DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
THƠ CÁCH TÂN VÀ THI PHÁP NGHỆ THUẬT MỚI (KỲ 2&3)

                                                                                 Nguyễn Vũ Tiềm

III. ĐI TÌM PHƯƠNG PHÁP NGHỆ THUẬT MỚI & THI PHÁP CÁCH TÂN

 

 

Hệ mỹ học Trung Hoa cổ đại chiếm ngự văn đàn Việt hàng nghìn năm. Dẫu nước ta giành được độc lập từ thời Ngô Quyền năm 939 nhưng hệ mỹ học ấy còn kéo dài sự trì trệ bảo thủ nghìn năm sau cho đến cuối thế kỷ XIX mới được thay thế bằng hệ mỹ học Châu Âu mới mẻ tiến bộ hơn.

 

Năm 1945, nước ta giành độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của người Pháp nhưng thi pháp thơ mới từ thời ấy còn kéo dài mãi cho đến hôm nay khi mà đất nước đã thống nhất, đổi mới và hội nhập toàn cầu. Tất nhiên không đánh đồng thể chế và văn hóa, nghệ thuật, nhưng cái gì đã bị thời đại bỏ xa rồi thì mình cũng nên biết và ứng xử thích hợp.

 

Đây là điều bức xúc của những người làm thơ và yêu thơ. Thời đại mới phải có thi pháp mới chứ không thể xài mãi thi pháp của ông tây bà đầm du nhập vào từ hàng trăm năm trước mà “bản quốc” người ta cũng đã bỏ đi từ lâu! Thử mở các trang thơ hôm nay xem, rất nhiều bài thi pháp bút pháp so với “Thi nhân Việt Nam” 1932-1941 vẫn gần như “chị em sinh đôi”.

 

 Có người nói rằng thơ cách tân là lai căng, thơ truyền thống hiện nay mới là dân tộc. Nhầm quá. Thơ truyền thống hiện nay trừ lục bát và vài ba thể thơ thuần Việt, còn phổ biến từ những nguồn thơ cổ đại Trung Hoa và thơ Pháp từ thế kỷ XVII, XVIII du nhập vào đã được Việt hóa. Thơ cách tân cũng từ ngọn nguồn ấy nhưng đã bay vượt sang một chân trời mới rất khác lạ.

Thơ cách tân khi tiếp cận tới hoàn mỹ thì hài hòa cả hai yếu tố dân tộc và hiện đại. Hai yếu tố này luôn tương hỗ tôn vinh nhau lên. Câu thơ cách tân thời cuối phong trào thơ mới của Nguyễn Xuân Sanh nửa đầu thế kỷ XX:

 

“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”

Và của Miên Di đầu thế kỷ XXI:

“Đẽo lương tâm để vừa với chỗ ngồi”

Câu trên, đĩa quả thờ cúng Tổ Tiên cổ truyền đẹp một cách mênh mang ảo diệu và câu dưới, cái sự “đẽo” rất dân dã, xưa “đẽo cày”, “đẽo guốc”… giờ “đẽo lương tâm”, rất dân tộc và hiện đại. Câu thơ của Miên Di thẳng tay tái nạm mấy ông bà tham nhũng đã bị lộ và chưa bị lộ!

***

Nhìn chung, xài quen cái cũ lâu quá rồi, đổi sang cái mới thường rất khó. Trong lĩnh vực thơ lại càng khó.

Lại nhớ trường hợp ra đời của tập “Lá cỏ” (Leaves of Grass) năm 1855, khi ấy Walt Whitman 37 tuổi, tập thơ có 12 bài và một bài mở đầu, ông tự bỏ tiền túi ra in. Khi tặng bạn bè, ông bị nhiều người chê bai la ó. Có trường hợp gửi tặng sách qua bưu điện, còn bị bưu điện gửi trả: “không đáng gọi là thơ, tặng bạn thế là khinh bạn”.

“Ai đó cho rằng sinh ra trên đời là niềm hạnh phúc?

Tôi nói ngay với họ rằng chết cũng là hạnh phúc.

Tôi chết cùng với người đang chết và sinh ra cùng đứa trẻ sơ sinh…

Tôi ký thác tôi cho bùn đất để tái sinh từ ngọn cỏ tôi yêu

 Bạn muốn gặp lại tôi, hãy tìm tôi dưới đế giày của bạn".

 

          Tập thơ “Lá cỏ” phá vỡ khuôn khổ vần luật của thơ truyền thống Mỹ, nhưng cũng phải 100 năm sau sự phản đối Whitman mới hết. Cuộc cách mạng thơ ca ấy đã cho ra đời thể thơ tự do mới. Walt Whitman luôn có thái độ dứt khoát: “Bất cứ khi nào bạn thấy mình đứng về phía đám đông, đã đến lúc để dừng bước và tự ngẫm lại mình” (Epoch Inspired - Vanvn.net 17-03-2015)

 

Ở Việt Nam, “thơ khó” đã được Xuân Diệu luận giải trên báo “Ngày Nay” số 145, 14-1-1939 và tiếp theo là “Tính cách An Nam trong văn chương” số 146, 28-1-1939, “Mở rộng văn chương” số 148, 4-2-1939, “Thơ Huy Cận” số 151, 4-3-1939, “Công của thi sĩ Tản Đà” số 166, 17-6-1939 (theo tư liệu của Phạm Xuân Nguyên). Ông giới thiệu và bênh vực “thơ khó” chủ yếu của hai nhà thơ pháp Arthur – Rimbaud (1854 – 1891) và Mallarme – Nadar (1842 – 1898): “chúng ta không hiểu, nhưng khi hiểu được câu nào, thì câu ấy lồ lộ một vẻ đẹp nguy nga”.  “Thơ khó” quả là khó thật: khi “thơ khó” xuất hiện ở Việt Nam, chính Xuân Diệu lại là người công kích, ngăn chặn. Ấy là đối với “Thơ điên” của Hàn Mặc Tử, “Tinh huyết” của Bích Khê, “Điêu tàn” của Chế Lan Viên, “Mê hồn ca” của Đinh Hùng, “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ, “Buồn xưa”, “Hồn ngàn mùa”, “Bình tàn thu” của Nguyễn Xuân Sanh, “Giọt sương hoa” của Phạm Văn Hạnh… Những tập thơ này ảnh hưởng chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng Châu Âu, khá lạ lùng với độc giả đương thời. Và lúc này đây “Xuân Diệu quả đã đuối sức trong chuyến đập cánh về chân trời của sự cách tân, làm mới thơ ca”. (Nguyễn Thanh Tâm – Văn nghệ trẻ 26-2-2012). Sau đó, năm 1949, trong cuộc thảo luận ở Việt Bắc về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu cũng phê phán nặng nề, và như vậy ông đã góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn một cuộc cách mạng thơ ca lúc bấy giờ.

 

Trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh cũng chỉ tiếp nhận sự đổi mới và cách tân thơ ở mức độ rất chừng mực. Đối với những trường hợp thật mới mẻ và khó, ông cũng dị ứng (việc tuyển tác giả tác phẩm vào “Thi nhân Việt Nam” thể hiện rõ điều này).

Ấy là hai ngôi sao sáng của bầu trời thơ mới thế kỷ trước còn như vậy huống hồ ngày nay.

Do vậy, chúng ta hoan nghênh sự dũng cảm của các nhà thơ cách tân, dẫu thành quả còn khiêm tốn (và nhiều khi còn bị ăn đòn).

 

***

Cuối TK XX, khi hệ thống lý luận văn học đang thịnh hành và được tôn thờ như vật tổ tối linh bỗng chốc sụp đổ và rơi vào khủng hoảng. Các nhà văn hoang mang ngơ ngác, chợt nhớ ra hình như các cụ nhà mình có những đúc kết về nghề văn hay lắm, bèn phủi bụi lục tìm trong tủ sách của nhà thì gặp lý tưởng Chân – Thiện – Mỹ.  Ôi, bao năm đi theo cái bóng hồng ảo ảnh tận đâu đâu, giờ quay về, nhìn lên chỗ nhiễu điều phủ lấy giá gương thấy ngay điều căn cốt: Chân – Thiện – Mỹ. Lý tưởng Chân – Thiện – Mỹ như bình rượu cổ chưng cất từ tinh hoa văn hiến Việt, có sức sống vượt thời gian, là chất bổ dưỡng tinh thần, chất men nghệ thuật chắp cánh thăng hoa cho các thế hệ văn nhân. Thế rồi họ lại ngó sang các hệ thống lý luận phương Tây, thật lạ lùng, nội hàm Chân – Thiện – Mỹ với nội hàm các lý luận phương Tây tiến bộ có khoảng cách không xa là mấy, lại như thấp thoáng đồng ảnh đồng hiện trong nhau, nếu khéo kết hợp lại thì rất đẹp, cũng tựa như thị trường Việt Nam vừa tham gia vào WTO ấy! Ôi thời đại đổi mới hội nhập mới vui làm sao và họ nhận thấy:

 

 Kết tinh chân thiện mỹ hài hòa tính dân tộchiện đại là phương pháp nghệ thuật mới của thế kỷ XXI.

 

Đây chính là nguồn sáng ấm áp là chỗ dựa tin cậy, nhà văn yên tâm không còn phải chung chiêng như trước, không biết lựa chọn phương pháp nghệ thuật nào cho phải nhẽ.

 

        Riêng lĩnh vực thơ, sự chuyển động rầm rộ của thi đàn Việt Nam ở đầu thế kỷ XXI, ta thấy có nhiều nét tương đồng với đầu thế kỷ XX. Tương đồng ở sự chuyển từ cũ sang mới; từ quen sang lạ, nói gọn hơn: sự lột xác về thi pháp nghệ thuật…

Đầu thế kỷ XX: từ thi pháp thơ cũ, ảnh hưởng từ Trung Hoa cái tôi phải giấu kín sang thi pháp thơ mới, ảnh hưởng từ Châu Âu, cái tôi được mặc sức phô bày.

 

Đầu thế kỷ XXI: từ thi pháp thơ mới nghiêng về cảm xúc và hào sảng sử thi sang thi pháp cách tân nghiêng về nghiệm suy lẽ sống, nhân sinh; không chỉ phản ánh, mà còn phản biện; không chỉ động viên cổ vũ mà còn dự báo tương lai; không chỉ nhận thức mà còn thức tỉnh lương tri con người.

 

 

 

Các bài khác:
· PHƯƠNG NGỮ "NẪU"
· PHAN BÁ TRÌNH VÀ NHỮNG HOÀI NGHI THÂN PHẬN
· NGHĨA LÝ VÀ CỘI NGUỒN 2 CÂU THƠ: “VĂN NHƯ SIÊU QUÁT VÔ TIỀN HÁN/ THI ĐÁO TÙNG TUY THẤT THỊNH ĐƯỜNG”
· THƠ CÁCH TÂN VÀ THI PHÁP NGHỆ THUẬT MỚI (KỲ 1)
· "NHỮNG CON NƯỚC THỞ RA NGHÌN SÔNG RẠCH"
· NGHIÊN CỨU VĂN HÓA DƯỚI GÓC NHÌN CỦA VƯƠNG TRÍ NHÀN
· THANH THẢO - THI SĨ CỦA NHỮNG NGƯỜI CHÂN ĐẤT
· NHẬT CHIÊU VÀ THƠ TƯỢNG QUẺ
· "HỌ VẪN CHƯA VỀ" - MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT LẠ
· NGÀY VUI ĐẾN MUỘN
· ĐỌC - DIỄN THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT
· CHÙM THƠ CỦA LÊ ÂN
· THANH GIANG - NHỚ NGÀY TIẾN VỀ SÀI GÒN
· THI PHÁP "SO ĐŨA NGẮT DÒNG" TRONG LỤC BÁT ĐỒNG DAO
· CHÙM THƠ CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU, VƯƠNG CƯỜNG, LÊ CHÍ
· 5 BÀI THƠ CHỮ HÁN CỦA CAO BÁ QUÁT
· NGẬM NGÙI: TRÁI SẦU TRĨU NẶNG
· NGUYỄN CÔNG TRỨ - THÔNG REO NGÀN HỐNG
· CHU LAI - TIẾP TỤC SÒNG PHẲNG VỚI DĨ VÃNG
· CHÙM THƠ NGUYỄN QUANG HƯNG

 

  
Gia đình Bích Khê