DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TÍNH CHẤT TỰ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

                                                                      TRẦN HUYỀN SÂM


Lối viết (l’Écriture), nói như Roland Barthes là sự biểu hiện thái độ của chủ thể đối với xã hội. Lối viết ngưng kết tinh thần của chủ thể đối với thế giới mà nó hiện tồn. Sự bùng phát của sáng tác nữ Việt Nam tính từ sau 1986, gắn với ý thức giải phóng cái tôi cá nhân. Đó chính là sự phản ứng vừa âm thầm, vừa quyết liệt của các nhà văn nữ đối với một xã hội vốn hằn sâu tư tưởng nam quyền.  
Không thể chối cãi rằng, sự cách tân táo bạo nói trên của các nhà văn nữ Việt Nam có sự ảnh hưởng tinh thần nữ quyền luận ở phương Tây. Bởi vậy, bài viết này, tôi dành một dung lượng đáng kể đề cập đến phê bình nữ quyền hậu cấu trúc ở Pháp, trên cơ sở đó làm sáng tỏ tính chất tự thuật trong tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại.
 
1. Phê bình nữ quyền hậu cấu trúc ở Pháp
Phê bình nữ quyền là sản phẩm của lí thuyết nữ quyền - một học thuyết có nền tảng từ phương diện văn hóa, xã hội. Đó là khuynh hướng phê bình nhằm gắn vấn đề nữ quyền với nhân quyền. Lí thuyết của phê bình nữ quyền có mối hệ lụy sâu sắc với trần thuật học nữ quyền, phân tâm học nữ quyền và thuyết hiện sinh.
Phê bình nữ quyền hậu cấu trúc ở Pháp đánh dấu từ thập niên 70 thế kỉ XX. Đây là thời kì vừa tiếp nối tinh thần nữ quyền của Simone de Beauvoir, vừa đối thoại với các nhà triết học, phân tâm học. Có thể kể đến Luce Irigaray với Speculum. De l’autre femme, 1974, Hélène Cixous với Le Rire de la Méduse (Tiếng cười của nàng Méduse, 1975), Julia Kristeva với  Féminité et Écriture (Tính nữ và lối viết, 1977), Béatrice Didier với L’écriture - femme (Lối viết nữ giới, 1981)... Dù phương pháp phê bình có thể khác nhau, nhưng họ đều gặp gỡ ở quan điểm: phê phán phân tâm học và khẳng định tinh thần nữ quyền. 
Phê bình nữ quyền hướng đến giải cấu trúc những quan điểm cực đoan của triết học phân tâm. Bởi vậy, người ta còn gọi khuynh hướng này là phân tâm học nữ quyền. Các nhà phê bình phê phán tư tưởng cực đoan của triết học nam quyền, giải cấu trúc những luận thuyết áp đặt, nhất là S. Freud với quan điểm mặc cảm hoạn (complexe de castration). Họ cho rằng, Freud đứng trên quan điểm dục tính nam quyền, tức là chủ nghĩa tôn sùng dương vật để kết luận về hiện tượng mặc cảm hoạn ở nữ giới. Rằng, so với dương vật/đàn ông, thì âm vật/nữ giới là một sự khiếm khuyết của tạo hóa. Sự giải thích này không thể không gợi nhắc về huyền thoại đàn bà - kẻ thứ yếu, kẻ phụ thuộc trong Cựu ước. Đó là lí do trong sáng tạo, nữ giới luôn bị thống ngự bởi một hệ thống ngôn từ lấy dương vật làm biểu tượng.
Các nhà phê bình nữ quyền cho rằng, cần tháo dỡ hệ hình diễn ngôn nam giới, nơi mà các nhà triết học đã thiết lập một hình thái vững chắc, dựa trên mối quan hệ chính/phụ, hay còn gọi là masculin/sujet - féminin/objet (đàn ông/chủ thể - đàn bà/khách thể). Chính hệ hình lấy đàn ông làm trung tâm diễn ngôn này đã chi phối toàn bộ tư tưởng của triết học phương Tây và các lĩnh vực khác nói chung. Vì vậy, cần giải cấu trúc những huyền thoại ám thị này về nữ giới, nhằm hướng đến xác lập một vị thế riêng của họ.
Dựa trên lí thuyết nữ quyền, các nhà phê bình hậu cấu trúc xác lập một lối viết nữ giới đặc trưng bên cạnh lối viết nam giới. Bằng sự khu biệt giới, họ đi đến khẳng định: 1/ phụ nữ có một bản sắc riêng, ngôn ngữ riêng tồn tại song hành với bản sắc nam giới, 2/ nhân vị đàn bà với bản năng sinh sản, làm mẹ đã quy chiếu tính nữ - đa bội ở phụ nữ so với đàn ông, và 3/ cần tiến tới thiết lập một hệ hình diễn ngôn nữ giới để phát huy bản sắc nữ tính đa bội vừa nêu.
Các nhà phê bình nữ quyền hậu cấu trúc xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng có chung một nguyên tắc mĩ học. Nhìn từ phương diện lí thuyết, có thể thấy một số luận điểm nổi bật sau.
Thứ nhất, về mặt đặc tính giới trong văn học. Theo các nhà phê bình nữ quyền, tất cả những gì gọi là tính nữ không phải là một sản phẩm sinh học cố định. Tính nữ, hay đặc điểm giới này là một sản phẩm vừa mang tính tự nhiên vừa là sự tác động của môi trường văn hóa, xã hội. Đánh giá các phương diện làm nên tính nữ, không nên tách rời hai nhân tố vừa nêu.
Thứ hai, về mặt diễn ngôn văn học. Khuynh hướng phê bình nữ quyền luôn xác định nhiệm vụ phải tháo dỡ hệ diễn ngôn/văn hóa nam quyền - một nhân tố trung tâm thống ngự trong văn bản - ra khỏi lĩnh vực sáng tạo của nữ giới. Sự áp chế của nam giới bao giờ cũng kéo theo loại diễn ngôn uy quyền. Họ thường đẩy mọi diễn ngôn của nữ giới ra ngoại biên, bên lề. Phê bình nữ quyền hướng đến giải thiêng những huyền thoại lừa mị về nữ giới. Lấy tính nữ làm trung tâm, họ thay đổi hệ thống diễn ngôn nam quyền thành diễn ngôn nữ quyền - nhân tố trung tâm thống ngự văn bản.
 Thứ ba, về tiêu chí thẩm mĩ của văn học nữ. Bên cạnh những vấn đề vừa nêu trên, các nhà phê bình nữ quyền đã xác lập một khung mĩ học riêng nhằm vận dụng nghiên cứu, thẩm định các hiện tượng văn học nữ. Nếu trước đó, phê bình thường áp đặt những mô hình định sẵn của nam giới, thì giờ đây, phụ nữ đã có một khung mĩ học riêng để thẩm định văn học.

dep 10813 d23ff

 

2. Đặc tính tự thuật qua một số tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại
Tự thuật không phải là đặc tính riêng của nữ giới, nhưng đây là nét ưu trội nhất làm nên bản mặt của văn phong nữ giới. Tự thuật vừa là phương tiện vừa là đối tượng phân tích trong sáng tác nữ giới. Đó là phương thức để nữ giới thể hiện sự nếm trải giới tính, đồng thời là mục đích để giải phóng những kìm hãm của bản thân.
Trước hết, tự thuật là một đặc trưng của văn học. Sáng tác bao giờ cũng là một nhu cầu nội tại hóa bản thân chủ thể. Anh ta có nhu cầu để giải phóng những ẩn ức và hướng đến sự chia sẻ thế giới nội tâm cùng độc giả. Tự thuật trở thành một kênh giao tiếp giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận. Đặc tính tự thuật biểu hiện rõ nhất ở dạng tiểu thuyết dòng ý thức và thể loại tự truyện trong sáng tác nói chung.
Tuy nhiên, xét từ cấp độ vi mô (nội cấu trúc văn bản) đến vĩ mô (số lượng tác phẩm), tự thuật trở thành một nét ưu trội của sáng tác nữ giới. Tự thuật thống trị trong tác phẩm nữ giới từ hệ diễn ngôn đến đặc điểm kiến tạo văn bản. Xét về phương diện vĩ mô, tự thuật ở nữ giới vẫn chiếm tỉ lệ áp đảo nam giới. Có thể kể đến một số tác giả nữ tiêu biểu như Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau), Phạm Thị Hoài (Thiên sứ), Thuận (Chinatown), Y Ban (Trò chơi hủy diệt cảm xúc), Thùy Dương (Chân trần), Phong Điệp (Blogger)...
Về đề tài, các nhà văn nữ thường tự thuật những chủ đề gắn với cuộc sống của nữ giới. Thế giới mà họ miêu tả chủ yếu xoay quanh cấu trúc của một gia đình gắn với vấn đề thường nhật như tình yêu, hôn nhân. Trong lúc đó, nam giới thường hướng ra thế giới khách quan với các chủ đề như chiến tranh, tôn giáo, lịch sử. Các tác phẩm của Đoàn Minh Phượng, Thuận, Lý Lan, Y Ban, Dạ Ngân, Hà Khánh Linh, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Bích Thúy, Thùy Dương... cũng đề cập đến chủ đề chiến tranh, lịch sử, nhưng trung tâm phân tích vẫn là thế giới đàn bà.
Về nhân vật, hình tượng nữ giới đóng vị trí trung tâm và chi phối toàn bộ hệ thống thế giới nghệ thuật sáng tác nữ. Lấy nhân vật nữ làm điểm tựa, toàn bộ thế giới nghệ thuật của văn bản đều xoay quanh trục chính này. Nhân vật nữ là trung tâm phân tích của văn bản. Đó là khởi nguyên của phát ngôn và là nơi diễn trình mọi vấn đề đặt ra của tác giả. Nếu làm một cuộc khảo sát, chúng ta thấy rõ sự xuất hiện dày đặc của các nhân vật nữ trong sáng tác nữ so với sáng tác của nam giới. 
Về phương diện trần thuật, sáng tác nữ chủ yếu trần thuật ở ngôi thứ nhất, gắn với tiêu cự hóa nội tại. Người kể chuyện phần lớn là cái tôi tự thuật và thường trùng khít với nhân vật trung tâm nữ giới. Đặc điểm này đã xóa nhòa đường biên khoảng cách nhân vật nữ và người kể chuyện. Người trần thuật đóng vai trò trung tâm kể về câu chuyện của chính mình. Câu chuyện được kể chính là câu chuyện về tôi, về cuộc đời của nhân vật nữ. Chọn phương thức trần thuật chủ quan gắn với hệ thống điểm nhìn bên trong, tự thuật trở thành một nét ưu trội trong tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại.
Lấy bản thân làm đối tượng tự miêu tả, một thế giới âm u, thầm kín về giới nữ được lộ ra, qua phương thức tự thuật. Qua khảo sát một số tác phẩm văn xuôi nữ, tôi rút ra các đặc tính tự thuật của giới nữ trên các phương diện sau: tự thuật về những điều thầm kín ở tuổi dậy thì, về bản năng sinh nở của đàn bà, về khoái cảm tính dục nữ, về niềm say mê và nỗi bất an trước cuộc sống (say mê lí tưởng và tham vọng về một tiền đồ như nam giới, bất an khi tìm cách phá bỏ sự lệ thuộc, nhưng không thoát khỏi sự hệ lụy)... Những điều vừa nêu, chúng ta thấy không nổi trội ở sáng tác nam giới.
Rõ ràng, thông qua tự thuật, tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại đã góp phần tháo dỡ hệ thống diễn ngôn nam giới ra khỏi văn bản trần thuật nữ giới. Đây là một trong những phương diện quan trọng khởi đầu cho tinh thần nữ quyền ở lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật. 
 
3. Tinh thần nữ quyền qua phương thức tự thuật 
 Tự thuật là một phương thức đối thoại giới tính. Đó là một hình thức vừa phơi bày thế giới nội tâm, những cảm nhận về kinh nghiệm nếm trải giới tính nữ, đồng thời vừa mang tính chất đối thoại với nam giới trên các phương diện của cuộc sống.
Giải minh bản thân để đòi hỏi đối tượng chú ý đến sự hiện diện của chính mình, đó cũng là một trong những nội dung quan trọng của tinh thần nữ quyền. Ở trên, tôi đã chứng minh rằng, phần lớn phụ nữ khi sáng tác chủ yếu nói về mình. Đó là những trải nghiệm thầm kín của giới tính nữ qua ngôn ngữ thân thể. Thế giới đàn bà này nhà văn nam giới ít chạm đến, vì thiếu sự thông hiểu, nếm trải. Nhà văn nữ viết với tư cách vừa là chứng nhân, vừa là trải nghiệm, nên sự việc được phơi bày từ điểm nhìn bên trong. Những trang viết về tuổi dậy thì, kinh nguyệt, trinh tiết, tình dục, mang thai, nạo thai, đau đẻ của Phạm Thị Hoài trong Thiên sứ, của Đoàn Lê trong Tiền Định, của Thuận trong Paris 11 tháng 8, của Lý Lan trong Tiểu thuyết đàn bà, của Dạ Ngân trong Gia đình bé mọn, của Phong Điệp trong Blogger... thiết nghĩ, cũng có thể xem là những bản trần tình và tuyên ngôn của nữ giới. Đây là kênh đối thoại quan trọng để thông qua đó, đòi hỏi đối tượng tiếp nhận nói chung, nam giới nói riêng phải thông hiểu và thừa nhận sự hiện diện của chủ thể nữ tính.
Đặc biệt, đó là những đối thoại với nam giới về phạm trù trinh tiết và phẩm tiết. Với phụ nữ, trinh tiết là phạm trù để đánh giá đạo đức, phẩm hạnh của một người đàn bà, nhất là đối với các nước phương Đông. Còn đàn ông, chưa có bất kì một chế độ hoặc một chủng tộc nào quy vấn đề trinh tiết vào phạm trù phẩm tiết. Đây là căn nguyên khiến cho các nhà văn nữ thường chú tâm vào lĩnh vực này. Thông qua diễn ngôn phái tính, các nhà văn nữ đã góp phần chống lại quan điểm đánh đồng trinh tiết và phẩm tiết của chế độ nam quyền.
Rõ ràng, tự thuật là một hình thức quan trọng để thể hiện đặc tính giới, đồng thời là phương tiện quan trọng để thể hiện tinh thần nữ quyền. Sáng tác của nữ giới càng về sau càng được phân hóa đa dạng. Không phải tiểu thuyết nào của nữ giới cũng mang đặc tính tự thuật và không chỉ tự thuật mới làm nên tinh thần nữ quyền trong văn học. Tuy nhiên, qua khảo sát một số tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại, có thể nói tự thuật là một đặc trưng nổi trội của sáng tác nữ giới khi đặt bên cạnh sáng tác nam giới. 
Tự thuật, nhất là phương thức trần thuật bởi cái tôi xưng danh, lộ diện, là một sự thay đổi táo bạo trong kĩ thuật tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại. Sáng tạo nghệ thuật của nữ giới, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết, đã góp phần khơi dậy tinh thần nữ quyền ở bạn đọc. Thông qua việc giải minh bản thân, bạn đọc nhận ra những đặc trội của nữ giới trên nhiều phương diện. Từ đó, họ khẳng định vị thế nữ giới và góp phần giải thiêng những huyền thoại lừa mị về phụ nữ trong các triết thuyết của chế độ nam quyền
Huế, 1/2015
T.H.S 

NGUỒN: TAPCHIVANNGHEQUANDOIONLINE


 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ CỦA TRẦN NGỌC MỸ
· NGUYỄN THÁI DƯƠNG TRỞ LẠI VỚI THƠ THIẾU NHI
· SANG LÂM TỲ NI, NƠI SINH ĐỨC PHẬT
· KHÁNH LY - ĐẰNG SAU NHỮNG NỤ CƯỜI - KÌ 4
· CHÙM THƠ CỦA HỮU VI
· CHÙM THƠ NHIỀU TÁC GIẢ
· MỘT THOÁNG TRẦN NHUẬN MINH
· KHÁNH LY - ĐẰNG SAU NHỮNG NỤ CƯỜI - KÌ 3
· THI SĨ CỦA ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM
· KHÁNH LY - ĐẰNG SAU NHỮNG NỤ CƯỜI - KÌ 2
· VỀ GIÀ TRỞ LẠI TUỔI THƠ
· ĐIỀU GÌ XẢY RA, AI BIẾT...
· SINH THÁI - ĐÔ THỊ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
· KHÁNH LY - ĐẰNG SAU NHỮNG NỤ CƯỜI - KÌ 1
· THÁNG 5 - NHỚ CUỒNG ĐỘN PHẠM PHÚ HẢI
· LƯU QUANG VŨ - MÙA THU CAO MÂY TRẮNG XÓA MÊNH MÔNG
· THƠ - CÓ CỚ VÀ VÔ CỚ
· TRANG THƠ BÙI KIM ANH
· PHÙNG QUÁN VÀ MỐI TÌNH SÂU THẲM
· VIỆT NAM XƯA ĐẸP VÀ LẠ TRONG TRANH HỌA SĨ PHÁP

 

  
Gia đình Bích Khê