DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
PHÁI ĐẸP TRONG THƠ VIỆT NAM THỜI CHỐNG MỸ

                                                                                            Trần Quốc Toàn 

Người phụ nữ ngoài đời đã đẹp, lại đẹp lên rất nhiều trong thơ. Ngay ở thời phong kiến trọng nam khinh nữ, thời “Đau đớn thay phận đàn bà…” thì Thúy Kiều vẫn là một nhan sắc “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” một tài năng“Tay tiên một vẩy đủ mười khúc ngâm” một đức độ dẫn tới can trường “Rẽ ra để thiếp bán mình chuộc cha”. Trong dòng chảy của văn học hiện đại Việt Nam, chân dung phái đẹp trong thơ thời chiến ngày càng đẹp hơn.

1.Lớn hơn “chuộc cha” báo hiếu, người phụ nữ trong văn học Việt Nam hiện đại còn tham gia tích cực vào các hoạt động kháng chiến cứu nước. Đây thật là một thay đổi lớn lao mà cách mạng đem lại cho nữ giới, vốn bị coi là nữ nhi ngoại tộc. Trong bài “Nhân vật của thời đại, nhân vật của văn chương” in trong tập tiểu luận “Vừa làm vừa nghĩ”  Phạm Tiến Duật viết: “Có một nhân vật có thể coi là mới tinh, lộng lẫy bước vào văn chương Việt Nam thời kỳ chống Mỹ. Đó là nhân vật Thanh niên xung phong… Nói đến Thanh niên xung phong là nói đến phụ nữ”. Trong sự nghiệp thơ ca của mình, Phạm Tiến Duật đã dồn bút lực để khắc tạc vẻ “lỗng lẫy” còn bị chìm khuất của những người phụ nữ này. Khắc tạc bằng cách  kể một câu chuyện tình bằng thơ “Gửi em, cô thanh niên xung phong”.

Chuyện tình bắt đầu bên một hố bom:

Có lẽ nào anh lại mê em

Một cô gái không nhìn rõ mặt

Đại đội thanh niên đi lấp hố bom

Áo em hình như trắng nhất.

Không nhìn thấy nhưng nghe ra nhờ trong tối đen ấy người con gái vẫn có cách để sáng lên dù có phải khó khăn:

Cây trúc làm duyên phải  nhờ gió thổi

Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói

Bông hoa làm duyên phải lụy hương bay

Với cách ấy, cô thanh niên xung phong tinh nghịch đã tận dụng lợi khí ngôn ngữ của địa phương mình, tận dụng  tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để, cô đã chuốt Hán tự địa danh Thạch Kim quê mình thành nôm na chữ tượng hình thạch nhọn để châm chích ngoa ngoắt, để phép màu của tình yêu biến sự ngoa ngoắt ấy hóa thành tiếng hát ngọt ngào:

Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón

Em đóng cọc rào quanh hố bom,

Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn

Tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để

Anh lặng người như trôi trong tiếng ru.

 Sau đêm “không nhìn rõ mặt ấy” anh bộ đội thi sĩ đi tìm cô thanh niên xung phong mình đã mê, đã si. Chuyện tầm duyên mà con người vẫn làm từ bao đời nay, trong đời sống thường nhật, được lặp lại trong một hoàn cảnh đặc biệt, thời chiến. Và vì vậy, đường tình đã lẫn vào đường ra trận. Có lẽ vì  sự chan hoà này mà trong một bài thơ khác Phạm Tiến Duật mới nói được thật tự nhiên Đường ra trận mùa này đẹp lắm/ Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây mới tạo ra được góc nhìn để thấy, một chuyện tình có thể lớn như hai cánh quân! 

Trở lại với bài thơ kể chuyện kia, chẳng khác gì chàng Kim ngày xưa Bao nhiêu của mấy ngày đàng/ Còn tôi, tôi một gặp nàng mới thôi  người lính cứ hành quân tìm kiếm và một ngày kia, anh như chàng hoàng tử tìm ra người đẹp ngủ trong rừng:

“Cạnh giếng nước có bom từ trường

Em không rửa ngủ ngày chân lấm

Ban ngày em phá nhiều bom nổ châm

Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà…”

Tiếc thay, đoạn thơ trên chỉ là chuyện kể đặt trong dấu ngoặt kép! Khi anh lính tìm được tới nơi cô gái từng ở thì em lại đã ra đi, lại đang ở nơi mở tiếp con đường dẫn tới: Rực rỡ mặt đất bình minh/ Chập chọang chân trời pháo sáng… dẫn đến ngày chiến thắng, chỉ để lại câu chuyện về đôi bàn chân đã in dấu trong tim anh, câu chuyện về giọng nói đã từng được anh nghe và thảng thốt, ghi nhớ. Và đấy là chân lấm, chứ không phải gót son hồng hào, là ú ớ nói mê chứ không nói ngoa đùa cợt “buồn cười đáo để” như ngày nào. Chỉ là những thông tin có thể khiến ai đấy vỡ mộng. Trong thông tin ấy, ngày thì đuểnh đoảng ngày, đêm lại hớ hênh đêm, những biểu hiện có thể gây phản cảm, để kẻ tương tư tỉnh ngộ và chấm dứt cuộc kiếm tìm. Nhưng lạ thay, chính lúc nhìn ra những thứ chẳng nên thấy ấy thì anh con trai lại tăng thêm một cấp độ cho tình yêu của mình. Thơ có phần tha thiết hơn để phát triển điệp ngữ vang lên dồn dập hơn, tạo âm hưởng của một điệp khúc trong tình ca này:

Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa

Thương em, thương em, thương em biết mấy.

Thương vì cái quyền làm người con gái sạch sẽ, đi ngủ được rửa chân em cũng chẳng được hưởng. Thương vì ban ngày khí phách của một anh thư thời chống Mỹ khiến em can trường thế nào không biết, nhưng đêm về, trong giấc ngủ bản năng thì sự sợ hãi thức dậy, em nói mê nói sảng như một cô gái yếu đuối cần chở che. Và người lính muốn nhận lấy trách nhiệm chở che kia, thốt ra lời thương ba lần xác quyết, Thương em, thương em, thương em biết mấy để bù đắp phần nào sự thiệt thòi mà cô gái phải gánh chịu. Anh muốm che chở như một sự tri ân người đã truyền sức mạnh tinh thần cho mình. Nói khác đi, người lính muốn sống xứng đáng với vẻ đẹp của đức hi sinh sáng lên từ người mình yêu. Cho tới cuối câu chuyện thơ này, người lính vẫn không tìm được người tình thanh niên xung phong của mình, anh đành để khuôn mặt riêng muốn biết, nhòa vào vóc dáng chung, danh xưng chung của một tập thể nữ giới đã từng “…trong bóng đêm phòng thủ của chiến trường, các cô vẫn đẹp như ánh sáng” (Vũ Quần Phương):

Ơi em gái chưa một lần rõ mặt

Có lẽ nào anh lại mê em

Từ cái đêm “Thạch Nhọn Thạch Kim”

Tên em đã thành tên chung anh gọi

Em là cô thanh niên xung phong.

Chưa tìm được người tình nhưng anh lính đã giúp bạn đọc chúng ta tìm ra phần nữ tính mềm mại, chìm khuất trong phẩm chất nhân vật người anh hùng thời đại chống Mỹ cứu nước vốn hoành tráng, lẫm liệt, để tránh sự phiến diện có thể xẩy ra vì sự nhấn mạnh quá đà vào những hoành tráng, lẫm liệt kia.

2.Thế rồi “Ngày hòa bình đầu tiên” đã đến với chúng ta. Trong thơ Nguyễn Duy ngay ấy đến theo sau một cô gái:

 Mịn làm sao mát làm sao

 Bụi sương thôi cũng ngọt ngào trên môi

Sương giăng lụt cả đất trời

Giữa bồng bềnh trắng tôi bơi tôi trườn

 Con đường chìm nổi trong sương

 Thực hư như thế con đường trong mơ

Chờ em... lẳng lặng... tôi chờ

Lập loè hoa gạo lờ mờ bóng cây

 Hố bom sâu hoắm nơi này

 Sương mong mỏng lấp đã dày từ đêm

 Loeo khoeo cột điện cột đèn

 Lô nhô huyền ảo đẹp lên lạ kỳ

Dịu dàng từng bước em đi

Nhẹ nhàng như chả có gì lớn lao...

Đó là một tinh sương đầy nữ tính, đã  mịn, đã  mát lại  ngọt ngào trên môi nếm náp của gã đàn ông làm thơ. Nếm náp thôi chưa đủ, giữa cái mịn mát đến bồng bềnh, giữa  bụi sương  như voan như lụa  giăng từ đất lên trời, người đàn ông ấy  bơi và  trườn. Bơi và trườn trên đất  bằng, chính  là đã  được bay, bay lượn trên con đường trong mơ.

Cuối đường mơ là em. Nhưng không phải một em bằng xương bằng thịt, em là  lập loè hoa gạo lờ mờ bóng cây hay nói khác đi em đã lãng đãng chan hòa vào màn sương dâng để có tầm  vóc quyến luyến được cả cột điện, cột đèn  loeo khoeo khiến cho cái biểu tượng mực thước tới cứng nhắc của một thời công nghiệp hiện đại bỗng  lô nhô  huyền ảo đẹp lên lạ kỳ.

Nhưng cái huyền ảo lạ kỳ nhất của buổi sáng hôm ấy, của  bài thơ là chỉ sau một đêm, một đêm thôi, vết thương mấy mươi năm chiến tranh đã lên da non. Sự sinh thành mau mắn ấy đã như là quà của một thiên nhiên dày thiên chức nữ ban tặng cho cuộc đời:

Hố bom sâu hoắm nơi này

Sương mong mỏng lấp đã dày từ đêm

 Phải chăng cái nghịch lý lạ kỳ mỏng mà dày lại chính là sức mạnh của phái yếu? Của các mẹ các chị! Chẳng thế mà làm lô nhô cột điện cột đèn, san bằng mặt đất, khiến người trần mắt thịt bay lên được thế kia mà vẫn cứ:

Dịu dàng từng bước em đi

Nhẹ nhàng như chẳng có gì lớn lao...

Chẳng có gì lớn lao mà thật lớn lao. Nói về sự lớn lao của người phụ nữ, Hồ Xuân Hương đã thậm xưng, đã tí hon hoá, đặt một "Bố cu lổm ngổm bò trên bụng" để thực hiện phép so sánh nam, nữ quyền; Huy Cận đã "hầu quạt" lại là quạt gió của" thùy dương mấy bờ" đến lượt Nguyễn  Duy, ông đã đúc, đã tạc lớn lao ấy bằng chất liệu sương mai.

3.Phái đẹp đã đẹp như sương hòa bình trong thơ Nguyễn Duy lại đẹp như  nắng thống nhất trong thơ Bế Kiến Quốc, bài Điện thoại đường:

Và thuơng nhớ được truyền vào giọng nói

Anh có em đôi lần qua điện thoại

Em rất trong rất mềm mại khẽ khàng

Như nắng vàng buông ngân trong không gian

Ít bài thơ được bắt đầu từ chữ "và" liên từ như bài này.  Một liên từ, việc của nó là nối phần này với phần kia, chữ  ở đây nối đời chung ở hai đầu đất nước với thương nhớ riêng của hai người tình.

Trong cõi riêng này, chàng Nam như xuất thần, như thấu thị  mà cảm nhận cho hết nàng Bắc, người yêu nghìn trùng xa cách của mình. Một cảm nhận thính giác, em rất trong...Khen kiểu ấy, người được khen bỗng trở nên sang trọng và dễ vỡ như bình pha lê,  bình  sứ cổ,  muốn nâng niu phải đưa lên ngang mày mà  khe khẽ gõ vào để thấy  trong và  thấy như nắng vàng buông ngân...Đến đây không còn biết đó là cảm  nhận thính giác hay thị giác nữa, nắng vàng thì ta  nhìn thấy, nhưng nắng ấy mà ngân lên thì ta lại nghe được. Và nghe quả thật là ngân tiếng vàng nhờ câu cuối của khổ thơ thứ nhất chỉ có tám chữ,  mà  được cài  đặt những hai nhóm vần đan xen với sáu âm tiết hiệp vận vàng -  ngân -  gian   và buông - trong - không rất hòa âm.  Lại hài  thanh nữa  khi có  đến bảy thanh bằng trong một câu thơ tám âm tiết:

Như  nắng vàng  buông ngân  trong không gian

Nghe  thấy em,  rồi nhìn thấy em trong nghìn trùng xa cách đã giỏi, giỏi hơn là cái mát em từ nghìn dặm cách xa mà mát cả da thịt anh. Nhớ nhau, yêu nhau đến nghiêng cả núi sông để chuyển mùa thu làm quà tặng:

Đất nước chúng mình dài, bắc nam nghìn dặm đất

Đường điện thoại mỏng manh thành sợi tơ bền chặt

Anh đoán chừng thu đã tới ngoài kia

Qua giọng em mát rượi cả trưa 

Có hai mùa thời gian trong chỉ một câu thơ!

Trong thơ xưa sóng thu ba của khoé nhìn làm nghiêng nước nghiêng thành. Nhờ sóng... vi ba của kĩ thuật viễn thông, thơ nay giúp người đẹp có thêm giọng nói nghiêng sông, nghiêng núi theo một chiều tích cực! Vậy là chuyện  bền chặt anh, em đã chuyển thành chuyện núi sông thống nhất từ bao giờ. Những sợi tơ riêng tư đã như những vi ti mạch máu hồng chan hòa vào cơ thể một đất nước thống nhất.

Bài thơ mở rất lạ bằng một liên từ, cũng rất lạ khi được các số từ khép lại: 

Nghe nhớ thương trải dài trên núi sông

Gọi thầm em: Năm - bốn - bốn - ba - không...

Đó có thể là một con số thật, tra thấy trong  danh bạ  điện thoại. Nhưng coi đó là con số tu từ  cũng được,  tu  từ theo lối giảm dần ý nghĩa cách chia, rút ngắn dần xa cách, 5 rồi 4 rồi 3...Xa cách cứ ngắn

lại rồi triệt tiêu. Xa cách bằng không khi hai ta bền chặt như đất nước thống nhất!

Chân dung phái đẹp trong thơ ngày càng đẹp hơn, có phải vì, nói như văn hào M.Gorky: “Tất cả vẻ đẹp của cuộc sống được tạo nên là nhờ vào sức mạnh của tình yêu đối với người phụ nữ”?                                       NGUỒN: VANVN.NET                                                                 


 

Các bài khác:
· BÀI THƠ TÌNH VIẾT DỞ
· NGƯỜI THƠ TRẦM TÍCH
· DẤU ẤN NGƯỜI TRẺ TRÊN VĂN ĐÀN TRẺ
· TRẦN NHÃ THỤY - NGỒI HÁT GIỮA ĐỜI
· "TÌNH GIÀ" CỦA PHAN KHÔI LÀ THƠ MỚI?
· LƯU TRÙNG DƯƠNG - NHÀ THƠ TÀI HOA
· SỰ KIỆN NHÀ VĂN LAN KHAI MẤT TÍCH
·
· CHÙM THƠ ĐẶNG HUY GIANG
· LANG THANG QUA CHIẾN TRANH-KỲ 7: GẶP ÔNG SÁU DÂN TRONG RỪNG
· LỤC BÁT NGUYỄN QUANG THIỀU
· VĂN HỌC TRẺ VỚI NGUY CƠ "NGÔN TÌNH" HÓA- KÌ 2: TÁC GIẢ CHƯA THÀNH TRIỆU PHÚ NHƯNG VĂN HÓA ĐỌC ĐÃ HÓA AO TÙ
· LANG THANG QUA CHIẾN TRANH -KỲ 6: GẶP TRỊNH CÔNG SƠN
· CHÙM THƠ TIỄN THU CỦA TRÀ THANH LAM
· LANG THANG QUA CHIẾN TRANH -KỲ 5: BIA HƠI HÀ NỘI
· NGUỒN SÁNG VŨ NGỌC PHAN
· VĂN HỌC TRẺ VỚI NGUY CƠ "NGÔN TÌNH" HÓA- KÌ 1: SỰ DỄ DÃI...
· ĐIỀU GÌ LÀ HỆ TRỌNG HƠN CẢ?
· LANG THANG QUA CHIẾN TRANH -KỲ 4: NHÀ THƠ THỬ NÓI VỀ HẠNH PHÚC
· PHAN KHÔI - NGƯỜI ĐA TÀI

 

  
Gia đình Bích Khê