DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
YẾU TỐ SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI

                                                NGUYỄN THANH TÂM

Chủ nghĩa siêu thực được chính thức khai sinh năm 1924 với Bản tuyên ngôn thứ nhất của chủ nghĩa siêu thực do A. Breton khởi thảo (nhưng thuật ngữ chủ nghĩa siêu thực – Surréalisme - được Guillaume Apollinaire sử dụng từ 1917). Chủ nghĩa siêu thực dựa trên nền tảng triết học trực giác của H. Bergson, thuyết phân tâm học của S. Freud và không thể không nói đến ảnh hưởng của thuyết tương đối (1905, 1915) của A. Einstein. Khi Bergson đề cao cảm giác, cảm xúc, đã mở ra một con đường đến với thế giới thông qua sự cảm nhận trực tiếp, bất chợt, đứng ngoài các phán đoán, suy lí. 

Từ việc nhìn nhận lại nền tảng tinh thần, nguyên lí mĩ học của chủ nghĩa siêu thực, soi chiếu trong đời sống thơ Việt Nam đương đại, có thể nhận ra sự tồn tại của những yếu tố siêu thực. Sự xuất hiện của yếu tố siêu thực trong thơ Việt Nam đương đại về mặt lịch sử là một sự tái hiện, trở lại truyền thống đã được kiến tạo từ Thơ mới. Kì thực, phải sau năm 1990 chúng ta mới nhận diện rõ hơn những động thái (công khai) của siêu thực trong đời sống thi ca nước nhà (một số sáng tác của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Dương Tường, Đặng Đình Hưng... từ những năm 60, 70, 80 của thế kỉ XX có thể xem là dòng chảy ngầm và cũng mãi đến sau 1975, sau 1986 mới được công bố. Thơ Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng ở miền Nam do điều kiện lịch sử lúc đó cũng không được thừa nhận như là một phần của thơ Việt).

Về tổng quan, những sáng tác mang nhiều yếu tố siêu thực có thể nhận thấy trong thơ Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, Mai Văn Phấn... Cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, yếu tố siêu thực xuất hiện ngày càng đậm đặc trong thi quyển Việt Nam với các tên tuổi như: Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nhụy Nguyên, Đỗ Doãn Phương, Lãng Thanh, Nguyễn Lãm Thắng... Từ góc độ tư duy thơ, có thể thấy, những hoạt lực tinh thần kiến tạo thế giới nghệ thuật của các tác giả này có cơ sở xuất phát từ những phản ứng với thực tại, nghệ thuật, lí trí đang hiện diện phổ biến trong đời sống nhưng đã mất dần sức thuyết phục, hấp dẫn. Trong thơ của họ, những hình ảnh, những cấu trúc ngẫu nhiên, những kết hợp bất ngờ, những hương vị xa lạ... bỗng xuất hiện như là sự tuyên cáo về tính hợp thức của một trật tự mới. Trật tự ấy bao gồm hiện thực trực cảm, phi lí, những ảnh tượng của giấc mơ, huyền bí, lạ lẫm với kinh nghiệm thông thường.

Chủ trương của các nhà siêu thực là thơ khước từ sự chú giải, phân tích. Trực giác được phát huy trong kiến tạo thi giới đồng thời còn tiếp tục đặt ra yêu cầu đối với việc cảm nhận. Sự trống rỗng của tinh thần như một cơ thể thiếu đói cần phải nạp ngay năng lượng. Cơn thèm, sự thể nghiệm ấy cũng là một cách thức để phản ứng lại những trật tự khô cứng, mòn mỏi hay đang/đã chết trong nỗi trì trệ của tồn tại:
Anh cảm thấy bất lực. Không phải thiếu thèm. Ngược lại, thèm cứ chồm. Mênh mông, không điều khiển được. Chợt – thu gọn lại – một thèm bé – bé da diết, một mùi hương tóc. Tóc cả thảy bảy loại: ngắn – dài vai – tóc óng chanh bồ kết – tóc mồ hôi nức nở (vuốt cho em) - tóc đêm nhòe dưới vòm đèn. Hương trời tóc - thở tóc - jật mình! Hương người. Nhưng, tìm tóc fải con sông quên. Anh đi quên. Thế là vào cơn thể ngiệm.
(Ô Mai – Đặng Đình Hưng, 1993)

“Cơn thể ngiệm” (cách viết của Đặng Đình Hưng) là hành trình kiếm tìm những hướng giải thoát cho sự bế tắc, tù đọng và nhợt nhạt của người, của đời sống. Thèm, nghĩa là khao khát được thể nghiệm, được sống sau nhiều sự đè nén, vây bủa, sau rất nhiều bi kịch. Thèm tất cả, không gian, thời gian, tiếng động, thèm nếm cả một cái chợ, thèm ăn, nghe, nhìn, ngắm, “thèm cái không quen”... Cái thèm đến từ nỗi bí bách của cuộc sống “trong hầm và bùn”, “đời vỡ từ lâu – tay trắng – nợ đầm đìa” và trong những lần ra đi ấy, con người dưới hầm đi tìm tình yêu.
 
hinh anh dep ngay 20 10 5 (1)


Sự giải thoát bằng những thể nghiệm cũng là hướng đến tự do, hướng đến con người bản thể trong những khát vọng được sống thực hữu. Tính tượng trưng của thể nghiệm/hậu nghiệm chính là những ảnh tượng mới, hương vị mới, nguồn sống mới cho con người. Đó là sứ mệnh cũng là bản mệnh thi sĩ cần phải dấn thân nếu muốn trở thành một cái khác mang giá trị. Từ sau Thơ mới (với các đại diện như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Đinh Hùng, các thi sĩ của nhóm Xuân Thu nhã tập, Dạ đài), sau giai đoạn 1945 – 1974 (cũng thấy những yếu tố này xuất hiện trong thơ Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đức Sơn...), thơ Việt sau 1975 lại trở về với những phức cảm của cái tôi bản thể. Cái tôi nhìn đời sống, sự sống trong tính toàn vẹn của nó, trong những nhu cầu thiết yếu, phổ quát của nhân loại. Sống nghĩa là được tự do, mà trước hết là tự do sở hữu chính bản thân mình. Paul Ricoeur đã nhận định rất chính xác rằng: “Chính khả năng tự chỉ định mình đúng là người sở hữu cơ thể mình đã tạo nên bản sắc chủ thể”#(1). Bản sắc chủ thể được kiến tạo là khi tất cả các phương diện thuộc về anh ta, những tương quan với cộng đồng, lịch sử, văn hóa, thời đại... được triển hiện. Điều đó cho phép những dữ kiện của vô thức, tiềm thức, giấc mơ, ham muốn, sự tưởng tượng, phi lí, ngẫu nhiên, nghịch luận... vận hành. Thơ Việt Nam sau 1975 có sự trở lại mạnh mẽ của những yếu tố siêu thực chính là một thái độ, một phương cách để chứng minh sự hiện hữu của chủ thể:
Hỡi mặt trời/ Ta không sao chịu nổi/ Lại một con sóng buồn vừa chết trước ta/ Và đâu đó từ những chân trời nước/ Từ những bãi tha ma biển/ Từ những con đường mòn của bầy cá lạ/ Vọng về bài ca hoàng hôn nước/ Và lúc này hơn mọi lúc nào/ Lúc mặt trời úp mặt vào biển/ Ta vẫn bước đi, bước đi/ Cát vẫn chảy mải miết qua cổ họng ta/ Bầu trời mặt biển trên đầu ta cao mãi/ Ta lẫn vào những đàn cá lưu lạc/ Vừa bơi vừa ngân lên khúc hát gọi bầy/ Cho đến khi ta nằm xuống như một đứa trẻ/ Trong mộng mị xa xăm giấc ngủ chiều/ Ta thức giấc khi mặt trời chạm vào mặt biển/ Và ngoi lên mặt nước/ Vây tóc ta bạc trắng/ Ta cất tiếng gọi bến bờ của ta bằng tiếng cá/ Trong hoàng hôn nước màu huyết dụ/ Có một bài ca lưu lạc tìm về.
(Xô-nát hoàng hôn biển – Nguyễn Quang Thiều)

Nguyễn Quang Thiều hát bài hát lưu lạc trở về trong cơn mộng mị xa xăm của giấc ngủ chiều, trong nỗi mơ hồ thấy mình là cá cất tiếng gọi bến bờ cũng là những tượng trưng. Trong thi giới của Nguyễn Quang Thiều, nước trở thành một biểu tượng, một “cổ mẫu” đã hằn sâu trong kí ức của những người sinh ra nơi lưu vực các dòng sông. Sự trở về trong giấc mơ hay huyễn tưởng này nhắc nhở con người về khởi nguyên của sự sống, cũng là nơi con người bắt đầu sự lưu lạc. Lưu lạc đến nỗi quên mất nguồn cội, thậm chí “tha hóa” thành những cái xa lạ với khởi nguyên. Nguyễn Quang Thiều có nhiều giấc mơ. Những giấc mơ khổ ải hơn là huyền nhiệm bởi ám ảnh không nguôi về sự sống, sự tha hóa, đổ vỡ của những giá trị. Chất chứa trong thi giới Nguyễn Quang Thiều là khát vọng nhân văn, về lẽ sống, tương lai của con người, của dân tộc trong nỗi hoang mang của sự đổ vỡ và tiêu vong.

Thơ Việt Nam sau 1975 ghi nhận những thực hành nghệ thuật trong nỗ lực biểu đạt sự tự do của tư tưởng và sáng tạo. Yếu tố siêu thực đến từ những quan niệm, thái độ và phản ứng của chủ thể sáng tạo như đã nói, và dĩ nhiên, nó đòi hỏi một hình thức tương ứng, đặc thù trong việc biểu đạt. Hình thức nghệ thuật này có thể chứa đựng những mâu thuẫn đối với nhận thức và lí trí thông thường. Trong những ví dụ được dẫn ra minh chứng cho sự hiện diện của yếu tố siêu thực trong thơ Việt Nam sau 1975 từ phương diện hình tượng, cảm xúc, cũng có thể nhận thấy hình thức nghệ thuật của các tác phẩm đã mang tính siêu thực khá rõ nét, ví như bài thơ sau của Hoàng Cầm:
Mưa đi về anh mưa đi lưu li
Kinh Bắc hồng môi gái xưa kinh kì
Kinh Bắc lên men đằm hương
                                Vương phi
Giọt mưa phương nam bao giờ
                                mưa đi

(Giọt mưa phương nam – Hoàng Cầm, 1991)

Những hình tượng xa nhau, ngỡ như khó kết hợp, trong trật tự kiến tạo của Hoàng Cầm bỗng bừng dậy những sắc vị mới lạ, vừa xa xôi, vừa liêu trai. Cảm thức về một miền huyền tích, với những dáng hình “gái xưa kinh kì”, “đằm hương Vương phi” trong giấc mơ Kinh Bắc khiến cho không gian thơ đượm khí vị siêu thực. Không hẳn là sự ngẫu nhiên, bởi có lẽ đó là miền mộng tưởng, say men của một linh hồn gắn bó sâu thẳm với xứ sở. Cứ tự nhiên về trong miên man, trong hoen mờ dĩ vãng, trong mộng mơ xa xôi và thương nhớ, hình tượng thơ vương vít vào nhau dâng lên như những hoài niệm. Những hoài niệm rất xa, rất xưa, phảng phất nét đài các chỉ có thể chạm đến trong trực cảm.

Yếu tố siêu thực ngày càng rõ nét hơn trong sáng tác của các thi sĩ quãng sau những năm 90 (thế kỉ XX). Điểm nổi trội chính là văn bản thơ được tạo nên bởi những “lựa chọn” và “kết hợp” (R. Jakobson) rất xa lạ. Trong nhiều sáng tác của Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Thanh Thảo, Trương Đăng Dung, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh, Lãng Thanh, Nhụy Nguyên, Nguyễn Lãm Thắng, một ít ở Nguyễn Phan Quế Mai, Nguyễn Bảo Chân, Đinh Thị Như Thúy, Đỗ Doãn Phương... có thể nhận thấy một lối liên tưởng, tưởng tượng, sáng tạo thi ảnh, kết hợp ngôn từ hết sức xa lạ. Điều đó diễn tả những xúc cảm, trực nhận của con người đương đại trong sự thúc ép gay gắt của cuộc sống, ý thức, vô thức và tiềm thức. Những giấc mơ, ảo ảnh, những liên hệ ngầm ẩn mang ý nghĩa nhân sinh, thẩm mĩ hiện về trong cấu trúc ngôn từ có vẻ rời rạc, phi logic, đầy bất ổn:
Bầy em én/ tin xuân/ tròn mẩy áo/ Hội kênh đầy/ chân trắng ngấn sông quê/ Nắng mười tám/ má bờ đê con gái/ Cây ải cây ai/ gió sải tóc buông thề (Sông quê – Lê Đạt)

Những ngẫu nhiên trong liên tưởng từ khả năng của âm, nghĩa, tiền giả định, cho phép Lê Đạt tổ hợp được những cấu trúc có vẻ như nhịu, lạ nhưng đầy gợi cảm, đem đến năng lượng thi ca mới cho ngôn từ. Cũng từ chiều “năng biểu” của ngôn ngữ, các huynh đệ của thơ “dòng chữ” đã có những sáng tạo đậm phong vị siêu thực:
Kỉ niệm/ rớm xanh/ lối em đi/ em đi/ còn/ balcon rớm nắng/ rớm ánh nhìn/ mi cửa sổ/ rớm/ bóng em để lại/ em đi/ ngực nhụy/ rớm hương/ buồn tiền sử/ và em lại đi/ nắng rớm/ chiều đào (Kỉ niệm – Dương Tường, 1993)

Dương Tường là một trong số ít thi sĩ Việt Nam đã tận dụng tối đa chiều năng biểu của chữ nhằm phát sinh nghĩa – chức năng thi ca. Cùng với Kỉ niệm, Mea culpa, những bài thơ thi sĩ sáng tác từ những năm 60 (thế kỉ XX) đã cho thấy sự vận động về hướng cách tân hình thức nghệ thuật của Dương Tường (Serenade 1, Sererade 3, Noel 1...).

Đánh giá về phương pháp sáng tạo của các nhà thơ siêu thực, Henri Benac cho rằng, đó là trò chơi “chiếc chai rỗng tuyệt vời” với hàm ý về cách thức sáng tạo của thơ siêu thực. Theo đó, trong một tập thể, mỗi nhà thơ đưa ra một từ, ngẫu nhiên, không ai biết từ của người kia, các nhà thơ sẽ ghép những từ này lại thành câu(2). Hành động này bảo đảm cho tính liên hệ vô thức, ngẫu nhiên của ngôn ngữ, hình ảnh, rất được các thi sĩ siêu thực tín nhiệm. Đồng thời, khi chơi trò này, hiện thực tạo thành sẽ tránh khỏi các quy luật của lí trí và các tri thức tiên nghiệm, vốn là đòi hỏi của chủ nghĩa siêu thực. Như thế, thực hành sáng tạo siêu thực gần với sự tự động do mối liên hệ của các từ, các sự vật hiện tượng trong văn bản thơ có khi rất xa nhau hoặc không có mối liên hệ logic nào tựa như giấc mơ. Về phương diện kĩ thuật, Đào Duy Hiệp cho rằng: “Trong mơ, những hình ảnh, những không gian, nơi chốn, con người... có thể rất xa lạ với đời thực. Các nhà thơ siêu thực tìm cách khám phá nó dựa trên sự tự do tuyệt đối trong việc lắp ghép lại chúng. Việc “đọc chính tả tâm linh” đó được họ gọi là “cái viết tự động”: “cái vô thức tự nói với mình”. “Mơ” và “cái viết tự động” là hai kĩ thuật chính của chủ nghĩa siêu thực”(3). Các thi sĩ đương đại Việt Nam có lẽ không chơi trò này (trong thực tế), nhưng những thực hành sáng tạo của họ đã nói lên mối liên hệ với kĩ thuật này:
Tôi sâm sấp mặt vũng/ ngôn ngữ đang chết trên cánh đồng/ gieo vần/ Gốc rễ rên nỗi lưỡi hái cùn/ Tôi khóc sứ mệnh/ mầm tuyên thệ hạt/ Vô sinh/ Đám mây hành khất/ không khóc cùng mặt trời/ tôi nằm sấp ướt/ tử ngữ nhập nhằng ma trơi (Giấc mơ của lưỡi – Phan Huyền Thư, 1998)

Rõ ràng, với cách sáng tạo “tự động tâm linh”, về mặt hình thức văn bản thơ, ngôn ngữ biểu đạt các sự vật, hiện tượng xa lạ, được ghép vào nhau với cách hình dung, liên tưởng đặc biệt đến mức dị biệt. Hệ quả của việc lắp ghép này sẽ dẫn đến những “chập nổ”, làm phát sáng hoặc hiện hình một thực tại nào đó, ít nhất là trong sự hình dung của chủ thể sáng tạo và tiếp nhận. Kì thực, việc tái tạo giấc mơ trong trạng thái thức là một sai lầm, bóp méo hiện thực của giấc mơ. Sự can dự ngay lập tức của lí trí khiến cho giấc mơ bị biến dạng. Nỗ lực đoạn tuyệt các mối liên hệ giữa ngôn từ, hình ảnh trong thơ siêu thực là cách phục nguyên giấc mơ ở tính phi lí, ngẫu nhiên, rời rạc, nghịch luận của nó. Từ căn nguyên, các nhà thơ Việt Nam sau 1975 đã nỗ lực tìm kiếm một hiện thực khác như là con đường, thế giới để hiện hữu và chống sự hủy diệt từ thời gian, sự tha hóa, mòn cũ.

Trao cho tưởng tượng những hiệu năng kiến tạo hiện thực mới, các thi sĩ đương đại không quá chú trọng vào hình thức thể loại (những thể loại đã quen thuộc) mà hướng đến sự tự do ngay trong hình thức biểu đạt. Bởi thế, hình thức tự nó đã mang quan niệm, mang dụng ý nghệ thuật của người viết. Vận dụng những thủ pháp quen thuộc nhưng với cách thức và mục đích mới, khuynh hướng siêu thực trong thơ Việt sau 1975 cấp cho thủ pháp năng lực kiến tạo mạnh mẽ hơn. Điều này đến từ khả năng tưởng tượng, liên tưởng phong phú của chủ thể sáng tạo. Có thể nói, khuynh hướng siêu thực trong thơ Việt sau 1975 nỗ lực lặn sâu vào các cấu trúc bí ẩn, xa lạ để kiếm tìm những ý nghĩa tồn tại mới hoặc biểu đạt chính chiều sâu của tinh thần mà con người thể nghiệm. Hình thức nghệ thuật chính là nội dung nghệ thuật, là chất thơ đồng hành trong ý hướng sáng tạo một chỉnh thể nghệ thuật của chủ thể. Không có cái hình thức thuần túy đứng ngoài, bao bọc, chứa đựng nội dung, yếu tố siêu thực trong thơ Việt Nam sau 1975 đòi hỏi hình thức tổ chức văn bản là một ẩn dụ, một cái được biểu đạt. Bởi lẽ, đó không phải là hình thức của lí trí, đó là hình thái của giấc mơ, mộng mơ, là sự hiện diện của cơn mê sảng thoát ra từ cõi sống sâu thẳm. Những thực hành sáng tạo về mặt hình thức ngôn ngữ và văn bản thơ của Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Từ Huy, một số bài thơ của Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn... có lẽ đã thể hiện ý niệm này. Mặc dù, phải thấy rằng, trong nhiều nỗ lực sáng tạo ấy, có những sản phẩm chưa thành công, nhưng, động hướng này cho thấy thái độ cũng như phản ứng cụ thể của các nhà thơ trong việc kiến tạo một không gian thi ca mới. Mặt khác, cũng có thể nhận ra nhiều sáng tác là sản phẩm của sự lạm phát trí não đến mức khiên cưỡng, gượng ép. Tuy nhiên, ở những bài thơ siêu thực thành công (theo chúng tôi), đó là sự thăng hoa của tưởng tượng, sự trỗi dậy của những ám ảnh vô thức, nỗi thúc bách của đòi hỏi giải thoát, hướng tới chân lí thẳm sâu ẩn trong những điều xa lạ:
Tôi che chắn đỉnh u trầm bão gió/ Giữ nuôi em ngọn nến mướt mềm/ Tôi đà đắm/ lạc hồn/ trùng lau lách/ Rũ hoang tàn em dựng ánh ngày lên/ Ngọn nến tự ăn mình khi thắp cháy/ Soi tìm gì trước vực đáy hư vô?/ Tôi đã mang em quá lâu/ em đã ăn tôi quá sâu/ ngục tim rỉ máu/ Rụng ngàn sao xuống tiếng nấc mơ hồ.
(Thơ – Nguyễn Hữu Hồng Minh, 1997)

“Xuống tận cùng của cái không quen biết để tìm ra cái mới”(4) là tinh thần khởi đi từ Ch. Baudelaire, cũng là tiền đề của những thực hành tượng trưng, siêu thực trong nghệ thuật. Thơ Việt Nam sau 1975 chứng kiến ở cấp độ mạnh mẽ hơn những hoạt lực ấy, như là một cố gắng trở lại với chính con người bản thể, vốn bị che khuất bởi nhiều lí do của đời sống. Yếu tố siêu thực trong thơ Việt sau 1975 trước hết phải được xem là một thái độ, một quan niệm về hiện thực, về con người và nghệ thuật. Từ quan niệm này, những thực hành thơ siêu thực là sự trỗi dậy của những ám ảnh vô thức, là bài chính tả của giấc mơ, là cơn mê sảng trong cõi sống âm u, sâu xa và bí mật.

Nếu xem chủ nghĩa siêu thực là hậu thân của chủ nghĩa tượng trưng thì yếu tố siêu thực trong thơ Việt Nam đã phát huy khát vọng tự do, giải thoát đến một tầm mức mới. Cụ thể, yếu tố siêu thực trong thơ Việt Nam sau 1975 thể hiện thái độ phản ứng trước nghệ thuật dễ dãi, nông cạn và phô bày của những sáng tạo trước và ngay trong đời sống thi ca đương đại. Yếu tố siêu thực không chấp nhận sự giam cầm của lí trí thuần túy, giải phóng con người khỏi các giới hạn tiên nghiệm. Phát huy tính phi lí, ngẫu nhiên, bất quy tắc trong thế giới nghệ thuật, những yếu tố siêu thực trong thơ tuyên cáo về tính hợp thức của một trật tự mới xây cất trên nền tảng của vô thức, tiềm thức, của những xung năng bí ẩn trong vùng tối của cõi sống.

Ở phương diện mĩ cảm, thi ảnh, hình tượng, yếu tố siêu thực thể hiện trong việc các hình ảnh, sự vật, hiện tượng, các thực thể xa lạ đứng bên cạnh nhau trong thi giới. Chính sự kết hợp này đã nói lên tính ngẫu nhiên, bất quy tắc, bất toàn, phi logic của một hiện thực tối cao mà thi sĩ siêu thực hướng tới. Sự ngẫu nhiên, rời rạc này được ghi nhận như là những hiện thực của giấc mơ, mê sảng, nhập thấy trong điều kiện sống và sáng tạo của nhà thơ. Chối từ những hiện thực cơ giới, cứng nhắc của lí trí để hướng tới một hiện thực khác đầy đủ, toàn nguyên hơn là phương châm của các nhà thơ theo khuynh hướng siêu thực.

Yếu tố siêu thực trong thơ Việt Nam sau 1975 còn có thể được ghi nhận từ phương diện hình thức thể loại. Giải trừ sức ép từ các thể loại truyền thống, quen thuộc, hình thức nghệ thuật của thơ Việt Nam sau 1975 cho thấy tính tự do trong sáng tạo và rộng xa hơn là tự do trong tư tưởng và đời sống. Hình thức nghệ thuật ấy còn là một ẩn dụ về con người, một diễn ngôn về đời sống, về tự do, về giá trị và hiện hữu.
N.T.T
 -------

1. Paul Ricoeur, Chính mình như một người khác, Trịnh Văn Tùng tái biên và diễn dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2002, tr.47.
2. Henri Benac, Dẫn giải ý tưởng văn chương, Nguyễn Thế Công dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr.825.
3. Đào Duy Hiệp, Thơ & truyện và cuộc đời, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001, tr. 23.
4. Henri Benac, sđd, tr.827.

Nguồn: tapchivannghequandoionline

 

Các bài khác:
· NAM CAO - VĂN CHƯƠNG THĂM THẲM PHẬN NGƯỜI
· CHÙM THƠ CỦA LÊ ÂN
· GIỚI THIỆU 2 TẢN VĂN CỦA CÂY BÚT TRẺ NGUYỄN VÂN ANH
· THƠ CA HOA KỲ TƯỞNG NIỆM NGÀY 11-9
· PHAN THỊ THANH NHÀN - BÊN NGOÀI CƯỜI NỤ BÊN TRONG KHÓC THẦM
· BƯỚC CHUYỂN HỆ HÌNH THƠ VIỆT TỪ TIỀN HIỆN ĐẠI SANG HIỆN ĐẠI
· BÀI THƠ "NHÌN TỪ XA... TỔ QUỐC!" CỦA NGUYỄN DUY
· CẢM NHẬN "CỨA NÁT MUÔN TRÙNG" CỦA TRẦN DZẠ LỮ
· LÊ MINH QUỐC - CUỐI ĐỜI CÒN MẸ
· CHÙM THƠ CỦA THANH TRẮC NGUYỄN VĂN
· THƠ VỀ MARINA TSVETAEVA
· ĐÀO TẤN - NGHỆ SĨ BIỆT TÀI
· BÚT TRE-CUỘC ĐỜI DUNG DI VÀ GIẢI NỖI "OAN THƠ" TRẢI HÀNG THẬP KỶ
· CHÙM THƠ CỦA NGUYỄN SINH XÔ
· TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - TỪ GÓC ĐỘ TU TỪ HỌC VÀ NGUYÊN LÝ ĐỐI THOẠI
· TRẦN TUẤN KHẢI, ANH KHÓA VỚI NHỮNG VẦN THƠ NƯỚC NON
· MỘT BIỂU TƯỢNG GIÀU Ý NGHĨA
· TIỄN NGUYỄN BẮC SƠN, NHỚ MỘT CÂU KINH...
· 7 THÓI TẬT CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC HÔM NAY
· MỘT BÀI THƠ ĐẶC SẮC VỀ ĐÀN BÀ CỦA PHẠM NGỌC THÁI

 

  
Gia đình Bích Khê