DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
LÊ THỊ MÂY VÀ VẾT SẸO THƠ

 

NGÔ MINH

 

Chị đã lao động cật lực, đã chịu đựng biết bao mất mát đau thương của số phận, kể cả sự cô đơn và quyền được làm mẹ, để ghi tên mình vào danh sách những cây bút nữ xuất sắc nhất của làng thơ Việt thế kỷ XX…

 

 

 Nhà thơ Lê Thị Mây

 

 

Nhắc đến nhà thơ Lê Thị Mây tôi cứ nhớ mãi hình ảnh người bạn gái lúc nào cũng cúi xuống máy chữ, lạch cạch cặm cụi sửa đi sửa lại từng câu thơ cho đến khi thành hình. Bạn bè đến chơi, ngồi nghê nga hơi lâu là Mây nhấp nhổm vì tiếc thời gian. Khi nào tôi ghé thăm cũng thấy Mây đang ngồi bên máy chữ. Nhiều đêm trực cơ quan về khuya, đi ngang Liễu Quán, nhìn vào, phòng Lê Thị Mây vẫn sáng đèn, nghĩa là Mây vẫn đang viết. Tôi bái phục khả năng lao động văn chương quyết liệt như thế. Cánh làm thơ đàn ông chúng tôi hứng lên thì ngoáy vài câu vào vỏ bao thuốc lá, còn lại suốt ngày thường rủ nhau ra quán cóc bên sông Hương uống “thuốc rầy” suông (chúng tôi gọi rượu ngày ấy) cho đến khi ngất ngưỡng. Người bạn gái cùng tuổi Kỷ Sửu ấy không bao giờ chịu rời phòng viết. Ấy là những năm 80 của thế kỷ trước, Lê Thị Mây ở Huế, biên tập viên của tạp chí Văn Nghệ Bình Trị Thiên, rồi Sông Hương. Hồi đó Mây ở một phòng trong khuôn viên Văn phòng Hội ở 26-Lê Lợi, Huế, rồi sau chuyển sang nhà sáng tác Liễu Quán. Chị đã có thơ về căn phòng ấy:  Với căn phòng trong quán cà phê/ Tôi chịu đựng nắng trần bê tông tầng thấp/ Tháng mưa Huế bốn bức tường ngấm nước… Tôi quen biết mấy anh em nhà Lê Thị Mây khi từ Sài Gòn về Huế làm ở Sở Thương Nghiệp tỉnh năm 1977, vì tôi hay gửi thơ cho tạp chí của Hội. Gần 20 năm cùng sinh hoạt Hội ở Huế, tôi có rất nhiều kỷ niệm cũng như giai thoại về Lê Thị Mây.

          

Lê Thị Mây tên thật là Phạm Thị Tuyết Bông, là người có hai quê, quê nào cũng rất cật ruột. Sau khi tạp chí Cửa Việt nổi tiếng thời Hoàng Phủ Ngọc Tường - Nguyễn Quang Lập bị “stop”, năm 1993, Hội Văn nghệ Quảng Trị ra Cửa Việt bộ mới, nhà văn Xuân Đức, lúc đó là Giám đốc Sở Văn hóa và Chủ tịch Hội Văn nghệ đã đích thân vào Huế mời Lê Thị Mây ra làm Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Quảng Trị, rồi sau đó lên Tổng biên tập Cửa Việt, vì chị quê gốc là Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị. Còn trong sách “Các nhà văn Việt Nam hiện đại Quảng Bình” lại xếp Lê Thị Mây vào danh sách “nhà văn Quảng Bình”. Điều đó cũng rất đúng vì chị sinh ra ở Bảo Ninh, Đồng Hới. Mảnh đất “dọc bờ sông trắng nắng chang chang” (Hàn Mặc Tử) bên kia sông Nhật Lệ ấy có rất nhiều người nổi tiếng như  nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ, nhà văn Bảo Ninh, nhà thơ Hà Nhật… Lê Thị Mây kể rằng, thời cố nội đi làm ăn từ Cửa Việt ra Đồng Hới rồi lấy vợ người Đồng Hới, rồi định cư luôn ở đây.

 

2. Nói đến Lê Thị Mây là nói đến nỗi buồn. Nỗi buồn đau do chiến tranh và số phận ấy đã thành sẹo trong thơ chị, nó làm nên hình hài và ruột gan thơ chị. Ngồi buồn cầm hết mông lung/ Vết thương năm cũ thủy chung dễ gì. Vết thương ấy là vết thương chiến tranh và đau hơn là những vết thương lòng đã nhiều lần mưng mủ. Năm 17 tuổi, học hết phổ thông, Lê Thị Mây gia nhập Thanh niên xung phong hoạt động ở vùng miền Tây Quảng Bình. Hiện chị còn giữ cuốn nhật ký ghi lại những ngày ở Tróoc, một vùng rừng Trường Sơn rất sôi động như là một chứng tích đời mình. Chị kể: “Vừa rời nách mẹ mới 200 ngày đêm, bọn Mỹ đã bẻ gãy tuổi  17 của tôi bằng trận bom đầu tiên khi chúng ra miền Bắc… Vết bom xuyên sâu vào mặt tôi, làm dị dạng gương mặt sắp đón nhận tuổi 20…”. Tuổi 20 đẹp đẽ của chị cũng đã mang nỗi đau chia ly. Người yêu đầu tiên, một bác sĩ quê ở xứ Quảng đã chia tay chị đi B. Chị kể: “Ba năm sau tôi mới hay tin anh hy sinh ở chiến trường Quảng Trị”. Có lẽ đó là mối tình đầu đau xót của Lê Thị Mây khởi đầu cho bao mối tình ngang trái đi qua đời chị.

 

Ở Thanh niên xung phong, Phạm Thị Tuyết Bông đã làm những bài thơ đầu tiên chép chi chít vào một cuốn sổ nhỏ, nên chị rất muốn có môi trường để tiếp tục sáng tác. Bởi thế năm 1972, khi rời đơn vị TNXP về làm quản lý bếp ăn 600 học sinh ở Trường y tế tỉnh, Bông đã mạnh dạn tìm đến nhà thơ Xuân Hoàng, lúc đó là Hội trưởng Hội Văn nghệ Quảng Bình. Trong hồi ký Âm vang thời chưa xa ( tập II), Xuân Hoàng kể rằng, không biết làm thế nào Bông xin được lá thư viết tay của ông Cổ Kim Thành, là bí thư tỉnh ủy, một người cũng hay làm thơ, gửi cho Xuân Hoàng, giới thiệu: “Đây là cô Bông, rất thích viết văn, cô ấy có nguyện vọng chuyển sang chỗ các anh, anh xét thấy nếu cô ấy có khả năng thực sự thì nhận về giúp đỡ, bồi đưỡng”. Xuân Hoàng hỏi: “Bông yêu văn nghệ, nhưng đã có sáng tác nào chưa ?”. Bông đã chuẩn bị sẵn cuốn sổ thơ trong túi liền lấy ra đưa cho nhà thơ. Xuân Hoàng đọc qua vài ba bài, thấy thơ “thơ thật thà và sơ lược như thơ chung gửi về Hội lúc đó”. Nhưng có lẽ nhà thơ Xuân Hoàng nhận ra những câu chữ thơ của Bông dù “thật thà” cũng đã ánh lên chút hy vọng ở tương lai, liền nói: “Nếu cô biết đánh máy tôi sẽ nhận. Về đây, có không khí sáng tác và nhiều người sáng tác giỏi, cô sẽ có điều kiện học hỏi…”. Bông nhỏ nhẹ nhưng rất tự tin: “Em không biết đánh máy, nhưng học tại chỗ một thời gian thì có thể làm việc được”. Thế là Phạm Thị Tuyết Bông trở thanh nhân viên đánh máy chữ và làm hành chính tạp vụ của Hội Văn nghệ Quảng Bình từ đấy. Một thời gian sau, Hội Văn nghệ Quảng Bình nhận thêm một cô gái làm thơ  nữa là Lâm Thị Mỹ Dạ. Mỹ Dạ trắng trẻo, nhỏ nhắn, từ quê đồng chiêm Lệ Thủy mới lên tỉnh nên rất rụt rè, gặp Phạm Tuyết Bông chững chạc, từng trải hơn liền “một chị Bông hai chị Bông”. Sau này biết Bông cùng tuổi với mình, Lâm Mỹ Dạ đề nghị đổi lại cách xưng hô cho bạn bè, nhưng Bông không chịu. Đến bây giờ Dạ vẫn gọi Bông là “chị”. Năm sau, Bông và Dạ được nhà thơ Xuân Hoàng cho đi học lớp Bồi dưỡng viết văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam ở Quảng Bá, Hà Nội. Đi học về, Phạm Thị Tuyết Bông có bút danh mới là Lê Thị Mây. Theo Xuân Hoàng thì cái tên Mây có liên quan đến hai chữ bông và mây trong câu ca dao của Ngô Văn Phú mà thời đó cô thường hay đọc: “Trên trời mây trắng như bông/ Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây”. Như vậy, với con mắt tinh đời, Hội Văn nghệ Quảng Bình đã phát hiện và vun đắp cho đất nước hai nhà thơ nữ nổi tiếng. Thời đó, nhà thơ Phạm Tiến Duật ở Binh đoàn 559, hay ghé thăm Hội Văn nghệ Quảng Bình, gặp hai nữ thi sĩ, nhà thơ liền “nhại”  hai câu kết trong bài thơ Đèo Ngang của mình thành Nằm ngửa nhớ Bông (Lê Thị Mây), nằm nghiêng nhớ Dạ (Lâm Thị Mỹ Dạ)/ Nôn nao ngồi dậy, nhớ Xuân Hoàng.

 

3. Như bao người con gái bình thường lớn lên, Lê Thị Mây luôn mơ đến một người yêu, một tấm chồng, một gia đình, những đứa con, mơ được làm vợ, làm mẹ… Khát vọng đó cháy bỏng, nhức nhối, kết tủa trong thơ chị. Đó là phút hẹn nhau mà chàng không đến: Nỡ nào bứt cọng cỏ xanh/ Đau em chợt trút cho thành đau cây; đó là Những mùa trăng mong chờ (để khi găp lại rồi lại chia xa: Em tái nhợt niềm vui/ Như trăng mọc ban ngày); đó là cầu nguyện có được một người đàn ông của mình: Em cầu cho buộc được / Số phận em vào anh…; đó là những Giấc mơ thiếu phụ, mơ được làm một người đàn bà bình thường; đó là khát khao Kim chỉ vá may quần áo cho chồng, cho con: Áo sờn mảnh vá người chê/ Bây giờ tôi vá dầm dề gió mưa; ám ảnh đến mức nhìn thấy lá trầu cũng nghĩ đến cưới xin, đến chuyện làm mẹ:  Bao cô gái bây giờ ru tình mẹ/ Mà lá trầu còn xanh với người mua; nhà thơ mơ Đến một ngày : Một ngày kia người đội mâm chú rể / Đầu ngõ hoa  pháo cưới áo cô dâuÁo chồng giặt ai người vo cay đắng… Mâm cơm dọn canh bầu than ủ lửa… Ôm hoa trọn cả tháng ngày khao khát .v.v.

 

Nhưng những câu thơ làm nao lòng người ấy là những vết sẹo của nỗi chờ mong thăm thẳm. Còn đường tình duyên của chị lại quá nhiều trắc trở. Nhà thơ của chúng ta mong chờ mười năm, hai mươi năm, mong chờ qua thời con gái: Vậy là em phải mang theo những câu chuyện tình đã tắt/ Như mang theo tro, như mang theo than… Mong đợi khát khao thế mà vẫn trắng tay. Người miền Trung nói dấu “ô” lẫn dấu “o”, họ thương nhà thơ nên cho rằng bài thơ Những mùa trăng mong chờ như là một định mệnh, vì đó là những mùa trăng “mơ chồng”. Nhà thơ Lê Thị Mây cũng tự bạch lòng mình: Buồn đâu như nón không quai/ Một mình em với đêm dài gió to. (Nón không quai là chiếc nón trong câu ca dao: Chòng chành như nón không quai/ Như thuyền không lái, như ai không chồng).

 

Tôi từng có những kỷ niệm với một mối tình đau đớn của Mây. Dạo đó Mây yêu một chàng thi sĩ. Trong một cuộc rượu chàng say, Mây phải thuê xích lô, khuân chàng lên rồi hai người cùng về. Mây phải bồng chàng lên tường, rồi nhảy vào trong đỡ, tôi và Nguyễn Quang Lập đẩy bên ngoài mới đưa được người say ấy vào được nơi ở. Cái thời ăn bo bo đó, nhiều đêm Mây thức cùng các con chàng bóc lạc nhập cho ngoại thương để có thêm đôi đồng cho những bữa ăn nghèo khó. Tôi cứ đinh ninh mối tình sẽ đơm hoa kết trái. Rồi không hiểu tại sao hai người chia tay nhau mà tôi không hề hay biết. Một lần đi làm về trưa, đạp xe ngang Liễu Quán, tôi thấy phòng Mây mở, rẽ vào gửi bài thơ cho Tạp Chí Sông Hương. Tôi vồn vã hỏi thăm “chàng ”. Bỗng dưng Lê Thị Mây mặt tái nhợt, rồi ngất xỉu té ngã nhào khỏi ghế. Tôi đang lúng túng không biết xử trí ra sao thì may có cô Duyên biên tập viên của Nhà xuất bản Thuận Hóa vào, tôi nhờ cô ấy đỡ Mây rồi chạy đi tìm nữ bác sĩ Thủy quen biết. Bác sĩ đến khám và bảo tôi: “Chị Mây không việc gì đâu. Bị ngất do xúc động. Uống chút thuốc là đỡ. Anh đi mua cho chị ấy một tô phở nóng”.  Đi mua phở nóng mà tôi lại đoảng, chỉ đưa cái ca-mèn mà quên móc cái quai xách vào. Tôi đạp xe ra tiệm phở Nam Sông Hương, mua một tô phở Hà Nội bốc khói. Chiếc cà-mèn nóng bỏng, nhưng vì bạn, tôi một tay cầm cà mèn phở, một tay lái xe đạp, cố đạp thật nhanh. Đạp về tới nơi, bàn tay trái của tôi chín phỏng, đến cả mấy tuần sau mới  lành. Kỷ niệm đó mỗi lần nhớ lại tôi lại cười lặng một mình.

 

Một lần khác, Đại hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên năm 1988. Tôi ngồi dãy ghế sau cùng, bên cạnh là “người ấy” của Mây. Người ta yêu cầu mọi người đứng dậy để làm lễ chào cờ. Thì Mây đi chậm từ ngoài cửa bước vào. Tôi gọi Mây và né sang ghế bên, mời Mây vào ghế giữa tôi và người ấy, với thiện ý là hàn gắn tình cảm đang sứt mẻ giữa hai người. Tôi không ngờ, Mây giang tay giáng một cái tát cực mạnh vào mặt tôi. Tôi nghe má bên trái nóng rân như có lửa. Cái tát vang đến nỗi làm mọi người trong hội trường quay lại, tưởng ai đánh nhau. Nhưng tôi coi như không có chuyện gì xảy ra, cứ đứng nghiêm nhìn lên phía chủ tịch đoàn. Tôi biết vì Mây hiểu lầm là tôi đùa với nỗi đau khổ của Mây, nên tôi không giận. Nhưng sau cái tát ấy mấy tháng, Mây gặp tôi không chào hỏi. Cho đến cuộc Hội thảo về Văn học Bình Trị Thiên, giờ giải lao, Mây mới đến đưa cho tôi cốc nước rồi cười cám ơn. Từ đó quan hệ giữa Lê Thị Mây với tôi mới thân thiết trở lại.

        

4. Lê Thị Mây, khi mới 20 tuổi đã có những câu thơ ám ảnh: “Hãy ngủ yên nỗi buồn/Như con cọp rình mồi tháng chạp/ Ngủ yên trong lau sậy lòng tôi". Cô gái Thanh niên xung phong nhiều năm trên Trường Sơn ấy đến nay đã xuất bản 20 tác phẩm thơ văn; được Giải thưởng Hội Nhà văn VN về tập thơ Riêng tặng một người (1990) và Tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho truyện dài Huyết ngọc (1998). Chị có bài thơ nổi tiếng “Những mùa trăng mong chờ” được chọn vào 100 bài thơ hay nhất thế kỷ. Theo tôi đây là một trong số những bài thơ hay nhất thời chống Mỹ. Có lẽ Lê Thị Mây - Phạm Thị Tuyết Bông là người sinh ra vì thơ, cho thơ. Chị đã lao động cật lực, đã chịu đựng biết bao mất mát đau thương của số phận, kể cả sự cô đơn và quyền được làm mẹ, để ghi tên mình vào danh sách những cây bút nữ xuất sắc nhất của làng thơ Việt thế kỷ XX, như mơ ước của chị từ khi là cô Thanh niên xung phong, cô cấp dưỡng ở Trường y Quảng Bình tuổi hai mươi. Âu đó cũng là một cách tồn tại. Mà tồn tại trong lòng người đọc là mơ ước của hàng triệu người cầm bút bao đời nay…

 

 nguồn: nhavantphcm

 

Các bài khác:
· AI LÀ NHÀ BÁO LIỆT SĨ ĐẦU TIÊN CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM?
· CHÙM THƠ CỦA THANH THẢO
· PRÉKIMALAMAK - CHÂU RO, TA LÀ AI?
· BẰNG VIỆT, NGÒI BÚT TỪ TRÁI TIM
· LÀM QUEN VỚI THƠ TÂN HÌNH THỨC
· NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ NIỀM KHAO KHÁT NHỮNG DÒNG SÔNG
· CHÙM THƠ HUỲNH MINH TÂM
· PHẠM NGỌC THÁI VÀ TIẾNG CHIM ĐÊM
· XUÂN HOÀNG - ĐI BÊN LỀ NHỮNG BÀI THƠ CỦA MÌNH
· "BIÊN BẢN CHIẾN TRANH"-GIẢI MÃ CHIẾN THẮNG MÙA XUÂN 1975
· CHÙM THƠ CỦA LÊ HÒA
· CÁCH LÀM CHỮ CỦA NHÀ THƠ LÊ ĐẠT
· THẾ HỆ THƠ CHỐNG MỸ - THẾ HỆ CHÍN MUỘN
· CHÙM THƠ TRẦN GIA THÁI
· NHỮNG TƯ LIỆU ÍT BIẾT VỀ TÁC GIẢ "X30 PHÁ LƯỚI"
· ĐỖ TRUNG LAI - VĂN CHƯƠNG VÀ TẤC LÒNG
· TRANG THƠ KHALY CHÀM
· TRƯỜNG CA NGUYỄN THỤY KHA – THÔNG ĐIỆP MỘT THỜI
· SÓNG GIÓ Ô CẤP
· GIỚI THIỆU TRANG THƠ LÊ ÂN

 

  
Gia đình Bích Khê