DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
ĐÊM CUỐI NGUYỄN XUÂN HOÀNG

                                                                                      - Mai Bá Ấn

(Nhân ba năm ngày mất của nhà văn trẻ Nguyễn Xuân Hoàng 16/12/2006-2009)

          Cho tận mãi bây giờ, mỗi khi nghĩ lại, tôi vẫn còn ngạc nhiên và ngỡ ngàng vì lẽ gì mà Hoàng giã từ trần gian sớm thế! Và tôi cũng không lý giải nổi vì lẽ gì mà Hoàng lại ra đi đúng cái hôm tôi từ Quảng Ngãi lại về với Huế?

Sinh ra và gắn bó một thời tuổi thơ, một thời học phổ thông giữa ruộng đồng Mộ Đức, Hoàng vào Đại học Tổng hợp Huế, ra trường, rồi lang thang đủ nghề trước khi chính thức làm báo, viết văn ở Huế. Ba mẹ, anh em Hoàng đều ở Quảng Ngãi, cái con sông Vệ quê hương và bao nhiêu những tên đất, tên người Quảng Ngãi thấm đẫm trong tùy bút của Hoàng là một minh chứng... Dù công tác xa quê, anh vẫn đau đáu nhớ quê như một niềm ám ảnh... Và như thế, tôi như một chứng nhân Quảng Ngãi duy nhất hẹn cùng Hoàng, ngồi nhâm nhi cùng Hoàng trước đêm Hoàng ra đi và bàng hoàng ở bên Hoàng ngay sau khi Hoàng mất...

Trên hành lang tầng hai của căn hộ Hoàng ở, sáng hôm đó, tôi đã kể lại cho mọi người nghe, kể cả gia đình Hoàng về những giờ phút cuối của một con người “tài hoa bạc mệnh”. Cái tầng hai chung cư Nguyễn Trường Tộ có “hàng cây lá xanh gần với nhau” ấy, Trịnh Công Sơn đã từng ở đó. Cũng ở đó, vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ cũng đã từng cho ra đời bao nhiêu là tùy bút vang bóng và những bài thơ để đời. Cả Hoàng Phủ Ngọc Tường và cả anh em văn nghệ cả nước, khi đọc bút ký - tùy bút của Hoàng, ai cũng nghĩ rằng: nếu Nguyễn Tuân ra đi đã trao thể bút ký và tùy bút lại cho Hoàng Phủ, thì người xứng đáng mà sau này Hoàng Phủ trao lại thể loại này, chắc chắn sẽ là Nguyễn Xuân Hoàng chứ không ai khác... Vậy mà, Hoàng ra đi quá sớm, chưa đủ thời gian trút hết tài hoa ra giấy để lại cho đời, chưa đủ thời gian để anh em trả nợ yêu thương, nhưng với bao nhiêu đó những tập bút ký - tùy bút (Hương mùa thu, Cỏ hoa xứ Huế, Cỏ lau tóc mẹ, Hồn mai...) còn để lại, Hoàng vẫn xứng đáng được ghi tên trong chặng đường phát triển của thể loại văn học “khó tính cho sự thành công” này.

          Chỉ biết tiếng nhau mà chưa hề gặp mặt, nhưng khi gặp nhau ở Huế, tôi và Hoàng đã thân nhau trên một tình anh em văn chương và cao hơn nữa là anh em Quảng Ngãi. Hoàng yêu quê, yêu kỷ niệm tuổi thơ, nên cứ hễ có ai ở Quảng Ngãi ra Huế là Hoàng vồ lấy mà nhỏ to tâm sự như để trút bớt nỗi nhớ quê, nhớ làng, thương cha, nhớ mẹ... Tôi gần gũi với Hoàng từ năm 2002 khi tôi theo học Cao học ở Huế. Gặp nhau, tôi trao Hoàng tập thơ “Lục bát làm liều” và Hoàng trao tôi tập bút ký “Hương mùa thu” để cùng nhau đọc. Chỉ vài tháng sau, Hoàng đã viết một bài giới thiệu về tập thơ của tôi, mà theo tôi, đó là một trong những bài viết... đúng bản chất thơ tôi nhất. Còn đọc bút ký của Hoàng, tôi ngỡ ngàng vì cách cảm nhận hiện thực tinh tế đến mức quặn lòng, trút ra bằng những con chữ như thể Hoàng đã ngấm hết sự vật, sự đời vào trong trái tim dễ rung cảm, yêu thương và vào một hình hài mỏng manh như gió thoảng. Đọc văn mà cứ ngỡ như Hoàng làm thơ, hay nói đúng hơn, đó là loại văn xuôi của một hồn thơ để biến những sự vật đơn giản, nhỏ nhoi, vô tri trở thành những linh vật có hồn và thấm đau tình đồng loại dù đó là chuyện của cỏ cây ven sông, ven suối, ven đồi, ven rừng hay quanh quanh nội thành và ven dòng sông Hương mơ mộng...

          Chơi với nhau trong hai năm Cao học, sau đó thi thoảng Hoàng về thăm quê hoặc tôi ra thăm lại Huế, anh em lại tiếp tục đến với nhau. Chính vì thế, ngay sau ngày Hoàng mất, bài thơ tôi viết viếng em có ngay cái tựa thơ là “Ngày Huế không Hoàng” (tôi đặt lên bàn thờ Hoàng và không biết bây giờ, vợ con Hoàng có còn giữ được!). Vắng Hoàng, Huế như thiếu một cái gì không thể ai bù đắp được, ít nhất là với riêng tôi, nhưng tôi tin, cũng sẽ như tôi, với không ít anh em văn nghệ sĩ đã từng về với Huế...

          Đầu đông năm ấy, sau khi đã triển khai viết Luận án Tiến sĩ của mình, tôi hơi băn khoăn vì trong phần nói về lý thuyết Trường ca thì so với Thu Bồn và Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm còn quá ít. Tôi đến nhà hỏi thêm ông, thì ông bảo: “Chuyện đó Thanh Thảo đã nói hộ mình rồi, mình có một cái Trường ca mà nói chi nhiều! Thảo xứng đáng để nói, và nói hay, nói đúng”. Đành là thế, nhưng các tiểu mục trong Luận án khi đã đặt ra thì cần phải có sự cân xứng giữa ba tác giả, và vì vậy, tôi biết chỉ có Hoàng mới có thể cứu tôi trong cơn hoạn nạn. Lúc đó, Hoàng đã chuyển từ Đài “rờ ở giữa mà hai đầu” (TRT - Đài PTTH Thừa Thiên - Huế, như cách đùa của anh em văn nghệ và báo chí ở Huế) sang Tạp chí Sông Hương làm Trưởng ban biên tập. Tôi cũng lại gặp may, vì đây cũng là đoạn mà nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã rời quan trường trở về vườn chuối Vỹ Dạ của mình. Trước đó mấy ngày, từ Quảng Ngãi, tôi điện ra thông báo với Hoàng là: “Anh ra, em cùng anh xuống gặp bác Điềm để phỏng vấn đôi điều những quan niệm của ông về thơ và đặc biệt là trường ca để Hoàng in trên Tạp chí Sông Hương cho anh lấy làm tài liệu nghiên cứu”. Vậy là, Hoàng nhận lời (tất nhiên), và tôi ra Huế. Hôm đó, Hoàng dặn: “Anh ra tới nơi thì điện thoại em!”.

          Chạy honda đến Huế khoảng 16 giờ chiều ngày 15/12/2006, tôi không vội điện Hoàng vì còn lo chỗ ở. Người bạn vong niên của tôi - anh Trần Thế Nhân đang làm Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh nên tôi điện thoại để xin anh một phòng khách ở nhờ. Anh Nhân lại rủ mời thầy Hồ Thế Hà gặp mặt cho vui nhân tôi lại ra với Huế (Anh Nhân cùng tôi học Cao học với thầy Hà). Vậy là điện thoại Hồ Thế Hà... Ba thầy trò tập trung ở quán Dân Dã bên dòng An Cựu. Xong xuôi, tôi điện thoại Hoàng:

- Anh đã đến Huế, em đang ở đâu?

- Em đang uống rượu ở đường Trần Huy Liệu, anh sang đây ngay đi!

- Mà em đang uống với ai?

- Một mình em thôi...

- Vậy em sang Dân Dã quán với bọn anh đi. Chỉ có anh, anh Nhân với Hồ Thế Hà thôi.

- Nhưng hôm nay em thích uống một mình. Thôi anh em cứ ngồi đó, ai kết thúc sớm thì tìm đến người kết thúc muộn hơn.

Và tất nhiên, Hoàng kết thúc sớm hơn, vì giai đoạn ấy, nhạc phụ của Hoàng đang lâm bệnh. Vậy là Hoàng đến (khoảng đã 20 giờ 30) trên tay kệ nệ một túi ni lông đựng toàn sách mới được biếu tặng. Gương mặt Hoàng lúc này trông rất tươi vui như một người đã và đang hài lòng (thành công) một điều gì vậy!... Hoàng đến, chào hỏi mọi người, rồi nói chung chung:

- Lẽ ra em về nhà luôn vì ban đêm chỉ có em mới phục vụ được ông già vợ, nhưng cũng phải đến đây chào các anh một tiếng. Em uống ít thôi, vì đêm, còn vừa làm việc vừa canh ông già... 

Hôm đó, anh Nhân mang theo chai rượu Tây, hình như là “John vàng”, tôi rót nhẹ cho Hoàng một ly nhỏ (ly thủy tinh có chân dùng uống rượu Tây, trong đó có lát chanh để cho dịu rượu). Đưa tay nhẹ nhàng cầm ly rượu như phong thái muôn thuở của Hoàng, Hoàng nhấp một ngụm, rồi ngồi xuống ghế... Ngồi trò chuyện một lúc, Hoàng xin mọi người cho được hát hai bài: một bài của Trịnh Công Sơn và một bài Hoàng nói là: “Do chính em sáng tác, không viết thành nhạc, mà chỉ là thơ rồi tự ghi nhạc ở lòng miình"... Bản nhạc Trịnh mà Hoàng hát đêm đó lại là “Như một lời chia tay”: Những hẹn hò từ đây khép lại; thân nhẹ nhàng như mây... Còn bài hát do chính Hoàng tự sáng tác thì tôi không nhớ được lời. Không chỉ hát một lần, Hoàng lại hát đi hát lại nhiều lần, mới lạ. Tôi hơi ngạc nhiên, là xưa nay gặp nhau, Hoàng chỉ có nói chuyện và đọc thơ, rất ít khi nào nghe Hoàng hát, vậy mà hôm ấy lại hát đến hai bài, nhiều lần mà toàn là những bài nghiệt ngã... Nhưng mà chuyện về những bài hát đó, sau khi Hoàng mất, ai cũng mới ngộ ra, chứ lúc đó, nào ai có nghĩ đến điều gì... Hình như đã giải tỏa được lòng mình qua những bài hát, Hoàng ngụm thêm một ngụm rượu nữa (tổng cộng Hoàng uống với anh em tôi đêm đó tại quán Dân Dã chỉ khoảng ba ly rượu Tây nhỏ có bỏ lát chanh), rồi Hoàng xin phép về trước. Tôi dặn Hoàng: “Sáng mai 6 giờ 30, anh đến Tạp chí, anh em đi ăn sáng, uống càfe, rồi sang bác Điềm nghe!”. Hoàng đồng ý... và xách túi sách đi về. Anh em tôi tiếp tục bù khú đến khuya...

Mùa đông xứ Huế mưa dầm. Chuếnh choáng cơn men, chúng tôi chia tay nhau khoảng gần 23 giờ khuya. Tôi về Nhà khách Trung tâm anh Nhân, và đánh giấc ngủ vùi...

5 giờ 30 sáng ngày 16/12/2006, điện thoại reo, tôi chồm dậy... Điện thoại của Hồ Thế Hà:

- Ấn đã biết gì chưa?

- Dạ chưa!

- Hoàng nó mất rồi!

- Cái gì?

- Hoàng, đêm qua, chỗ anh em mình về, làm việc xong, ngủ, rồi ngủ luôn mất. Mình đang ở nhà Hoàng đây.

Tỉnh hẳn cơn say và cơn mê ngủ, tôi vội phóng xe đến nhà Hoàng. Đúng thật rồi. Người lao xao ra vào... Tôi lao lên tầng hai, chạy vào giường nằm của Hoàng. Em nằm im đó, thảnh thơi như đang mơ ngủ. Tôi lao đến, òa khóc gọi: “Hoàng ơi!”...  Một người phụ nữ kéo tôi ra (hình như sợ nước mắt tôi rơi trên thi thể Hoàng). Tôi lùi ra và tỉnh táo nhìn lại Hoàng... Chao ôi! Vẫn như một giấc mơ... mà tôi nghĩ không thể là sự thật. Hoàng vẫn nằm im đó, lời hẹn đến nhà Nguyễn Khoa Điềm không còn thực hiện được dù là một lời hẹn rất gần, rất trách nhiệm, rất anh em... Ôi em ! Một lời hẹn gần mà xa đến nghìn sau...

Tôi lang thang ra hành lang, điện thoại cho những người bạn từng chơi với Hoàng để báo tin...  thì thấy Nguyễn Duy Tờ (Giám đốc Nxb Thuận Hóa) ngồi ở cuối hành lang, tôi đến và hỏi Tờ:

- Chiều qua, ông có ngồi cùng Hoàng bên Trần Huy Liệu không?

Tờ bảo là: “không”. Tôi kể chuyện với mọi người về đêm qua, nhất là những bài hát như “mỗi lời mỗi một vận vào” ấy, mới hay rằng, anh em Huế đã từng nghe, từng biết. Đó là những bài hát mà trong khoảng một tháng gần đây, khi ngồi với anh em, Hoàng thường hay hát... Nghe Hoàng cứ mải hát, ai cũng cứ nghĩ do Hoàng đang viết một cuốn sách về chân dung Trịnh Công Sơn (nghe đâu đã hoàn thành phần 1) nên mới nhập hồn vào Trịnh. Nào ngờ... bây giờ, nó hiển hiện như một điềm báo trước... Đúng là Hoàng đã thong thả và sẵn sàng chia tay anh em hơn một tháng nay mà không ai hề ngờ tới...

Biết tôi ở Quảng Ngãi ra chiều hôm qua, vợ chồng Nguyễn Lệ Hà (chị ruột Hoàng) - Phan Văn Cẩm (Sở VHTT Quảng Nam) - vốn là hai đứa em đồng môn ĐHSP Quy Nhơn, cả em Hoàng - Nguyễn Xuân Dũng (Sở VHTT Quảng Ngãi) - cũng là đứa em thân thuộc, và gia đình đến hỏi chuyện tôi, tôi đã kể...

Tôi cũng nghĩ và mọi người thân của Hoàng cũng nghĩ: Tôi là người thân Quảng Ngãi duy nhất thân yêu chứng kiến những giờ cuối trước khi Hoàng rời xa cõi tạm... Điều mà cho mãi đến bây giờ, tôi vẫn không thể nào hiểu hết...

Vậy là, thấm thoát đã ba năm trôi qua, thương nhớ Hoàng, xin ghi lại đôi dòng tâm sự. Đôi dòng này nhiều anh em văn nghệ, báo chí ở Huế cũng đã biết, đã nghe... Nhưng cũng mãi đến tận bây giờ, tôi mới xin được vài dòng tâm sự.

 

                                                          Đầu tháng 12/2009

                                                         

 

 

 

 

 

 

 

 

Các bài khác:
· NHÀ VĂN XUÂN THỤ: NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA TỒN TẠI
· BẢN DỊCH "TRYỆN KIỀU" NÀO HAY NHẤT?
· THÁNG CHẠP QUAY NGHIÊNG NHỚ BỬU CHỈ
· NGUYỄN DUY, THI SĨ THẢO DÂN
· NHÀ THƠ CHIM TRẮNG:
· NGUYỄN TRỌNG TẠO VÀ "THƠ VIẾT TRONG ĐÊM TỰ TỬ"
· TIỄN BIỆT NGUYỄN TRUNG BÌNH
· BI KỊCH HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
· LÊ VĂN NGĂN VIẾT DƯỚI BÓNG QUÊ NHÀ
· TÍNH HẬU HIỆN ĐẠI TRONG "HẠC VÀNG" CỦA PHAN NHẬT CHIÊU
· NGÔ NGỌC BỘI-NHÀ VĂN CỦA CHIẾC ÁO MỚI MẶC BUỔI ĐÊM
· TƯNG TỬNG QUẢNG GẶP TƯNG TỬNG HUẾ
· THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU?
· NHÀ VĂN HUẾ - NGUYỄN XUÂN HOÀNG CÒN Ở LẠI VỚI
· PHAN VŨ ƠI, HÀ NỘI PHỐ
· THANH THẢO VÀ THƠ
· LÊ ĐẠT - CHỮ
· MỘT TƯ LIỆU CHƯA CHẮC ĐÃ QUÝ NHƯNG CẦN LƯU LẠI
· HỮU THỈNH LẠI LỖI HẸN VỚI FESTIVAL THƠ ĐÀI BẮC
· CÂY LIỄU THẠCH LAM

 

  
Gia đình Bích Khê