DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
VÒNG VO THƠ VIỆT TỪ CẢM XÚC HẬU HIỆN ĐẠI

 

                                                                                                                                                    ĐỖ QUYÊN 


Cũ người mới ta: Đó là một quan niệm logic rất thường trực trong mọi tranh luận, ở các nơi sự kiện xảy ra sau và các chốn “chậm phát triển”. Không công bằng! Thuận lý mà bất tình. Là nơi có sở đoản về học thuyết, đương nhiên châu Á và Việt Nam sẽ mãi đi sau phương Tây trong các trào lưu, nhóm phái. (Nếu không thích nói cà nhây: Chủ thuyết của Đông phương là không chủ thuyết!) Nhưng không vì thế khi thấy họ bỏ, mình cũng bỏ theo dù chưa xài hết cho hợp xã hội, con người mình. Chưa kể, họ được xài cái cũ cái cổ của nơi khác (ví như các làn sóng Phật-Thiền ở Mỹ, tạm kể từ thời Beat tới nay), mình vậy là bị la! Hậu hiện đại Mỹ đi vào thoái trào, xét cho cùng, là chuyện của người Mỹ. Dân Việt bay lên cao trào Hậu hiện đại Việt lại là câu chuyện khác



@0
Mấy tuần qua, “thu đi cho lá vàng bay / lá rơi cho meo-chát về” giữa tản mạn với dăm ba bạn thơ trong làng thơ về Nàng Thơ, từ các trường phái thi ca sang chuyện“biết rồi khổ lắm nói mãi” là Hậu hiện đại, Đỗ tôi gom được một sân lá-vàng-văn-nghệ.
+ “Khuynh hướng Hậu hiện đại (Postmodernism), lý thuyết cùng thực hành, không còn xa lạ, mới mẻ gì với các nhà thơ Việt. Ở cường quốc thi ca Hậu hiện đại, như Mỹ, nó đã thoái trào, nhường chỗ cho chủ nghĩa Tân cổ điển (Neoclassicism).”
+ “Thứ đồ này không phải một trào lưu văn học, mà gần như một hình thái xã hội, trong đó có văn nghệ. Xã hội Hậu hiện đại sẽ tồn tại mãi, tùy theo...”
+ “Nhóm Mở Miệng, đã thực hành một phần thành công, đóng dấu mốc trong lịch sử thơ Việt đương đại. Và đang lùi dần vào bóng tối. Người khá nhất trong nhóm là nhà thơ Bùi Chát đã thay đổi hướng đi (tập “Thơ một vần”   không hoàn toàn Hậu hiện đại nữa.”)
+ “Em chã... Em chã” cho là văn học sử sẽ ghi nhận đóng góp của các bác Mở Miệng đâu!”
+ “Có vẻ như nhóm Mở Miệng đã không hiểu hết ý nghĩa, bản chất của Hậu hiện đại mà vô/cố tình dùng từ dung tục, bẩn thỉu (một cách phản ứng xã hội?); nên đại đa số người đọc không chấp nhận, thành ra hoang mang ngờ vực Hậu hiện đại. Mở Miệng cứ bung phá; và đôi nhà phê bình đã lợi dụng rêu rao tên tuổi mình.”
+ “Có hai loại nhóm văn nghệ khác nhau: Nhóm như của Anh-Mỹ gọi là “Poets Circle”, hay của Pháp thế kỷ 19 là các salon văn chương; và Nhóm như một mailing-list chơi thân nhau ngoài đời; kiểu này không nên cùng phong cách sáng tác mà chỉ cần chung một số quan điểm tổng quát về văn thơ.”
Cám ơn tất cả các ý gây hứng tạo lứng cứng chuột meo-chát! Nay mời quý độc giả vòng vo cùng Hậu hiện đại Việt trong vòng đai quan niệm và đôi chút lịch sử các trào lưu, nhóm-phái-trường thơ văn Việt giữa thi cảnh thế giới, mốc từ năm 1936 với nhóm thơ Bình Định tới nay ở nhóm damau.org.
Theo cung cách Hậu hiện đại, tiểu luận (theo thể loại tiểu truyện pha chất tiểu phẩm) này đề cập vô số tác giả và tác phẩm, sự kiện và quan niệm, vấn đề và chi tiết. Mà cái trò Hậu hiện đại lại tự mang trong mình nó tính đại hậu đậu. Xin nhận về các cao/tiên/hậu ý nơi quý vị để người viết sửa sai/chữa/sang. Đa/cảm (và sẽ có thể hậu) tạ!

@1
Hồi 1998-99 sau khi không thành công cũng chẳng thành... báo (dự tính tên“Văn Chương” trong lúc mời rủ bạn bè tứ phương bất ngờ biết chính nhà văn Nguyễn Quốc Trụ từng chăm sóc tạp chí cũng có tên vậy ở Sài Gòn trước 1975 thế rồi ổng viết ngay một bài khai lộ cho cái tạp chí vô tình lặp tên không ra đời đó), tôi và ông bạn, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng cũng muốn tụ vạ một số tay viết – nổ dzăng miểng là - “có chung một khát vọng và nỗ lực cách tân thơ Việt triệt để”   - nết na là - “trên hết, và quan trọng nhất, tất cả họ đều muốn góp phần đưa dần thơ ra khỏi những lối mòn.”   Sau cả năm làm việc vui thú và hiệu quả, ngày 7-12-2002, hai chúng tôi cùng các nhà thơ Thận Nhiên, Đinh Trường Chinh, Phan Nhiên Hạo, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Quốc Chánh... cho ra tập thơ có tên ở Chú thích 2. Mấy năm nay, vài tên trong nhóm cũ cùng đôi bạn mới tính làm tiếp tập khác mà duyên không giao. Vả, bây giờ, chẳng còn là thời “lần đầu tiên sáng tác của các nhà thơ trong và ngoài nước đến với bạn đọc trong một tuyển tập.”   Dễ gì ngồi-xuống-cùng-làm-một-cái-gì!

@2
Ngồi-xuống-cùng-làm-một-cái-gì. Đó là thao tác khó đầu tiên tạo nôi cho một nhóm văn hữu cùng sinh đẻ trên đó. Bởi mỗi tên đã có 01 bàn văn của riêng mình ngồi rồi. Với người Á Đông, thao tác này khó như Ngu Công chuyển núi: Ngọn Thái Sơn có tên tục là Tôi to đùng nằm trên mỗi đầu lưỡi, ngoài việc nằm nơi đầu bút, xưa; nay là đầu con chuột/mouse. Dân Âu-Mỹ coi bộ ngang ngang, nhưng khi vào trường văn nhóm thơ họ biết cúi Thái Sơn Tôi của mình trước Thái Sơn Tôi nơi kẻ khác.
Về các trường/phái/nhóm thơ theo cùng thi pháp, phong cách: Bất chấp hơn 100 năm qua ở Tây phương, nhất là Pháp với những nhóm thơ Thất Tinh (Pléiade), Thi Sơn (Parnasse), những trường phái Tượng trưng Mallarmé, Siêu thực Bréton... Bất chấp ở Nga với nhóm thơ Pushkin, nhóm thơ Vị Lai (Ego-Futurists), những trường phái thơ hình tượng Blok, trường phái thơ Lermontov-Pasternak... Bất chấp 50 năm qua ở Mỹ quá rực rỡ với hàng tá mặt-trời-thơ: trường phái Black Mountain, trường phái San Francisco, các nhà thơ thế hệ Beat, trường phái New York... Bất chấp cả xứ Tàu cuối thế kỷ trước tỏa sáng nhiều tiểu mặt trời: Chỉ trong bài bé xíu của dịch giả Nữ Lang Trung   đã thấy đây trường phái thơ Mông Lung, kia nhóm thơ Đất Quê Mới (Tân Hương thổ thi phái), kìa nhóm thơ Quật Khởi (Quật khởi thi quần). Bất chấp hết, làng thơ An Nam thời hiện đại rồi Hậu hiện đại nhà ta dường như chỉ óng a óng ánh các mặt... trăng!

@3
Của đáng tội, thơ Việt cũng có gần đầy hai bàn tay những mặt-trời-thơ to nhỏ các kiểu.
Trước 1975: Hai “khuôn viên văn nghệ” là nhóm thơ Bình Định 1936-45 (đưa tới trường thơ Loạn) và nhóm Sáng Tạo 1956-65 không là các tập hợp văn học về thi pháp có tính cách mạng mỹ học như hai nhóm Xuân Thu Nhã Tập 1939-42 (cả lý thuyết và thực hành) và nhóm Dạ Đài (với tuyên ngôn Tượng trưng in trong Tạp chí Dạ Đài số 1 cũng là số duy nhất ra vào cuối năm 1946, mà nhà nghiên cứu Hồ Thế Hà   - có lẽ lần đầu – trong hội thảo quốc tế 2006 của Viện Văn học Việt Nam đã “xử lý” nhóm này như một thi phái chưa kịp thực hành của nền văn học Việt Nam.)
Sau 1975: Nhóm Tân hình thức do Tạp chí Thơ / nhà thơ Khế Iêm khởi xướng và cầm chịch với lý thuyết và thực hành, tạo ảnh hưởng ngoài và trong nước từ năm 2000 đến nay  . Hồi năm 2004-05 Tân hình thức Việt gây trận tranh luận triền miên trong thi giới tiếc là màn chót không giữ được hòa khí nhưng mà thôi tiếc làm chi gió bão có khi nào không vương đầy trời miễn giữ được thi khí đã may rồi ba cái tên thi sĩ mấy khi hòa mí nhau.
Nhóm Mở Miệng ra đời 2001, nổi hơn cồn 2003-06, ai không biết không phải là người thơ thời mới; 1-2 năm nay khi lặn khi nổi; sẽ nổi thêm ở dưới đây...

@4
Thử bàn loạn về cái gọi là “Việt Nam Hậu hiện đại thi phái” xem có chết cậu Mỹ mợ Mẽo nào chăng?
@4.1
Mươi năm rồi, một trào lưu - với đúng nghĩa của nó – mang tên Hậu hiện đại đã được thực thi ở văn học Việt, nhất là thơ và tiểu thuyết, trong lẫn ngoài hình chữ S, với hai tá người viết “cứng cựa” (đang ngủ đánh thức dậy kẻ hèn này cũng kể trúng cả tá!) Chưa kể các tác giả không chính thống và các tác giả bị xem là “quậy” (loại này nhiều, “bắn” không xuể!), trong dòng chính thống - xét về nhân thân và nơi xuất bản - ngày một tăng, với Nguyễn Bình Phương và Mai Văn Phấn, Inrasara và Thuận, Nguyễn Thúy Hằng và Lê Anh Hoài, v.v... và v.v... Ấy là chưa buồn tính các tay bút vang danh với các dấu hiệu Hậu hiện đại (Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài...) Sách viết (Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc-Tuấn, Trần Quang Thái, Phương Lựu...) và sách dịch (Ngân Xuyên, Nguyễn Ước, Trần Tiễn Cao Đăng...) chưa nhiều và quy củ cũng đủ cho cánh sáng tác xài (chắc gì đã hết chữ!) Lãnh vực phê bình truyền thông và phê bình văn học, theo cả hai chiều ủng hộ và chống đối, cũng đạt mức trào lưu. Chỉ còn tản mạn, chưa hệ thống về khoản phê bình hàn lâm, nghiên cứu bài bản, giảng dạy khoa bảng thôi, ới Viện Văn học và các trường đại học Việt Nam ơi! (Gần đây, trên báo mạng toquoc.gov.vn/chuyenmuc/vanhocquenha, nhà phê bình Trần Thiện Khanh, có bài phỏng vấn các giáo sư, nghiên cứu gia Lã Nguyên/La Khắc Hòa  , Phùng Gia Thế   và văn sĩ Lê Anh Hoài   – theo tôi, khách quan, bài bản và thích nhất là đàng hoàng về sự thách đố Hậu hiện đại, song có lẽ Trần quân chưa làm với tư thế là “quân” của Viện Văn học?)
Nhưng, khuynh hướng Hậu hiện đại Việt chưa được giới sáng tác, phê bình (không chỉ chính thống) và độc giả nhìn nhận đàng hoàng như một dòng văn-học-thật. Họ coi đó như thứ dị ứng xã hội bằng chữ nghĩa, như lối quậy phá văn chương truyền thống, mẫu mực và hiện đại, hay như thứ giả-văn-học. Có vài lý do mà qua nhiều bài viết mới đây (Những bài giới thiệu các nhà thơ Hậu hiện đại Việt của nhà thơ-nhà bình luận Inrasara   - người đang được/bị coi là “kẻ truyền bá và cổ xúy Hậu hiện đại” hồ-hỡi-phấn-khỡi nhất nhì nước Nam; Loạt bài nhân việc nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc-Tuấn phản bác các nhà phê bình, dịch giả Hoàng Ngọc Hiến, Trịnh Lữ; Phỏng vấn nói trên của nhà nghiên cứu Trần Thiện Khanh; Và mới cứng là thảo luận bàn tròn 29-8 & 5-9-2009 trên web litviet.com của nhà thơ Phan Nhiên Hạo- giữa ba tay viết ở ngoài nước Phan Nhiên Hạo, Chân Phương, Trần Vũ với ba cây bút ở trong nước Nguyễn Quốc Chánh, Trịnh Cung, Nguyễn Viện), tôi thấy cái khó ló từ văn hóa tiếp nhận, cách đọc của người Việt, chứ chưa hẳn do phương pháp hay nội dung của văn chương Hậu hiện đại Việt.
Nếu có một hỗn hợp hỗn tạp đeo danh – dù là danh hão danh hờ - như “Nhóm thơ HHĐ” (viết tắt tránh tiếng là nổ là tinh tướng!) thì nó chỉ có làm “tiếng nói chung của nhóm” như lời của một bạn thơ, chứ không là lò đẻ thi pháp của một trường thơ thứ thiệt.
Lý thuyết gia Hậu hiện đại: trong phái này lý thuyết gia sắm luôn vai sáng tác gia và ngược lại, mỗi tác phẩm ngay cả của một tác giả có bút pháp riêng. Thế mới là Hậu hiện đại! Nên ai cũng kêu trời Hậu hiện đại quá nhiều sách vở lý thuyết, cuốn nọ cãi cuốn kia; nó đa thanh tới mức không thể đồng thanh trong một lý thuyết văn hóa chỉnh tề.
Ý thức Hậu hiện đại: Lưng lạc đà chất gì lên cũng được! Không là trường phái, Hậu hiện đại không có phương pháp luận ổn định và nghiệm đúng cho mọi tác giả, cho mọi tác phẩm của một tác giả. Tập thơ vừa viết, chưa xuất bản “Hình đám cỏ” của nhà thơ Mai Văn Phấn  , như tập “Và đột nhiên gió thổi....”, có cách viết khác hẳn chất Hậu hiện đại của tập “Hôm sau” dù được sáng tác cùng giai đoạn. Không chừng đó là “Phản Hậu hiện đại”? Mà Phản Hậu hiện đại lại chính là Hậu hiện đại! Trong tất cả các khuynh hướng của thơ, chắc chỉ Hậu hiện đại chấp nhận sự phản? Mới hôm qua, trong tiểu luận như một khúc bi ca về văn tình Việt Nam, nữ sĩ kiêm phê bình gia Nhã Thuyên trong khi tung ra lý do “mất bối cảnh nổi loạn sáng tạo” đã liên hệ ít nhiều đến vấn đề trào lưu và cách tân, thi pháp và thủ pháp Hậu hiện đại.
Giữa rừng web, blog Việt, tuần trước tôi mới thấy một sân chơi chuyên trò Hậu hiện đại hauhiendai.net, ra đời tháng 8-2009, với lời giới thiệu: “Đây là trang web cá nhân của Tam Lệ sưu tầm nghiên cứu xuất bản về Hậu hiện đại, chủ yếu trong lĩnh vực văn chương.”
Đâu được sang cả như thi sĩ Chân Phương bạn ta (giao “homework” để người đối thoại làm xong mới thưa chuyện tiếp), tui chỉ dám khe khẽ thả ra câu hỏi ngu ngơ và vu vơ (vì thế nó có thể sẽ bơ vơ): Với 18 thi sĩ của danh-sách-Inrasara trong cuốn “Thơ Việt, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại”, những ai Hiện đại, những ai Hậu hiện đại, những ai từ Hiện đại đến Hậu hiện đại, và đoán trước những ai Hậu hậu hiện đại?

@4.2
Văn chữ dốt sinh ngữ nát, chỉ biết ngó nghiêng làng văn nghệ Âu-Mỹ từ rất xa, lại qua cái nhìn của kẻ khác, Đỗ tôi cũng liều mà “tư duy về kẻ khác", trúng cú nào hên cú đó:
@4.2.1
Cũ người mới ta: Đó là một quan niệm logic rất thường trực trong mọi tranh luận, ở các nơi sự kiện xảy ra sau và các chốn “chậm phát triển”. Không công bằng! Thuận lý mà bất tình. Là nơi có sở đoản về học thuyết, đương nhiên châu Á và Việt Nam sẽ mãi đi sau phương Tây trong các trào lưu, nhóm phái. (Nếu không thích nói cà nhây: Chủ thuyết của Đông phương là không chủ thuyết!) Nhưng không vì thế khi thấy họ bỏ, mình cũng bỏ theo dù chưa xài hết cho hợp xã hội, con người mình. Chưa kể, họ được xài cái cũ cái cổ của nơi khác (ví như các làn sóng Phật-Thiền ở Mỹ, tạm kể từ thời Beat tới nay), mình vậy là bị la! Hậu hiện đại Mỹ đi vào thoái trào, xét cho cùng, là chuyện của người Mỹ. Dân Việt bay lên cao trào Hậu hiện đại Việt lại là câu chuyện khác. (tỉ như cùng toa thuốc viagra đó ông hàng xóm xỉu trên bụng vợ ổng còn ta cứ việc thi hành cùng vợ ta hai cuộc mần tình khác nhau xa có phải không ạ thưa bà con gần xa.)
Người viết Việt mình vài năm nay bàn cãi nhiều, hôm nay tôi muốn mời coi lại tranh luận nóng hổi nói trên của litviet.com, xong rồi cùng ngẫm cách lập luận của nhà nghiên cứu người Nga Konstantin Kornev : “Chủ nghĩa Hậu hiện đại đem lại cho con người phương Đông cơ hội chiến thắng văn hóa Tây phương trong chính mình, chiến thắng tính duy lý Tây phương đã bóp méo ý thức hắn, nhờ chính thuốc trị Tây phương. (...) Như vậy, Hậu hiện đại có hai bộ mặt – Đông và Tây. Cái ở phương Tây là sự tự hủy, thì ở phương Đông lại là sự giải phóng và sự trở về mình.”
Với tôi, xã hội Việt và văn học Việt còn dai dẳng đeo đẳng với các điều kiện Hậu hiện đại 10-20 năm nữa. Nó bị ràng buộc bởi các điều kiện chính trị, kinh tế Việt.
@4.2.2
Sau màn Chiến tranh Lạnh buông xuống, văn chương Âu-Mỹ ít có các trường phái đoạt soái thi đàn, như từng nở rộ thời đầu-giữa thế kỷ 20 với các đỉnh như nhóm Siêu thực Bréton 1920-30, Tiểu thuyết mới 1950-70 ở Pháp, rồi thế hệ Beat 1960s ở Mỹ. Nói khắt khe, văn chương Hậu hiện đại Mỹ, các năm hoàng kim, 1970s, cũng tản ra theo các dòng chính khác nhau trên văn đàn. Ở bài tiêu biểu về thơ Hậu hiện đại Mỹ, giáo sư-thi sĩ Paul Hoover   cho rằng “trong các loại thơ mới, có công chúng lớn nhất là phong trào Beat“. Chưa thấy ai trong danh sách của P. Hoover được coi như Allen Ginsberg làm thay đổi giọng điệu thi ca Mỹ; nhưng thi pháp đọc miệng của nhóm Beat, tiêu biểu là Ginsberg, không gần gũi với các nhà thơ Hậu hiện đại Việt. Và tôi cũng lờ mờ hiểu tại sao trong tài liệu quan trọng, chuyên nghiệp dù đại chúng về văn chương Mỹ được phổ biến trong Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 11/1998, thuộc trang mạng Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, ở chương 7, về thi ca phản truyền thống Hoa Kỳ từ 1945-1990  , lại không hề nhắc tới vấn đề Hậu hiện đại, ngoài duy nhất một chữ “Hậu hiện đại” rất yếu ớt lúc bàn về những hướng mới trong thơ ca Mỹ với các nhà thơ ngôn ngữ, trong khi - tất nhiên – chương 6 dành cho trào lưu Hiện đại 1914-1945. (Mong được các chuyên gia Hậu hiện đại giải thích rõ hơn.)
Chủ nghĩa Tân cổ điển: Trong hội họa, nó xuất hiện ở Pháp từ thế kỷ 18 với chủ tướng Jacques-Louis David vào năm 1784 qua bức tranh nổi tiếng “Le Serment des Horaces” (“Lời thề của anh em Horaces”). Kể từ mười năm cuối của thế kỷ trước, chủ nghĩa Tân cổ điển đã trở thành trào lưu từ kinh tế đến chính trị, từ âm nhạc đến thi ca... Ở Mỹ năm 1995, Tuyên ngôn về Nghệ thuật và Nhân văn, với thi sĩ kiêm triết gia Frederick Turner là một trong những đại diện quan trọng, đã bán chính thức đặt lên bàn cân sự thách đố của trường phái Tân cổ điển; có thể xem như nối tiếp của trào lưu văn học Hậu hiện đại Mỹ. Trên báo chí mạng văn nghệ Việt, tôi chỉ mới đọc được hai bài đáng chú ý về chủ nghĩa Tân cổ điển trong nghệ thuật: bài giới thiệu của GS Hoàng Ngọc Hiến  (Tạp chí Sông Hương #198 - 8/2005) và bản dịch bài của F. Turner do dịch giả Nguyễn Tiến Văn thực hiện (talawas 14-1-2003). Ngoài xu hướng và mục đích, bài đầu đã nói qua về ba (trên bảy) quan niệm văn hóa trong thi pháp, kỹ thuật chính; còn bài sau có lời dẫn của dịch giả, tiểu sử F. Turner và đầy đủ Tuyên ngôn 1995 với chủ trương bảy điểm của chủ nghĩa này trong bài thuyết minh năm 2002 của F. Turner. (Ở nguyên bản tiếng Anh, “The New Classicism and Culture”, trên phillysoc.org/Turner.htm, tôi dòm thấy có cả hai bài thơ minh họa của chính vị đại diện chủ nghĩa Tân cổ điển. Dịch giả nào sớm thảy qua tiếng ta thì hay quá! Cám ơn !)
Một điều thú vị: Ba tháng trước, “con chuột” của tôi bỗng ve vẩy cái đuôi khi bò tới bài của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha  trên báo mạng: giữa tháng 7 vừa qua, lần đầu tiên, nhà lập thuyết kỳ tài - ông Frederick Turner đã đến Việt Nam; năm 2007, ông cũng đã mời GS Hoàng Ngọc Hiến và hai nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, Hoàng Trần Cương, sang Dallas tham dự hội thảo về chủ nghĩa Cổ điển tự nhiên (Natural Classicism) – cách gọi của Turner cho chủ nghĩa Tân cổ điển. Tôi đồ rằng chả ít thì nhiều giáo sư-thi sĩ Turner có ý “gạ” giáo sư Hiến cùng nhị thi sĩ Kha, Cương mở trường thơ Cổ điển tự nhiên ở Việt Nam. Tại sao không? Lại nhớ thần tượng của cao trào Beat, chàng hipster phản chiến A. Ginsberg chỉ giang hồ vặt quá giang Sè Gòong, đâu như có ngồi (bệt xuống cỏ) thiền ở đường Catinat, thế rồi 35 năm sau tại đó nảy ra nhóm... Mở Miệng! Nay, giáo chủ Fred có hẳn cả tuần thăm thú gần khắp nước Nam, hội ngộ bạn thơ bạn sách Việt, ắt là xứ ta trước sau cũng dính phải thi đạo “Cái đẹp trở lại”.
@4.2.3
Văn đàn Âu-Mỹ chừng một phần tư thế kỷ nay như là hổng có trường phái nào “cầm micro”? Và sẽ còn thế nửa thế kỷ nữa cũng nên! Lý do: Tri thức và cảm thức loài người - dồn đống về xứ Cờ Hoa - ở kỷ nguyên a-còng cóc cần triết học, tư trào – đúng ra là các thứ triết lý thuần khiết – như trước. Mà thi ca là triết học cất cánh, bay vào hoặc bay ra trái tim người.
Văn hóa nào thì cũng có thơ ca làm tinh hoa. Từ lâu chúng ta thường an phận văn hóa Việt không có luận thuyết theo quan niệm Tây phương. Trong bốn nhóm-trường thơ Việt Nam xứng danh mà tôi thử đề xuất – đó là: nhóm thơ Bình Định/trường thơ Loạn, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, nhóm Dạ Đài và nhóm Tân hình thức, thiển nghĩ rằng, nhóm Xuân Thu Nhã Tập   đến nay duy nhất có lý thuyết thơ hài-hòa-Đông-Tây và thực hành đủ thuyết phục về chất-thơ; thế nhưng trên thực tế vẫn bị xem là không thành quả. Trái thơ Xuân Thu Nhã Tập hậu thế khó ăn nổi, chỉ nên ngắm và tôn thờ.
Cao vọng nơi chúng tôi là sắp có được một bài, ra tấm ra miếng, về một số khởi xướng, tìm hiểu và thử nghiệm cách thức làm thơ Việt trong mười năm qua, chưa/không được trở thành “trường phái” hoặc trở nên có lý luận của một số tác giả độc lập, như “Lý thuyết Cấu” của nhà thơ Khải Minh, các phương pháp, kỹ thuật mới như “Thơ phụ âm” của nhà thơ Đặng Thân, “Thơ thực hiện” của nhà thơ Nguyễn Tôn Hiệt, và của một vài nhà thơ khác mà hầu hết đều chuyên chở các yếu tố Hậu hiện đại. “Nhà truyền bá” Inrasara đã phát hỏa được hai bài rồi! Đây là công trình thậm nhớn không đùa dai được đâu mong được các tác giả liên hệ và những phê bình nghiên cứu gia quan tâm cùng nâng mouse dzô dzô dzô chăm phần chăm em thơ ơi tất cả vì một nền thi ca việt ta tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc mà vỡn có tính chủ thuyết như tây!
Gạn thơ đục, khơi thơ trong! Đánh thơ (dơ) chạy đi, không ai đánh thơ (sạch) chạy lại! Tôi luôn trông vọng vào nhóm Mở Miệng và nhóm Tân hình thức. Cầu phúc nhị thi phái Việt bội thu trong những năm cuối cùng. Các trường phái văn nghệ sinh ra là để... chết. Chết khi hết trò. Và lưu lại trên sân sáng tạo của ngôi nhà nhân loại một viên gạch của riêng mình.
Chúng ta cần có chương trình nghiên cứu hệ thống và thực dụng về các hướng đi mới-lạ-khác của thơ ca Việt Nam mà trước đây nó chưa đi hết, đến nay nó chưa đi tới.

Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam – nếu có thể gọi như vậy – đặc sắc và Việt tính! Đó không là một tập hợp có chủ định, có đường hướng của nhóm các thi sĩ chung phương pháp, quan niệm theo một nhóm phái thông thường. Đó là phản ứng dây chuyền sáng tạo“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” có ý thức của từng nghệ sĩ hòa cùng cảm xúc tráng ca của đất nước và sử thi của dân tộc trong một thời đại bi hùng của nhân loại. Qua thập niên đầu  thế kỷ 21, con sông trường ca Việt hiện đại ấy cũng trở mình theo tâm thức chung của văn học Việt Nam và thế giới, từ thể tài, cấu trúc đến giọng điệu, ngôn ngữ. Và, lẽ tự nhiên, đã có không ít biểu hiện của trường ca Việt mang gương mặt Hậu hiện đại.



@4.2.4
Còn một đứa con hoành tráng của đại gia đình thơ Việt mà như là chưa ai gọi nó thành danh, định nó nên vị: Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam! Vị nào đang bổ sung, hiệu đính tự điển văn học Việt cũng như văn học thế giới, xin cứ điền ẩu danh vị đó vô dùm. Hy vọng sẽ tỏ tường hơn sau khi coi bài tổng quan (đang là bản thảo) “Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức trường ca Việt” của cùng người viết.
Bật mí tí tẹo: Thống kê sơ bộ (ắt còn thiếu sót, vì mới theo 2 nguồn là tự sưu tập và lượm từ tư liệu văn học trên trang mạng Hội Nhà văn Việt Nam hoinhavanvietnam.vn), danh sách tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam nêu trong bản thảo trên cho thấy, từ thời Thơ Mới tới nay – ngày 30 tháng 12 năm 2009 tính theo giờ Vancouver, đã có 98 thi sĩ Việt (nhưng chỉ nhõn 02 nữ sĩ thôi!) đã viết ít nhất một trường ca (hoặc một bài thơ dài có ý nghĩa tương đương.) Sau bài này, nếu được thêm thông tin, con số 98 nhảy lên 108 mấy hồi. Thế là quân ta có An Nam trường ca gia Lương Sơn Bạc rồi!
Bật mí tí ti: Mấy bữa nữa, trong ngày 6/1/2010, bên xế cổng Hà Thành bốn ngàn năm văn vật (vã), sát bến nước Tây Hồ từng có cô em bán chiếu von làm mềm lòng một thi bá đương thời sau trở thành thi hào tầm thế giới, kẻ hèn này tính sẽ nâng bằng cả hai bàn tay đủ mười ngón ngắn dài lên Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài đôi nhời sau đây:
“Xin mạnh dạn đề nghị Hội nghị hãy lưu tâm một đề tài xứng đáng làm vùng sáng trong thơ Việt, cần được thể hiện trên văn đàn quốc tế. Đó là trào lưu trường ca Việt Nam! 
Quan niệm rằng, thể loại như một thi pháp, cảm hứng chủ đạo như một phương pháp, chúng tôi chia sẻ cùng nhận định của nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn  , “về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 20 đến giờ”.
Đội ngũ các nhà trường ca Việt đó từng có cả một “trung đội” lừng danh từ những năm tháng khói lửa chiến tranh 1962-1975 và sau đó vài năm là Thu Bồn và Thanh Thảo, là Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh, là Anh Ngọc và Nguyễn Đức Mậu... được nối tiếp tới thời hậu chiến là những Trần Mạnh Hảo và Thi Hoàng, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Trần Cương, Trần Anh Thái và Nguyễn Quang Thiều... Còn Trần Dần và Lê Đạt - hai tác giả quan trọng khác của trường ca Việt - thì đã đưa thể loại văn học ngoại cỡ này tới tầm kích lạ lẫm về ngôn từ và sâu sắc về nhân sinh. Ở ngoài nước, ít ỏi không thành phong trào, nhưng cũng có các tác giả với những đóng góp thay đổi cần thiết về cả hình thức, cấu tứ lẫn nội dung, cảm hứng của trường ca Việt; đó là Du Tử Lê và Cao Đông Khánh, là Trần Nghi Hoàng và Đỗ Quyên.
Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam – nếu có thể gọi như vậy – đặc sắc và Việt tính! Đó không là một tập hợp có chủ định, có đường hướng của nhóm các thi sĩ chung phương pháp, quan niệm theo một nhóm phái thông thường. Đó là phản ứng dây chuyền sáng tạo“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” có ý thức của từng nghệ sĩ hòa cùng cảm xúc tráng ca của đất nước và sử thi của dân tộc trong một thời đại bi hùng của nhân loại. Qua thập niên đầu  thế kỷ 21, con sông trường ca Việt hiện đại ấy cũng trở mình theo tâm thức chung của văn học Việt Nam và thế giới, từ thể tài, cấu trúc đến giọng điệu, ngôn ngữ. Và, lẽ tự nhiên, đã có không ít biểu hiện của trường ca Việt mang gương mặt Hậu hiện đại.

@4.3 
@4.3.1
Đồng ý 80% với ý đầu tiên ở Mục @0 về Mở Miệng: đây là điều cần thiết về nhóm thơ này ở vị thế của họ trong các trường thơ nhóm bút Việt. Xin viết lại: “...lịch sử văn hóa của thơ ca Việt đương đại”. Và nhái: “Nhóm này đang lùi dần vào bóng mình!”
Về thi hứng, Mở Miệng thường viết bằng gương (rộn ràng rối rít rềnh rang lo trình diễn!), chứ không phải bằng búa, như từng ôm vọng. “Thơ một vần” của họ Bùi thì viết bằng búa! Mới đọc 15-16 bài (trên talawas.org, và vài tuần nay damau.org đang đăng dần dần kèm bản dịch Anh ngữ của nhà thơ Lê Đình Nhất Lang), thấy có bút pháp độc sáng, ý tưởng mới, hình tượng lạ, câu chắt chữ lọc; nhưng khai triển cấu tứ lỏng lẻo, bực nhất là bị hụt hẫng. Một vài bài xuất sắc. Không ít bài hơi đuối trong vị thế một-bài-thơ-riêng-lẻ, có lẽ do: a) Tác giả chăm chăm vào ẩn ức thời cuộc (độc quyền, biên giới, biểu tình) như là cảm hứng chủ đạo kiểu ăn thua đủ; b) Thời kỳ quá độ tiến thẳng lên thơ tự do hài hước kinh qua giai đoạn lãng mạn về thi pháp và niêm luật về thể loại của tác giả quá ngắn chưa đủ thâm hậu thì đã ào ào như ba dòng thác vào các thể dạng hậu hiện đại không-làm-thơ nay trở về làm-thơ tất nhiên là chưa thể chỉn chu ngay được mở ngoặc trong tập 26 nhà thơ việt nam đương đại nói trên bè lũ mở miệng có tới ba tên lận mà trong đó bùi chát là tay được ban biên tập dễ dàng đồng thuận nhứt ai cũng thích câu tôi-đã-quăng-cái-tát-lên-trời đóng ngoặc. Tập “Thơ một vần”, trong một số chi tiết và tâm trạng chung, vẫn có yếu tố Hậu hiện đại (độ giễu nhại đằm thắm hơn, liên văn bản thưa, trúng hơn: “Cây kim giấu kín trong bọc vải / Lâu ngày cũng thành thơ”... “Gió chiều nào / Ta tào lao chiều ấy” (Bài “Khó thấy”). Chưa được đọc cả tập thơ, chưa nên bàn loạn nhiều. Hãy đợi đấy! Coi kìa, cái mới nhất vừa được mở ra trên damau.org, bài “Cũng như em, tôi không hát một mình”: Không chê được mà rất khó khen. Bình: So với các bài thơ trước, nó trọn vẹn hơn hẳn; Thanh thoát trong cái trăn trở trách nhiệm công dân: “Dưới lớp da nạm vàng / Có thể gãi thứ mình muốn ngứa?” Ở thân phận nghệ sĩ, Bùy-Trát vừa gãi vừa cãi lại Chỵnh-Kông-Xơn.

@4.3.2
Mở Miệng chưa, và chắc là không, phải là nhóm thơ theo nghĩa cùng thi pháp, khuynh hướng sáng tác; Cái trọng là chung mục đích “không-làm-thơ”: chung quan điểm chính trị về thi ca, nghệ thuật. Đó là nhân sinh quan của các nhóm viên, qua văn bản chữ nghĩa quả thật họ đã Không-Làm-Ra-Thơ! “Thơ một vần” của Bùi Chát mới là thơ. Tổng thể, như nhóm Beat ở Mỹ, Mở Miệng gần giống một "văn hoá nhóm” (“subculture”) chứ không thuần túy là nhóm văn chương. Các bạn ấy có thể đi xa nữa – không chừng xa như Beat chứ chả bỡn, nếu và chỉ nếu trong “quân khu Mở Miệng” có tướng lãnh như Jack Kerouac, Allen Ginsberg về (thi) tài và (thi) chí. Điều kiện xã hội, ý thức và hành động phản ứng, trong môi trường Việt Nam như 10 năm qua và có lẽ 10 năm nữa, phù hợp với các "văn hoá nhóm”.

@4.3.3
Quan hệ giữa Mở Miệng và Hậu hiện đại: 4 năm trước, trên tienve.org, tôi có bài nửa ong (văn) nửa bướm (thơ)  . Bữa nay cho nói kiểu “cong ăn cong thẳng ăn thẳng” (của trò đánh đáo lỗ ngày xưa) nhé, phải quấy gì cũng là lẻ tẻ tạo dzui dzẻ mới thành văn vẻ.
Mở Miệng chỉ mới có điều kiện cần (tâm thức Hậu hiện đại đè nặng trong phản ứng thời cuộc, chính trị) và chưa đủ cho sáng tạo thật-văn-học. Nếu đó là phản ứng Hậu hiện đại của xã hội và văn hóa thì dám cá rằng các vị ấy sẽ thành quả hơn nhiều (mặc dù tâm thức đó vẫn là điều kiện cần.) Đông Tây kim cổ, trên đấu trường văn chương và chánh trị, số tác giả là anh hùng, liệt sĩ chiếm tuyệt đại đa số, cực hiếm người xứng danh thi sĩ: Mở Miệng và Bùi Chát chỉ là ví dụ nhãn tiền của một trong những đấu trường sáng tỏ nhất - đó là nền văn học Việt Nam.
Còn nữa: Trong khuynh hướng Hậu hiện đại, không có điều kiện cần và đủ cho bất kỳ cây viết nào. Nó cồng kềnh nhất và rắm rối nhất trong tất cả các chủ nghĩa, trào lưu văn hóa-văn nghệ từng có của loài người cũng vì thế chăng?
Chưa hết: Phong cách và thủ pháp, chứ chưa nói thi pháp (Hậu hiện đại không có thi pháp vì không là trường phái!) của các tay viết trong Mở Miệng chưa tạo ra cơm chín tới  (lại ham ăn với cải ngồng non ưa chọc gái một con) mà cũng chẳng là bò tái (chanh chẳng hạn). Quá sành quá rành thủ thuật và kỹ xảo Hậu hiện đại, quý vị ấy đã hiếp dâm lộ liễu và gây thương tổn bút pháp và kỹ thuật Hậu hiện đại, khiến độc giả không nhận ra tính “giao hợp” của sự “hiếp”, chỉ thấy độ “dâm” của hành vi! Hổng phải là quan tòa trong Vương quốc Thi ca, chúng tui đâu kết tội “hiếp dâm” đó. Nếu quả thực dẻo mỏ bô trai dai sức, quý vị ấy vẫn có thể (dẫu sai về đạo đức) bịt mắt pháp luật Vương quốc Thi ca mà dụ khị gái một con Hậu hiện đại cơ mà?
Các sáng tác ở Mở Miệng, hầu hết, chưa lọt vào kích thước cần thiết của nghệ thuật. Tuyên ngôn chúng-tôi-không-làm-thơ đã được thực thi! Bravo! Thiên địa chẳng thể hiểu được triết lý đó, và cứ hoài công quất roi phê bình lên con ngựa văn chương vân cẩu rong ruổi trên nóc La Hán Phòng. Ô hô!
Chậc! Nói nặng nhời vậy thôi. Về các bạn (vẻ như không thích “ăn” không thích “nói” không thích “gói” chỉ) thích “mở” ấy, hữu hảo hơn nên chăng nhìn nhận, như tiến sĩ kiêm thi sĩ Nguyễn Thị Từ Huy, vào năm 2004  : “(...) tôi liên tưởng tới hiện tượng thơ dơ của nhóm Mở Miệng. Trong khi tiếp tục đòi hỏi cao hơn nữa (đòi hỏi chính là biểu hiện của niềm tin) ở Lý Đợi, Bùi Chát và các nhà thơ cùng khuynh hướng, chúng ta cần đánh giá những nỗ lực của họ bằng một cái nhìn vượt lên mọi thiên kiến, dù là thiên kiến đạo đức, chính trị, tôn giáo, xã hội hay nghệ thuật.”

@4.4

Việt Nam trong và ngoài - từ 20-30 năm nay, cả trước thời Đổi mới, đã có nhiều nhóm bạn văn chương. (Ở miền Nam  trước 1975thì “đông như quân Nguyên”!) Có điều đa phần không chính danh, bất thành danh nhưng văn giới vẫn biết ảnh hưởng của nhóm đến sáng tác, tác phẩm. Tỉ như nhóm bạn Dương Tường, Châu Diên, Bùi Ngọc Tấn, v.v...; nhóm bạn Đỗ Minh Tuấn, Dương Tất Thắng, v.v...; nhóm bạn Nguyễn Thụy Kha... Có không ít các tập hợp văn nghệ mang tính địa phương như nhóm Sông Hàn với phương châm chính trị, báo chí rõ ràng và tuổi thọ dài lâu; nhóm Việt Thường (ở Montréal) có mục đích văn học và cộng đồng; hay nhóm thơ Hoa Lạ của một số sinh viên mà hiện đã là các tác giả có tiếng vang như Nguyễn Vĩnh Tiến, Lưu Sơn Minh... Chưa bàn đến các nhóm hình thành để trực/gián tiếp làm sách, báo chí, web như các nhóm đã, đang (đi) qua đời (tôi) như Trăm Con, Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, Hội Luận Văn Học; các nhóm đang còn như Người Việt Hải Ngoại, talawas, Tiền Vệ, Thư Quán Bản Thảo, Văn Chương Việt, Ăn Mày Văn Chương, và trẻ nhất có lẽ là Da Màu (cũng đã 3 năm). Hay trước-sau 1945 là các nhóm học thuật-tư tưởng-văn nghệ như Hàn Thuyên, Tri Tân, Thanh Nghị, Lê Quý Đôn... Cũng nằm ngoài nội dung ở đây là các nhóm làm tạp chí văn nghệ ở miền Nam trước 1975 như Trình Bày, Bách Khoa, Vấn Đề, Ý Thức... cùng hai “siêu nhóm” Tự Lực Văn Đoàn và Nhân văn-Giai phẩm, vì tầm vĩ mô ngoài văn (vẻ) ngoài thơ (thẩn) của họ! Và cũng nên tự thú với nhau rằng, các bè nhóm văn nghệ “làng Vũ Đại quê ta” (dù có ra tới làng toàn cầu biển nhân loại vẫn rứa) đa phần rất cừ về tính cục bộ khi cần bảo vệ mình (trước cường quyền, và nhất là trước các phe nhóm khác) so với việc học thuật, sáng tác...
Không ít độc giả đang cảm thấy trống thiếu điều gì ở hồn vía của đề tài? Thưa vâng!

Ấn tượng nhất, với sự vụt sáng bứt phá, là nhóm Ngựa Trời   với 5 nữ sĩ Sài Thành (Thanh Xuân, Phương Lan, Khương Hà, Nguyệt Phạm, Lynh Bacardi) xuất hiện hồi 2005 trở thành hiện tượng đầu tiên giữa các sân chơi văn học Việt mang tính tập thể của ý thức nữ quyền trong tham vọng cách tân nghệ thuật thơ.
Là tiếng chuông chót, chúng ta hãy dành sự vinh danh cuối cùng tới nhóm Ô Thước và trang mạng Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng với chủ trì kiêm chủ biên là nhà văn Phạm Chi Lan. Đây đích xác từng là địa chỉ liên mạng có tính “khuôn viên văn nghệ” duy nhất cho đến nay và, ở chừng mực nào đó, là tốt lành nhất và thi sĩ nhất mà sinh hoạt văn học-nghệ thuật Việt Nam đương đại đạt được trong 15 năm qua, từ khi có mailing list, web, blog. Dịp kỷ niệm một tháng ngày Phạm Chi Lan bỏ văn thơ bỏ chúng bạn ra đi vĩnh viễn (21-9-2009) và kho trữ liệu trang mạng vanhocnghethuat.org (1995-2004) được phục hồi đã là những ngày hội buồn vui để văn hữu khắp nơi, từ trong ra ngoài nước Việt, cùng trở về thăm sân chơi văn học từng tỏa sáng một thời, cùng ghi nhận và cảm phục tài đức của một người bạn gái hết đời vì tình chữ nghĩa trong tình bằng hữu.

Sau nhóm Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, trên văn đàn Việt người ta vẫn chưa thấy các “poets circle”, các salon văn nghệ liên mạng nào khác. Cả ở trong lẫn ngoài nước. Trong sự bất hoàn đó, tính đến nay, ở các địa chỉ văn học, riêng tôi thấy rằng, về Web cá nhân/nhóm: hai nơi với comment trực tiếp khả ái nhất là lethieunhon.com (của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn) và damau.org (nhóm tạp chí mạng Da Màu); Blog nhóm/cá nhân có tính cộng đồng: có được hai chốn ngon lành là hoiluan.vanhocvietnam.org và litviet.com thì đều đang “chết lâm sàng” và chắc ngỏm củ tỏi mất thôi; Blog cá nhân: không lướt mạng nhiều tôi mới “chấm” được ba cái (dịch giả Cao Việt Dũng / Nhị Linh, nhà văn Nguyễn Quang Lập / Quê Choa, và nhà văn Trang Hạ.) Một địa chỉ thực sự bàn thảo luận điểm và sinh hoạt văn chương cần có gia chủ không chỉ văn tài đủ cao quan hệ vừa rộng mà còn - khó hơn  - công phu lái tránh các dòng chảy nhận định cá nhân hoặc thù tạc, nhất là nịnh khéo khen thơm nhau. Khó! Khó hơn Ngu Công chuyển núi.

Văn giới Việt đang tung mở. Thi hứng Việt đang bung nở.
Nếu chưa có được các nhóm nhà thơ, các câu lạc bộ văn học mạng (hay không mạng) thứ thiệt thì văn nhân Việt đương đại quả là chưa biết cách hiện đại hóa một dân tộc thi sĩ, một đất nước thơ ca.
Như vẫn còn đó một làng thơ, giữa thời a-còng...

Vancouver, 20-11-2009 (Tu chỉnh: 30-12-2009)

 

Các bài khác:
· "BÙI GIÁNG ĐIÊN VÌ ÔNG QUÁ TỈNH"
· MAI BÁ ẤN VÀ "THỊ TRƯỜNG LỤC BÁT"
· PHÊ BÌNH CŨNG CẦN TẠO... KHOÁI CẢM
· 10 SỰ KIỆN VĂN HÓA-VĂN NGHỆ NĂM 2009
· LÂM THỊ MỸ DẠ TIN VÀO SỰ SẮP ĐẶT CỦA SỐ MỆNH
· TRẦN ĐĂNG KHOA - "VIẾT ĐỂ AI CŨNG ĐỌC ĐƯỢC"
· CUỘC GẶP GỠ ĐẦU TIÊN VÀ CUỐI CÙNG VỚI TẾ HANH
· NGUYỄN NHƯỢC PHÁP - THI SĨ TÀI HOA MỆNH YỂU
· VĂN CAO VÀ PHẠM DUY - TIÊN CẢNH VÀ TRẦN GIAN
· NHÌN THẤY CÁI CHẤM NHỎ VIỆT NAM TRÊN BẢN ĐỒ VĂN HỌC THẾ GIỚI
· NHÀ VĂN CHU LAI - LẤY VỢ NHỜ MỘT... CÂU THƠ
· NGHIỆN THƠ
· GỬI MỘT NHÀ THƠ VIỆT ĐANG CÓ MẶT Ở NEW YORK
· TRUNG TRUNG ĐỈNH - KẺ "LẠC RỪNG" HỒN NHIÊN
· NGUYÊN NGỌC QUA MẮT NHÌN TRẦN ĐĂNG KHOA
· ĐÊM CUỐI NGUYỄN XUÂN HOÀNG
· NHÀ VĂN XUÂN THỤ: NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA TỒN TẠI
· BẢN DỊCH "TRYỆN KIỀU" NÀO HAY NHẤT?
· THÁNG CHẠP QUAY NGHIÊNG NHỚ BỬU CHỈ
· NGUYỄN DUY, THI SĨ THẢO DÂN

 

  
Gia đình Bích Khê