu nhất mực hồng quần là câu khẳng định một vẻ đẹp đặc trưng của người phụ nữ. Đó là nữ tính. Hồng quần, danh từ cổ, chỉ đàn bà, con gái,  phụ nữ, giới nữ.  Ở đây, do đứng sau từ chỉ mức độ (nhất mực), hồng quần đã  tính từ hóa. Nên hồng quần có thể hiểu là tính chất đàn bà, chất nữ giới, hay như cách nói hiện đại là nữ tính, tính nữ (womanliness). Vì vậy, cấu trúc của nhất mực hồng quần bao gồm một từ chỉ mức độ tuyệt đối (nhất mực) và một tính từ chỉ tính chất (hồng quần). Như vậy, có thể diễn nôm là: vô cùng, hết sức, tuyệt đỉnh nữ tính. (Ta cũng hay nói quần áo rất nữ tính, cô ấy rất nữ tính,...). Còn phong lưu  là “lịch sự, trang nhã”, hay “khá giả, dễ chịu”[8]. Vì vậy, có thể hiểu cả câu: (Nàng Kiều) là người lịch sự, trang nhã nhất, giàu nữ tính nhất trong giới nữ.

Cái gì tạo nên sức hấp dẫn tuyệt đối ở người phụ nữ. Sắc đẹp chăng? Đẹp rồi sẽ bị cuốn đi cùng thời gian. Tuổi trẻ ư? Trẻ rồi cũng phải già. Tài năng? Rồi sẽ có người vượt. Cái còn lại chắc chắn là nữ tính. Nữ tính là gì? Một câu hỏi thật khó trả lời, nhưng rất dễ cảm nhận ở một phụ nữ. Có lẽ là cách nói chuyện có duyên, một trái tim nhạy cảm, nhân hậu, bao dung, đôi mắt hiền dịu, tinh tế?... Nói chung là những thứ, mà một cô gái  có thể khiến chàng trai của mình mãi mãi không thể dời xa, dù mái tóc xanh, đôi má hồng, con mắt biếc của nàng sẽ dần trôi theo năm tháng. Bởi vậy, một khi phong lưu nhất mực hồng quần, một khi đã giàu nữ tính nhất, cũng là lúc người con gái đã sở hữu một vẻ đẹp đầy ma lực, một sức hấp dẫn khôn cùng. 

 

Nàng Kiều còn có ưu thế lớn là đang ở độ tuổi đẹp nhất trong cuộc đời người con gái, tuổi thiếu nữ. Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê. Tuổi sắp bước lên xe hoa, không còn là trẻ con, nhưng cũng chưa phải làm người lớn. Không phải ngẫu nhiên mà các cuộc thi hoa hậu nghiêm túc người ta chỉ chọn thí sinh đang tuổi xuân xanh. Nói không quá, dù cuộc sống hiện tại vô cùng tốt đẹp, có lẽ nếu có một điều ước, phần lớn chị em ta đều chọn mãi mãi được là thiếu nữ. Tuổi mọi thứ đều rạng rỡ, khỏe khoắn, tươi tắn, căng tràn sức sống. Tuổi mà từ da thịt đến con tim đang rộn ràng độ chín cùng với mùa xuân[9]. Đã có bao chàng quân tử dùng dằng đi chẳng dứt trước một dáng hình thiếu nữ. Đã có bao nhiêu kẻ vô danh bỗng biến thành thi nhân, xuất thần với những vần thơ rạo rực về một thời thiếu nữ / say mê / diệu kỳ [10]. Một thời sở hữu một vẻ đẹp nguyên sơ đắm say quyến rũ. Tóc thiếu nữ chưa kín vòng con gái[11] / Khi hoa ươm nụ / Chưa tỏ hương đọng nét ngọc thu[12]/ Áo trắng em chưa lấm bụi đời / Chưa từng mơ tưởng chuyện xa xôi. Thúy Kiều cũng đang ở cái tuổi diệu kì, nguyên sơ như vậy. Êm đềm trướng rủ màn che / Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Chưa bị hôn nhân thúc ép. Thảnh thơi, nhàn nhã, đúng là cái tuổi vô tư lự, Chưa biết phiền về chuyện tình duyên[13].     

 

Cũng như với Thúy Vân, Nguyễn Du luôn khẳng định vẻ đẹp mười phân vẹn mười của nàng Kiều ở cả hai phương diện thanh sắc (tố nga), tinh thần cốt cách. Đoạn đầu tả chị em Thúy Kiều có câu: Mai cốt cách tuyết tinh thần. Và kết thúc đoạn miêu tả về Kiều: Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Câu thơ này không chỉ tả tâm hồn của cái tuổi vừa mới lớn, rất trẻ trung, như đã nói ở trên, mà còn gợi tả về thái độ của một cô gái trong chuyện tình cảm. Có lẽ cái khó khăn nhất của người con gái, hơn nữa là người con gái đẹp là chuyện cầm cương trái tim đang kì bốc lửa. Làm sao có thể vượt qua cái sức hút của giới tính, nhất là khi nó “tấn công” áp sát, cự li gần, ngay phía tường đông? Đã có biết bao chuyện bi hài khi lí trí không chế ngự được tình cảm. Khôn ba năm, dại một giờ /  Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén / Cả nể cho nên sự nhỡ nhàng,... Không bàn đến quan niệm trinh tiết khắt khe của người phương đông, chỉ nói đến những hậu quả nặng nề tai hại do cả nể, dại dột. Nhìn những cô gái đã bị sa vào tay của bọn Sở Khanh, thân tàn danh bại, hay tủi nhục phải cởi áo học trò để vất vả làm bà mẹ đơn thân,... mới thấy cái lí, cái thái độ, cái  bản lĩnh của Thúy Kiều trong những chuyện tình. Với tuổi đời ăn chưa no lo chưa tới  thì một thái độ dứt khoát ong bướm đi về mặc ai của Thúy Kiều, là một cách ứng xử thật thông minh và dũng cảm.

 

Nói vậy, có khi bị chê cười: thế cái đêm trèo tường đi tình tự với Kim Trọng chẳng phải là chuyện “trâu đi tìm cọc à”? Rồi chuyện rơi vào tay Sở Khanh, Mã giám sinh, Thúc Sinh nữa[14]? Thực ra mấy chuyện sau thì là tai nạn bất khả kháng và dễ hiểu. Còn chuyện chủ động đến với Kim Trọng, cho thấy Kiều cũng như bao cô gái khác: nhịp đập trái tim trở nên gấp gáp khi gặp tình yêu. Còn cho thấy đây là một trái tim thông minh. Nàng chỉ tránh, chỉ mặc ong bướm.  Còn với chàng Kim, từ khi e lệ nép vào dưới hoa, Kiều đã cảm nhận được đây là con người tử tế. Và quả thật sự mánh bảo của trái tim từ phút ban đầu khá chính xác. Người cả đời thủy chung, yêu thương, thấu hiểu những nỗi đau bất tận, tấm lòng trinh bạch của Thúy Kiều, chỉ có chàng Kim.    

 

Cho thấy, trong chuyện tình yêu đôi lứa, nàng Kiều là một trái tim bốc lửa, và một cái đầu luôn tỉnh táo. 

Những cô gái đã có sắc đẹp trời cho nay muốn được đứng ở hàng quốc sắc hay hơn nữa “ thế giới sắc”, chắc chắn có thể thấy ở nàng Kiều khá nhiều điều nên học.   

 

Có lẽ trong thế giới nghệ thuật của nhân loại có hai người đẹp đặc biệt. Nàng Gô-công người Itali, của đại danh họa Lêôna Đơ Vanhxi và nàng Kiều ở Việt Nam của đại thi hào Nguyễn Du. Cái gì là nên vẻ đẹp tuyệt đỉnh ở họ? Đó là câu hỏi không dễ trả lời. Cả hai đã và sẽ làm tốn bao nhiêu giấy mực của nhân loại. Bởi lẽ, cả hai đều là những vẻ đẹp huyền bí thanh tao.

 

4- Vẻ đẹp của kết cấu:

  Kết cấu được hiểu là sự sắp xếp, tổ chức, các yếu tố trong một sản phẩm. Kết cấu có vai trò rất lớn thậm chí quyết định cho chất lượng sản phẩm. Thị Nở, ma chê quỷ hờn, và Thúy Kiều, hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh, sự đối lập nhau trời vực ấy không nằm ở phần “nguyên liệu”, mà xét cho cùng cũng chỉ khác nhau ở kết cấu,... Hiểu được kết cấu, không chỉ giúp cho việc hiểu văn, làm văn mà cơ bản là cung cấp cho HS những kĩ năng sáng tạo nói chung sau này. Bởi vậy, người giáo viên văn học nên dạy cho HS nếu gặp văn bản có giá trị kết cấu cao như đoạn trích Chị em Thúy Kiều.

 

Do chỉ thiên về nội dung tài sắc Chị em Thúy Kiều, nên các nhà soạn sách nhà trường hay bỏ đi bốn câu đầu, chỉ chọn trích 24 câu, bắt đầu từ Đầu lòng hai ả tố nga.  Về nghệ thuật chỉ yêu cần thấy được nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du[15]. Vẻ đẹp của kết cấu rất đáng tìm hiểu trong đoạn trích này đã không được chú ý.  

Trước hết là vẻ đẹp của bố cục (kết cấu bề mặt). Có thể nói, Nguyễn Du đã dựng rất thành công bức chân dung có giá trị nghệ thuật về gia đình viên ngoại họ Vương trong đó nhân vật trung tâm là Thúy Kiều.    

 

Nhìn vào bố cục, thấy rõ bức chân dung có sức bao quát khá rộng. Mọi thành viên của gia đình đều hiện diện. Bố mẹ:  Có nhà viên ngoại họ Vương / Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung. Con trai út: Một con trai thứ rốt lòng, / Vương Quan là chữ nối dòng nho gia. Hai cô con gái. Đầu lòng hai ả tố nga. Con gái thứ hai: Vân xem trang trọng khác vời... / Cô con gái cả: Kiều càng sắc sảo mặn mà... Nhất là, nhân vật nào cũng khá rõ nét. Ông bà Vương có khả năng kinh tế, địa vị,  nuôi dạy con cái. Vương Quan chuyên việc học hành nối nghiệp nhà. Hai con gái, Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười.  Thúy Vân: đẹp người đẹp nết: Thúy Kiều: một tuyệt thế giai nhân.   

Nguyễn Du giới thiệu mọi thành viên trong gia đình, hơn nữa còn đặc tả mỗi người mỗi vẻ, nhưng các sắp đặt các chi tiết, dẫn dắt các ý hết sức mạch lạc, logic.

 

Trước hết xin nói về bốn câu cuối Phong lưu nhất mực hồng quần / .../ Tường đông ong bớm đi về mặc ai.  Các nhà soạn sách có vẻ ngập ngừng. Khi phân bố cục thì có phần: Mười sáu câu còn lại: gợi tả vẻ đẹp nàng Kiều. Đi vào cụ thể thì chỉ thấy mục: Phân tích mười hai câu gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều[16]. Như vậy hoặc cho rằng bốn câu này dùng để tả chung, hoặc chỉ để tả Kiều nhưng không có giá trị lắm, nên bỏ qua. Như đã khảo sát trên, đây là bốn câu nhưng  diễn tả tới 3/5 phẩm chất vượt trội của Thúy Kiều. Trong đó có ý thức giữ gìn phẩm giá. Mà chuyện quan trọng này Nguyễn Du đặt vào những đoạn mạch trong bố cục rất rõ. Chung hai chị em (cốt cách, tinh thần). Riêng Thúy Vân (trang trọng, đoan trang). Riêng cho Thúy Kiều (ong bướm đi về mặc ai).

  Và có lẽ sợ người sau nhầm lẫn nên Nguyễn Du luôn sử dụng những từ ngữ chuyển đoạn chuyển ý. Khiến cho văn bản thơ mà mạch lạc như văn nghị luận, minh bạch như văn hành chính. Các phần rõ ràng như trong một tờ khai lí lịch. Có nhà viên ngoại (phần giới thiệu bố mẹ) / Một trai con thứ (giới thiệu con trai) /  Đầu lòng hai ả (giới thiệu chung hai con gái) / Vân xem...(Thúy Vân) / Kiều càng...(Thúy Kiều). Những câu như  Kiều càng sắc sảo mặn mà / So bề tài sắc lại là phần hơn, có vừa có giá trị như một câu chủ đề trong một đoạn văn vừa có giá trị chuyển ý. Cho thấy bố cục mạch văn rất mạch lạc.

 

Hơn nữa, Phong lưu nhất mực hồng quần, chắc chắn là nằm trong logic khẳng định sự vượt trội của một tuyệt thế nhi độc lập[17]. Sắc, đòi mội không hai. Tài, ăn đứt thiên hạ. Nữ tính (hồng quần), nhất mực. Nếu coi phong lưu cũng là phẩm chất của Thúy Vân, thì hóa ra, tài sắc hai cô Kiều bằng nhau. Logic bị phá vỡ, trái với dụng ý của nhà thiết kế.  

 

 Điểm đáng chú ý là bức chân dung có kiểu bố cục đậm nhạt, tạo ra điểm nhấn, tô đậm trung tâm. Mối quan hệ giữa nhân vật chính và nhân vật phụ được xử lí rất khéo léo, rất kĩ thuật. Phụ trước, chính sau: Bố mẹ, Vương Quan, Thúy Vân được tả trước. Thúy Kiều, nhân vật chính, tả sau cùng, nên có được ấn tượng sâu đậm nhất. Chính nhiều, phụ ít: Cả cha mẹ, rồi hai em, bốn người, chỉ được tả bằng 12 câu, riêng Thúy Kiều được 16 câu. Số lượng câu vượt trội, làm cho hình tượng Thúy Kiều chiếm phần lớn “diện tích” bức tranh. Phụ tôn chính: Số lượng nhân vật phụ (bố mẹ, hai em) nhiều nhưng không lấn át không làm mờ mà càng chiếu sáng, tôn cao hình ảnh Thúy Kiều.

Trở lên, đang bàn về bố cục, kết cấu bề mặt của hành văn. Nó biểu thị đoạn mạch, logic của lời văn và thường dễ thấy. Khó nhận diện nhất là kết cấu bề sâu. Đó là cấu trúc bản thể của sự vật, hiện tượng. Trong văn chương, cấu trúc bề sâu là kết cấu của hình tượng nghệ thuật, đồng thời là quan niệm của nhà văn về con người về thế giới. Và không thể  “đọc-hiểu” được hình tượng nếu như không nắm bắt được kết cấu bề sâu của nó.

 

Quan sát bức chân dung gia đình Thúy Kiều, qua phương diện kết cấu, có thể thấy những quan niệm của Nguyễn Du về con người như sau:

Cấu trúc vẻ đẹp con người luôn gồm hai thành tố: vẻ đẹp của bản thân và vẻ đẹp  gia đình. Vẻ đẹp của ta làm cho gia đình ta thêm đẹp. Và gia đình ta, khi mỗi thành viên đêu tốt đẹp bình an, hạnh phúc, sẽ là nơi nuôi dưỡng và bảo vệ vẻ đẹp của ta. Trong văn chương có những người đẹp đều rơi vào cảnh oan trái đáng thương, trước hết do hoàn cảnh gia đình.  Cô Tấm (cổ tích Tấm Cám), vào hàng quốc sắc, (hoàng tử phải mê), nhưng gia đình: Cha mẹ mất sớm. Mẹ kế  độc ác. Cô em ruột vừa tham vừa xấu. Nàng  Phăng-tin (Những người khốn khổ- Victor Hugô), có hàm răng trắng đều và một mái tóc “óng ả như ánh mặt trời”, “trong tâm hồn còn thoang thoảng mùi hương trinh nữ”, nhưng nghèo, sống hoang dã không ai nuôi dạy,... Thúy Kiều cũng vậy, trong bức chân dung gia đình khi còn yên hàn, đầu thiên truyện, nàng được sống cảnh Êm đềm trướng rủ màn che. Nhưng khi cha và em gặp nạn thì chúa hoa bỗng thành cánh hoa tàn nhơ nhớp. Gác lại nguyên nhân xã hội, thì gia đình là yếu tố đảm bào cho một vẻ đẹp hoàn thiện hoàn mĩ của mỗi con người.  

 

Thứ hai là vẻ đẹp của một gia đình được cấu trúc bởi bốn nhân tố: kinh tế ổn định / có chỗ đứng trong xã hội / có truyền thống học tập / nuôi dạy con cái thành công / (và nếu có đủ trai gái thì càng tốt). Gia đình cụ Viên ngoại là biểu tượng của kết cấu này. Có thể đưa ra nhiều nhân tố nữa, nhưng nếu một xã hội có đa số các gia đình, những tế bào có cấu trúc ADN “bốn nhân” như vậy, thì chắc chắn cơ thể của xã hội không bao giờ bị ung bứu.

 

Thứ ba kết cấu vẻ đẹp của người con gái bao gồm hai phương diện: gương mặt (khuôn mặt, nét mày, nụ cười, lời nói, làn tóc mây, da) / cốt cách, tinh thần. Thúy Vân chính là biểu tượng về vẻ đẹp của kết cấu này. Trừ những người cần thanh sắc như một phương tiện nghề nghiệp (như người mẫu, diễn viên múa,...), thì có lẽ, đại đa số các cô gái, khi hội tụ đủ hai phươn diện như vậy, đã có thể hoàn toàn yên tâm, tự tin về tư dung của bản thân. Có thể nói cụ Nguyễn Du đã đưa ra một kết cấu, một công thức làm đẹp rất nhân văn. Bởi lẽ, không phải ai cũng có được chân dài của người mẫu, có ba vòng chuẩn như hoa hậu (những thứ trời cho). Nhưng ai cũng có thể rèn luyện để có nụ cười tươi như hoa, lời nói trong trẻo, thanh cao như ngọc, ai cũng có thể tạo cho mình làn tóc mây óng mượt, biến hóa đầy hấp dẫn. Và đặc biệt cô gái nào cũng có thể tu dưỡng để có một phong thái, tư cách trang trọng, đoan trang / mai cốt cách, tuyết tinh thần. Đúng như ý của Christian Dior: Không có phụ nữ xấu, chỉ có phụ nữ không biết làm đẹp.

 

Thứ tư vẻ đẹp của một tuyệt thế giai nhân. Thế nào là một tuyệt thế giai nhân? Đây là một câu hỏi thật khó. Hiện nay thế giới cũng như mỗi quốc gia thậm chí từng địa phương đã mở ra rất nhiều cuộc thi để những người đẹp đua tranh vương miện. Nhưng không ít vương miện đã bị trao nhầm chỗ và không ít giám khảo phải chịu tiếng bấc tiếng chì của công luận. Cho thấy nghề chọn người đẹp không phải dễ dàng. Có lẽ cái khó là chuyện xác định tiêu chí.  

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đưa ra bức chân dung của nàng Kiều. Đó là một vẻ đẹp tuyệt đỉnh, với kết cấu năm thành tố: đứng đầu về sắc / trí tuệ, tài năng xuất chúng / giầu nữ tính nhất / trẻ tuổi / trái tim thông minh.

Có lẽ Nguyễn Du đã cho giám khảo các cuộc tuyển hoa hậu một bộ tiêu chí tuyệt vời để có thể chọn người đẹp cho muôn đời.

 

***

          Từ những phân tích trên, trích đoạn Chị em Thúy Kiều đang dùng trong nhà trường nên được nới rộng thêm bốn câu (từ 11 đến 14). Giá trị nôi dung và nghệ thuật của đoạn thơ sẽ phong phú và giàu ý nghĩa lên rất nhiều.  Như vậy, HS sẽ được cảm nhận, đánh giá  không phải chỉ có vẻ đẹp của Thúy Vân, mà còn có vẻ đẹp của một người con gái bình thường. Không phải chỉ có một Thúy Kiều tài sắc mà còn có sự hoàn mĩ của một tuyệt thế giai nhân. Không phải chỉ có hai cô Kiều mà còn có nét văn hóa của một gia đình. Và về hình thức, không phải chỉ có nghệ thuật miêu tả nhân vật ước lệ tượng trưng, mà còn có vẻ đẹp của nghệ thuật kết cấu.

          Phải chăng đó mới là ý nghĩa nhân văn đích thực mà Nguyễn Du muốn gửi đến mai sau?

Trong lúc nhiều thị hiếu thẩm mĩ có nguy cơ bị đảo lộn. Ở nhiều nơi, đồng tiền được tôn thờ như một tuyệt sắc giai nhân, thậm chí còn đăng quang, đoạt ngôi của cái đẹp, thì việc tìm hiểu và kết nối những thông điệp thẩm mĩ, những giá trị tinh thần cao đẹp trong văn chương của cha ông đến với HS trong nhà trường hiện nay là việc nên làm.

Tất nhiên là phải từ những áng văn chương giàu chất thẩm mĩ như đoạn thơ đang bàn ở đây.

 

 



CHÚ THÍCH

 

[1]-  Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngữ văn 9,tập một, ( SHS), NXB Giáo dục, 2005,   tr.81

[2] - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngữ văn 9,tập một, sách giáo viên, (SGV) NXB Giáo dục, 2005,  tr.83

[3] - Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB. Khoa học xã hội, tr.122

[4] - Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển, NXB. Trường Thi, Sài gòn, 1957, tr.475.

[5] - Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, tr.409

[6] - Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, tr.131

[7] -  Bộ Giáo dục và Đào tạo, SGV, tr.83

[8] - Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, H.1994, Tr.755

[9] - Lấy ý trong bài Mùa xuân chín của Hàn Mạc Tử.

[10] -  Chữ trong bài hát Thời hoa đỏ của Thanh Tùng.

[11] - Võ Khánh Cừ, Vùng núi vào xuân, poem.tkaraoke.com/tim.tho

[12] -  Đông Hòa, Tình ta kết bằng hoa quỳnh,  poem.tkaraoke.com

[13] - Diên Vĩ, Lật lại những bài thơ người ta viết. poem.tkaraoke.com/tim.tho

[14] - Nguyễn Công Trứ đánh giá Kiều là tà dâm, (Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm -Vịnh Thúy Kiều). 

[15] - Bộ Giáo dục và đào tạo, SGV, tr. 81

[16] - Bộ Giáo dục và Đào tạo, SGV, tr. 83

 

[17] - Lời thơ Thôi Hiệu

 

.........................................................

 

Lê Như Bình  - ĐH Hồng Đức, Thanh Hóa

Nguồn: phongdiep.net

 

Các bài khác:
· "CỤNG LY" CÙNG NHÀ THƠ NGUYỄN MINH KHIÊM
· MỘT CHUYẾN TRỞ DẠ CỦA NÀNG THƠ
· NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG - NGƯỜI VIẾT VĂN KHÔNG ĐI VẮNG
· GIỚI HẠN GIỮA CON NGƯỜI CÔNG CHỨC VÀ CON NGƯỜI NGHỆ SĨ NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
· Ý NHI - CUỘC ĐỘC THOẠI TRIỀN MIÊN
· NGUYỄN TUÂN - NHÀ VĂN CỦA HÌNH DUNG TỪ
· GẶP NHÀ VĂN ANH ĐỨC TRONG RỪNG
· SIÊU "ĐẠO THƠ" THỜI NAY
· MỐI TÌNH KHẮC KHOẢI CỦA NGUYỄN VĂN TÝ SAU "DƯ ÂM"
· LƯU KHÁNH THƠ VÀ CÁC NHÀ PHÊ BÌNH ĐANG DẦN RỜI XA THỜI SỰ
· THƠ VIẾNG BẠN HIỀN
· PHẠM DUY VÀ HUẾ
· HOÀNG HỮU - MẶT TRĂNG TỪNG KHUẤT NỬA Ở TRONG NHAU
· TUY LỘC
· ĐOÀN THẠCH HÃN - ĐÃ QUÊN MỘT THUỞ TRẦM LUÂN GIỮA ĐỜI
· THỂ CHÂN DUNG VĂN HỌC TỪ 1986 ĐẾN NAY
· BA TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN TRÍ
· HAI NHÀ VĂN TỪ CUỘC CHIẾN
· NHỮNG GHI CHÉP VỀ QUỐC CA, QUỐC KỲ VÀ NGƯỜI NGHỆ SĨ
· PHẠM NGỌC THÁI VÀ NỖI TRĂN TRỞ NGƯỜI ĐI TÌM VÀNG

 

  
Gia đình Bích Khê