Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_78k0ojo51g6c4phad24k76aue4, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TRUYỆN NGẮN ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH QUA CÁC CUỘC THI TRÊN VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI ĐẦU TK XIX

                                                    NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

Một mạch ngầm vô tận trong văn chương đương đại

Chiến tranh là đề tài phổ biến trong văn học thế giới và là đề tài “đặc biệt” trong văn học Việt Nam. Từ buổi bình minh của văn học viết, trải qua mười thế kỉ văn học trung đại đến văn học hiện đại, đề tài chiến tranh là dòng mạch riêng gắn với lịch sử của dân tộc. Phương thức khai thác đề tài và tiếp cận hiện thực chiến tranh có sự thay đổi theo các thời kì lịch sử. Thời chiến, văn học là tiếng nói của cộng đồng, dân tộc, hướng tới phản ánh sự kiện với nhân vật sử thi. Sau giải phóng, biên độ hiện thực được mở rộng. Đặc biệt, thời kì Đổi mới đã mở ra bầu không khí dân chủ, khuyến khích mọi cá tính sáng tạo và cùng với độ lùi thời gian, chiến tranh được phản ánh một cách đa diện, đa thanh trong sự cách tân hình thức trên mọi thể loại nói chung và truyện ngắn nói riêng.

 

Chiến tranh được nhận định là “siêu đề tài” của văn học, là những vỉa trầm tích để giới sáng tác kiếm tìm và giải mã. Trên thực tế, chưa khi nào đề tài này nằm ở vùng ngoại biên của văn chương thời bình. Nói như nhà văn Chu Lai, “Càng khám phá càng thấy những độ rung không mòn nhẵn, miễn là người viết biết tìm ra một lối đi riêng”(1). Văn học Việt Nam đương đại viết về chiến tranh thiên về khám phá những mặt còn khuất lấp, những thế giới bên trong phức tạp, những vết hằn ám ảnh trong số phận con người. Bên cạnh diễn ngôn ý thức hệ và tinh thần dân tộc, văn học về chiến tranh còn là diễn ngôn về hạnh phúc cá nhân, nhân tính, dục tính…, là cuộc thể nghiệm lối viết mới trên chất liệu không mới.

 

Đầu thế kỉ XXI, văn học về chiến tranh không ngừng vận động để tìm kiếm những giá trị mới. Nhiều tác phẩm ra đời, trong đó có truyện ngắn. Tạp chí Văn nghệ Quân đội là cầu nối tích cực đưa những truyện ngắn ấy đến với độc giả. Được tổ chức thường xuyên từ nửa sau thế kỉ XX như nét đặc sắc của tạp chí, các cuộc thi truyện ngắn trở thành điểm hẹn đón chờ những kết tinh mới của văn học chiến tranh. Từ năm 2000 đến nay, trong mười bốn năm, đã có bốn cuộc thi truyện ngắn trên Văn nghệ Quân đội (2001-2002; 2005-2006; 2008-2009; 2013-2014). Từ ba cuộc thi đã kết thúc, có 97 truyện ngắn hay và đoạt giải được in thành ba tập, trong đó có 23 truyện về chiến tranh. Cuộc thi 2013-2014 đang bước vào chặng cuối, với hơn 80 truyện đã được đăng tải thì có hơn 30 truyện viết về chiến tranh. Những thống kê trên chưa phải là toàn diện nhưng có thể hình dung diện mạo truyện ngắn Việt Nam về chiến tranh qua các cuộc thi trên tạp chí này (sau đây gọi tắt là truyện ngắn chiến tranh).

 

Trong bức tranh đa sắc của truyện ngắn đương đại về lịch sử, tôn giáo, cuộc sống, tình yêu thời công nghệ, về người Việt xa xứ, dân tộc miền núi, công nhân..., đề tài chiến tranh vẫn là mảng màu không thể thiếu, chứa đựng tâm huyết của nhiều thế hệ người cầm bút dù chiến tranh đã đi qua gần bốn mươi năm. Trong môi trường văn hoá của thế kỉ mới, chiến tranh có sự khúc xạ và khoảng cách xa hơn; với lớp nhà văn trẻ không có trải nghiệm thực tế trong chiến tranh thì đề tài này lại càng là một thách thức. Thêm vào đó là sự đòi hỏi và “khó tính” của độc giả ngày nay. Tuy vậy, tất cả những yếu tố đó, dù ít nhiều là trở lực, không ngăn được sự vươn tới của văn học chiến tranh. Có thể tìm thấy ở những truyện ngắn về đề tài này hơi thở của đời sống văn chương đương đại.

 

Sự mở rộng biên độ hiện thực cùng cái nhìn đa chiều, việc nói được sự hi sinh, khốc liệt đến tận cùng và những tai ương bi kịch mà chiến tranh gây ra đối với con người ở cả hai chiến tuyến là những nét mới của văn học chiến tranh. Đi theo lối viết truyền thống hay tìm phương thức biểu đạt mới đều là những nỗ lực lớn của mọi người viết, để đề tài chiến tranh vẫn tiếp tục thu hút độc giả trong thời kì mới.

 

Mở rộng biên độ hiện thực với góc nhìn nhân văn

 

Thể loại truyện ngắn với đặc trưng là “thể tài tự sự cỡ nhỏ”, sự kiện được “gọt tỉa và dồn nén”, là một “lát cắt” đời sống nhưng vẫn phản ánh một cách tinh tế và sâu sắc những vấn đề đời sống ở tầm khái quát rộng lớn. Để phát huy tối đa ưu thế thể loại, truyện ngắn chiến tranh đầu thế kỉ XXI thể hiện nhiều góc nhìn hướng vào hiện thực chiến tranh đã qua trong sợi dây kết nối với hiện tại, đặt ra và biện giải những vấn đề mang tính nhân bản. Với tâm thế của người viết đương thời, biên độ hiện thực chiến tranh được mở rộng.

 

  Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ tiếp tục được chọn làm bối cảnh, tình huống cho nhiều truyện ngắn: Bến xưa (Đỗ Văn Nhâm); Đất ngàn năm yên tĩnh (Tô Đức Chiêu); Người sau cùng trở về làng Vọc (Hoàng Phương Nhâm); Chú lùn thứ bảy (Lưu Sơn Minh); Thời gian lặng lẽ(Dương Tử Giang);  Lính cảnh (An Bình Minh); Hồn cát (Nguyễn Hiệp); Tiếng chuông chiều (Lê Hoài Lương); Giấc mơ kí ức (Phan Đức Nam); Những đứa con của mẹ (Thiên Di); Loay xoay thuyền thúng(Lê Nguyên Ngữ); Trấn Yên Bình ngày ấy (Nguyễn Trí); Cơm vắt Điện Biên (Trần Nguyễn Anh); Bụi trúc cuối vườn (Trương Anh Quốc); Những bóng người trên đất (Trịnh Sơn)... Đây là hai cuộc chiến tranh kéo dài trong lịch sử hiện đại Việt Nam nên kí ức, ám ảnh về nó in đậm trong tâm khảm mỗi người và tàn tích mà nó để lại cũng nặng nề dai dẳng, điều đó phản chiếu rõ nét qua các truyện ngắn. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nhiều truyện ngắn viết về cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam của quân tình nguyện Việt Nam ở Lào, Campuchia và biên giới phía Bắc những năm sau 1975 đã làm nới rộng biên độ hiện thực của truyện ngắn chiến tranh: Hành trình của gió (Vũ Văn Song Toàn); Trên núi Tưk-cot (Hồ Kiên Giang); Hoài niệm U Đôm Xay (Lê Mạnh Thường); Vì sao tuổi thơ(Phùng Kim Trọng); Chiếc áo màu hồng ngọc (Trần Văn Đẳng); Tiếng đò (Tạ Ngọc Dũng); Âm thanh của kí ức, Chuyện Nguyên Phong (Doãn Dũng); Tia nắng cuối cùng (Dương Phượng Toại). Sau giải phóng, đất nước ta vẫn phải tiếp tục hơn mười năm nữa cuộc chiến giữ biên giới và biển đảo với bao tổn thất máu xương. Truyện ngắn chiến tranh bằng tiếng nói nghệ thuật đã góp phần đem đến cho độc giả một cái nhìn xác thực hơn về sự thật lịch sử này.

Hiện thực chiến tranh không chỉ là hiện thực khốc liệt của các trận chiến - nơi bộc lộ cái cao cả và cái thấp hèn - mà còn là hiện thực số phận con người trong và sau chiến tranh. Mỗi truyện ngắn là một mảnh kí ức chiến tranh gắn bó sâu nặng với con người hiện tại. Chiến tranh được khắc hoạ không phải theo kiểu “tả trận” nhằm tôn vinh những anh hùng của cộng đồng như trong văn học thời chiến và trước 1986, mà được nghiền ngẫm, chiêm nghiệm một cách sâu sắc và bao dung hơn. Trong hầu hết các truyện ngắn chiến tranh in trên Văn nghệ Quân đội, hiện thực lịch sử được phác hoạ như là khung cảnh tô đậm con người với những khoảnh khắc số phận và ít nhiều chạm đến những vấn đề mang tính phổ quát: quyền con người và tình người, tình đồng loại. Hệ thống nhân vật được xây dựng hướng tới một cái nhìn khách quan, nhân văn hơn về con người ở cả hai chiến tuyến – đây cũng là khuynh hướng chung của các tiểu thuyết sử thi đương đại. Xét cho cùng, con người là xuất phát điểm và cũng là đích đến của mọi giá trị, do đó, văn học Việt Nam đương đại trong đó có mảng văn học chiến tranh đã trở về với đặc trưng cốt tủy của nó: lấy số phận cá nhân con người làm trung tâm.

 

Viết về cuộc chiến tranh của Pháp và Mĩ ở Đông Dương, những tác phẩm văn chương nghiêm túc trên chính hai quốc gia này cũng đề cập đến sai lầm của cuộc chiến và số phận của những người lính. Nhiều người bất đắc dĩ bị đẩy vào tham chiến, họ thấy mình “bị lừa”, thấy “sự khủng khiếp của chiến tranh và sự hoài nghi tột cùng”(2) và phải chịu những chấn thương tinh thần ghê gớm khi bước ra khỏi chiến tranh: Nghệ thuật chiến tranh Pháp (2011) của Alexis Jenni; Thành công riêng của đại úy Peter Rossille (1983) của F.Woodray; Tất cả những thứ chúng ta có (1981) của A.Skelltole; Những cánh đồng bốc cháy (1978) của J.Weeffer; Đếm xác (1973) của W.Hughet... Đã có một thời gian dài trong thế kỉ XX, do hoàn cảnh lịch sử, văn học Việt Nam viết về chiến tranh thường xây dựng hệ thống nhân vật phân tuyến với sự đối lập rạch ròi giữa ta và địch; con người chiến tranh do vậy được nhìn nhận phiến diện, thiếu chiều sâu phức tạp cùng những vẻ đẹp nhân tính mà dân tộc nào cũng có. Truyện ngắn chiến tranh trên Văn nghệ Quân đội những năm gần đây đã bổ sung vào khoảng trống này những hình tượng người lính phía bên kia với một cái nhìn nhân văn, đôn hậu hơn dành cho họ. Đó là John - người lính Mĩ bị ám ảnh bởi cuộc chiến tàn khốc, thấy tự mình đẩy mình vào một cái bẫy khổng lồ không có lối ra, chứng kiến những bất hạnh của lính đồng ngũ và mang theo nỗi đau riêng mình tìm lại chiến trường xưa khi chiến tranh đã đi qua (Chú lùn thứ bảy của Lưu Sơn Minh); là Smith - một lính Mĩ bị đẩy vào cuộc chiến bất đắc dĩ nhưng thân thiện với mọi người, lấy một cô gái Việt và cứu một người cộng sản khỏi nguy hiểm (Xóm sở Mĩ của Thu Trân). Đó là viên lính dù hoàn toàn chán nản với cuộc chiến nên tìm đến cái chết: vứt súng cho đối phương bắn mình khi rơi xuống một làng quê, bị trói vào hòn đá thì vần theo cả hòn đá ấy lăn xuống ao tự vẫn (Trầm tích ao làng của Trương Anh Quốc); là người cựu binh Mĩ, sau chiến tranh đã tìm lại gia đình ông Ba, tặng tấm ảnh chụp ông và muốn dựng lại ngôi nhà gỗ mà mấy đời gia đình ông mới làm xong thì bị chiến tranh tàn phá (Ông Ba Rạch Đùng của Dương Đức Khánh); là Thái - tay giang hồ làm lính biệt động, có những suy tư, trăn trở khi chiến sĩ cộng sản không bắn vì thấy hắn đội mũ cối còn hắn thì theo phản xạ xả súng vào đối phương (Giấc mơ kí ức của Phan Đức Nam)... Được xây dựng từ góc nhìn nhân đạo này, còn có nhiều nhân vật ngụy quân trong Tiếng chuông chiều (Lê Hoài Lương); Trấn Yên Bình ngày ấy (Nguyễn Trí); Loay xoay thuyền thúng (Lê Nguyên Ngữ); Những đứa con của mẹ (Thiên Di); Hoài vọng, Tiếng rao (Văn Xương); Sóng gió Ô Cấp (Trịnh Sơn); Ru giấc ngàn năm (Hữu Phương)... Đằng sau cái sai, cái ác khi đứng vào hàng ngũ địch là những cảnh ngộ riêng và nhiều khi cuộc sống đưa đẩy, dồn ép họ vào vị trí đó để bảo toàn tính mạng và cuộc sống cho bản thân và gia đình. Có người mang danh lính ngụy nhưng cố tránh làm điều ác, nhiều người có sự hướng thiện khi chiến tranh qua đi, hoặc sau khi trải nghiệm thực tế đối diện với người lính cách mạng thì họ có sự thay đổi. Đáng lưu ý là, sự day dứt sau chiến tranh không chỉ có ở những người bên kia chiến tuyến mà ở cả những người đứng trong hàng ngũ cách mạng, như nhân vật hắn trong Tiếng rao (Văn Xương), nhân vật tôi trong Ru giấc ngàn năm (Hữu Phương) và Hồn cát (Nguyễn Hiệp)... Ở góc nhìn này, truyện ngắn chiến tranh cất lên tiếng nói đa thanh. Là con người, không phải ai ở phía kẻ thù cũng hoàn toàn xấu và ai ở trong hàng ngũ của ta cũng hoàn toàn tốt; mặt khác, con người còn có sự thay đổi theo hướng tích cực hoặc tiêu cực do tác động của hoàn cảnh. Cái nhìn này góp phần tạo nên tính đối thoại trong văn học chiến tranh. Ở đây có sự gặp gỡ với hướng đi của nhiều nhà văn Mĩ đương đại khi viết về chiến tranh Việt Nam, với nỗ lực tìm “những bút pháp mới có khả năng diễn tả cái hiện thực đa phương đa tầng của lịch sử và cái tâm cảm cực kì phức tạp của con người trong cuộc chiến ấy”, như Hoàng Ngọc Tuấn nhận xét trong Văn chương về chiến tranh Việt Nam và nhu cầu sáng tạo bút pháp mới.

 

Ở một hướng tiếp cận khác, chiến tranh còn được nhìn từ sự tác động đến số phận con người thời hậu chiến. Chiến tranh như ngọn núi lửa, dù đã tắt nhưng dòng nham thạch vẫn âm ỉ cháy và để lại tàn tích lâu dài. Tiếp tục mạch cảm hứng đã được gợi ra từ sau giải phóng với Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu)..., thân phận con người với những bi kịch thời hậu chiến được khắc họa khá ám ảnh trong truyện ngắn những năm gần đây trên Văn nghệ Quân đội. Trong nhiều truyện, chiến tranh chỉ lướt qua như lời dẫn cuốn sách, còn dấu tích của nó được xoáy sâu qua những số phận con người: Người sau cùng trở về làng Vọc (Hoàng Phương Nhâm); Ai biết mộ liệt sĩ ở đâu (Văn Chinh); Nắng chiều (Thụy Anh);Bến đàn bà (Nguyễn Mạnh Hùng); Ngủ giữa hoa sen (Nguyễn Anh Vũ); Trầm tích ao làng (Trương Anh Quốc); Núi mây và bồ câu xám (Cao Nguyệt Nguyên); Hoàng hôn xa lắc (Hữu Phương); Hoa tầm xuân nở muộn (Chu Thị Thu Hằng); Tiếng đò (Tạ Ngọc Dũng); Trên núi Tưk-cot (Hồ Kiên Giang)... Từ điểm nhìn này, truyện ngắn chiến tranh là tiếng nói lên án những cuộc chiến phi nhân tính - một thứ “nhân hoạ” làm biến dạng số phận biết bao thế hệ người. Chiến tranh vốn là “nỗi buồn” của nhân loại dù nó diễn ra ở bất cứ nơi đâu, bởi thắng hay thua thì bên nào cũng bị tổn hao xương máu và di hoạ của nó vẫn còn tiếp tục về lâu dài. Văn học viết về chiến tranh, do đó, còn là tiếng nói về quyền con người và nhắc nhở sự trân quý trước giá trị của nền hoà bình mà chúng ta đang có.

 

Vài nét về nghệ thuật

 

Trong truyện ngắn Việt Nam đương đại, nhiều nhà văn vẫn hướng đến độc giả truyền thống với lối viết dung dị, sức nặng của truyện nằm ở nội dung biểu đạt hơn là phương thức biểu đạt. Bên cạnh đó cũng có một bộ phận truyện ngắn hướng tới sự cách tân hình thức thể loại. Viết về chiến tranh, truyện ngắn cũng không nằm ngoài những xu hướng này.

 

Với những truyện ngắn kế thừa lối viết truyền thống, tác phẩm thường có nhân vật, sự kiện, hành động rõ ràng. Tất nhiên qua quá trình vận động đổi mới tư duy nghệ thuật thể loại, nhiều truyện có sự đa dạng trong kết cấu, cốt truyện được nới lỏng và tình huống, chi tiết truyện được chú trọng. Truyện ngắn chiến tranh đương đại sử dụng phổ biến kiểu kết cấu theo dòng hồi tưởng, quá khứ chiến tranh được nhìn từ hiện tại, diễn tiến theo thời gian tuyến tính hoặc đan xen quá khứ - hiện tại. Có thể thấy một số lượng lớn truyện ngắn chiến tranh trên Văn nghệ Quân đội được viết theo lối này: Bến xưa (Đỗ Văn Nhâm); Đất ngàn năm yên tĩnh (Tô Đức Chiêu); Người sau cùng trở về làng Vọc (Hoàng Phương Nhâm); Tiếng chuông chiều (Lê Hoài Lương); Những đứa con của mẹ (Thiên Di); Hoài vọng, Tiếng rao (Văn Xương); Hồn cát (Nguyễn Hiệp); Chú lùn thứ bảy (Lưu Sơn Minh);Trầm tích ao làng (Trương Anh Quốc); Chuyến đêm (Phong Điệp); Cơm vắt Điện Biên (Trần Nguyễn Anh)... Trong các truyện, tác giả thường tạo điểm nhấn bằng việc chọn tình huống độc đáo, chi tiết đắt, xây dựng hình tượng nhân vật với số phận đặc biệt, có cá tính và thế giới bên trong phức tạp… tạo dư ba, suy ngẫm sau khi đọc. Độc giả dễ nắm bắt nội dung và thông điệp của truyện. Tuy nhiên, lối viết truyền thống sẽ là thách thức với các tác phẩm có tham vọng vượt thoát khỏi sự đơn điệu, quen thuộc để tạo được ấn tượng nghệ thuật với độc giả đương thời đang ngày càng tỏ ra “khó tính” và kén chọn. Nếu cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội đầu tiên của thế kỉ XXI (2001-2002) còn có nhiều tác phẩm mang hơi hướng lối kể chuyện của cuối thế kỉ trước, thì ở những cuộc thi về sau hầu như mỗi tác phẩm xuất hiện đều tạo được một ấn tượng riêng.

Điểm đáng ghi nhận của truyện ngắn chiến tranh là những nỗ lực cách tân hình thức thể loại khi viết về một đề tài không mới. Có thể kể đến sự đổi mới về kết cấu như cốt truyện mất đi tính liền mạch và kết thúc mở ra nhiều hướng phát triển trong Chú lùn thứ bảy của Lưu Sơn Minh, hay thủ pháp cắt dán, pha trộn thể loại văn học - sân khấu trong Âm thanh của kí ức của Doãn Dũng. Trong một số truyện ngắn, yếu tố kì ảo được hoà trộn với chất liệu chiến tranh đã mang lại những hiệu quả thẩm mĩ đáng kể: Hồn cát (Nguyễn Hiệp); Tiếng chuông chiều (Lê Hoài Lương); Ngủ giữa hoa sen (Nguyễn Anh Vũ)... Dùng yếu tố kì ảo, tâm linh để gửi gắm những thông điệp nhân sinh, những điều kì lạ khó lí giải, truyện ngắn chiến tranh có được vẻ đẹp ám ảnh và gợi nhiều suy ngẫm, góp phần phản ánh hiện thực bí ẩn, đa chiều.

 

Thuộc về lĩnh vực phân tâm học, giấc mơ được các tác giả truyện ngắn sử dụng khá hiệu quả như một thủ pháp thể hiện thế giới nội tâm phong phú, phức tạp của nhân vật với những ám ảnh từ cuộc chiến: Bến đàn bà (Nguyễn Mạnh Hùng); Giấc mơ kí ức (Phan Đức Nam); Hoài vọng (Văn Xương);Bức tranh vẽ dở (Vũ Minh Nguyệt); Tiếng đò (Tạ Ngọc Dũng); Chuyến đêm (Phong Điệp)... Giấc mơ cũng là cầu nối đưa nhân vật trở về với những câu chuyện chiến tranh trong quá khứ, khắc hoạ vết thương tinh thần do chiến tranh để lại. Nhiều tác phẩm có được sự hấp dẫn nhờ tạo ra sự mờ nhoè ranh giới giữa hư và thực cùng không khí liêu trai khi nói về cơn ác mộng chiến tranh.

 

Truyện ngắn chiến tranh đã và đang có sự vận động không ngừng trong đời sống văn chương đương đại, góp phần cùng các thể loại khác làm nên diện mạo văn học chiến tranh Việt Nam. Dù viết theo lối truyền thống hay phi truyền thống, điều cốt tử là mỗi tác phẩm phải chạm tới được cái đẹp đích thực của văn chương và những vấn đề mang tính nhân bản. Tạp chí Văn nghệ Quân đội với các cuộc thi truyện ngắn được tổ chức khá liên tục không chỉ là nơi phát hiện những tài năng văn học mới, mà riêng với đề tài chiến tranh và người lính, còn là nơi hứa hẹn những mùa vàng.

   N.T.P.T

------

(1) Chu Lai. Vài suy nghĩ về phản ánh sự thật trong chiến tranh. Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 4-1987.

(2) Nguyễn Hồng Dũng. Chiến tranh Việt Nam trong văn học Mĩ – từ sự thật đến tác phẩm. http://tapchisonghuong.com.vn

 

nguồn: Văn nghệ quân đội

 

Các bài khác:
· NHỮNG TRANG SỬ CHƯA BAO GIỜ CÓ VÀ KHÔNG BAO GIỜ LẶP LẠI
· THẤP THOÁNG NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THƠ
· MẶT TRỜI KHIẾM THỊ VÀO THƠ
· CHÙM THƠ 3 BÀI VỀ ĐÀ LẠT CỦA NGÔ VĂN TUẤN
· BÁCH MỴ - XÒE TAY GIỮ TỪNG KHOẢNH KHẮC
· NIỀM TIN VÀO MỘT THẾ HỆ VĂN NGHỆ SỸ MỚI CỦA QUÂN ĐỘI
· VŨ CAO - MỘT GÓC NHÌN GẦN
· NGÔI NHÀ TUỔI THƠ THI SĨ NGUYỄN MỸ
· NHỮNG ĐIỀU KHẲNG ĐỊNH BẢN QUYỀN QUYỀN NHÂN THÂN CỦA TÁC GIẢ NGÔ TẤT TỐ ĐÃ BỊ VI PHẠM
· TRANG THƠ NGUYỄN HƯNG HẢI
· LÝ HOÀI THU - BẠN CỦA NHÀ VĂN QUÂN ĐỘI
· MẶT TRỜI ĐÊM CỦA TRỊNH CÔNG LỘC
· CHÙM THƠ NGUYỄN THANH LÂM
· NGUYỄN ĐÌNH TÚ - MÙI BUỒN ĐƯƠNG ĐẠI
· GIẢI MÃ SỨC HÚT CỦA THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT
· TRANG THƠ NGUYỄN THỊ THU NGA
· NGUYỄN DU VÀ NHỮNG MỸ NHÂN TRÊN ĐƯỜNG 10 NĂM GIÓ BỤI (1786-1796)
· CHẲNG CẦN LÀ HẬU HIỆN ĐẠI
· THƠ MAI BÁ ẤN TRÊN BÁO ĐÀ NẴNG CUỐI TUẦN
· MAI BÁ ẤN VÀ CHÙM THƠ DÂNG NHỮNG NGƯỜI THÂN

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_78k0ojo51g6c4phad24k76aue4, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0