DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TẠ DUY ANH VÀ GIẤC MƠ KỲ LẠ TRONG PHÒNG SẢN PHỤ

                                                                                                                                                    Tạ Duy Anh

 

 

 
Vợ tôi có thai được 6 tháng thì tôi bị chảy máu dạ dày, phải đi viện Đống Đa. Vết loét không sâu nên sau 10 ngày thì tôi ra viện, người gầy như que củi. Nhiều người không nói ra nhưng tỏ ý giận tôi vì không nghe họ. Làm ngày làm đêm thì chưa thủng dạ dày là may. Khỏi ngày nào tôi lao vào cày ngày ấy. Khi vợ tôi bảo có hiện tượng trở dạ muốn vào viện, thì trong túi tôi chỉ có 1.300.000 đồng.Vậy mà chả hiểu sao tôi không hề cảm thấy lo lắng. Đêm đầu tiên ở lại trong khoa sản bệnh viện Bạch Mai chờ vợ đẻ, tôi cứ ngồi hết chỗ này đến chỗ khác, nhìn những bà chửa khệ nệ đi lại, trong đó có vợ mình. Khoảng 10 giờ, tôi gặp một bà hộ lý đi từ phòng sản phụ ra. Tôi chỉ kịp thấy bà nhỏ nhắn, mặt nhẹ nhõm và bà cứ nhìn tôi. Lúc đó vợ tôi đang đi đi lại lại. Bỗng bà đến bên tôi hỏi nhỏ:“Đưa vợ đi đẻ à?”.Tôi đáp cho qua: “Vâng ạ”. “ Nó kia à?” bà hướng về phía vợ tôi. Tôi lại hờ hững đáp: Vâng!” Thú thực trong thâm tâm tôi nghĩ chắc bà hộ lý này lại mời dịch vụ gì đây...




Mơ gặp bà nội trong phòng sản phụ



Mặc dù có nhiều điều kỳ lạ xảy ra với tôi thông qua những giấc mơ nhưng tôi chưa bị ám ảnh bởi nó như một bí mật. Giải thích đơn giản và dễ làm hài lòng nhất là gán cho nó sự ngẫu nhiên. Thiếu gì sự trùng hợp ngẫu nhiên còn kinh ngạc hơn mà nhân loại đã từng biết đến. Nếu nhớ rằng mỗi sự kiện xảy ra với người này hoàn toàn có thể xảy ra với người khác trong cùng một thời điểm, thì không khó gì giải thích vì sao tôi lại nằm mơ thấy cái điều chưa xảy ra. Tức là cũng có hàng trăm người mơ giống tôi nhưng chẳng liên quan gì đến một sự kiện trọng đại nào gắn với họ ngay ngày hôm sau cả. Họ sẽ tỉnh dậy và nhớ rằng mình cómơ thấy cảnh cỗ đám, có căng rạp trong một vườn cây ăn quả, khá đông người đi lại trong đó có cả người khóc người cười. Rồi họ bỗng cười phá lên tự nhạo mình. Một giấc mơ hoàn toàn vô nghĩa, ít ra là với họ. Về phần mình, cho tới lúc ấy, về cơ bản tôi vẫn tin vào những lý lẽ đơn giản nhưng rất khó bác bỏ của cha tôi. Khó bác bỏ không phải vì ông chặt chẽ trong lý luận. Ông coi khinh mọi lý luận mà chỉ tin vào thực chứng. Sự bí ẩn là thứ dễ bị đánh bại nhất bởi chủ nghĩa thực chứng. Thứ gì không nhìn thấy, không sờ thấy, không ngửi thấy tức là không có, không hiện diện, do bịa đặt vì một động cơ nào đó.

Bám chắc vào lập luận ấy, cha tôi khiến đối thủ tức phát điên mà không làm gì được ông. Đâu, hãy đưa cái điều anh tin là có thật ra đây cho tôi xem. Không đưa được à, vậy thì là láo toét, bịp bợm. Làm sao đưa cho ông xem được giấc mơ, càng không thể chỉ cho ông thấy cái thứ gọi là linh hồn. Tất cả chỉ là huyễn tưởng, bệnh hoạn. Anh trai tôi giờ đây vẫn là một người như vậy. Nhưng cũng phải đến một lúc nào đó tôi mới nhận ra rằng, có rất nhiều điều không nên chứng minh với bất cứ ai, bắt họ phải tin. Có rất nhiều điều chỉ nên mình anh biết, mình anh tin là đủ. Bởi vì nếu anh từng tự hỏi rằng, tại sao điều đó chỉ xảy ra với anh mà không với người khác, thì sớm muộn gì anh cũng sẽ tìm ra câu trả lời. Và hoá ra nó rất đơn giản: Đó có thể là bí ẩn lớn nhất, thú vị nhất, công bằng nhất của Tạo hoá. Hãy giả định bất cứ ai cũng như anh thì còn gì là mầu nhiệm nữa? Cũng chẳng còn bất cứ ham thích sáng tạo, khám phá nào. Chính vì thế mà những gì tôi sắp kể hoàn toàn chỉ là kể lại một sự thật xảy ra với tôi, với riêng tôi, chỉ đúng với tôi. Nó không định mời gọi những tranh luận theo kiểu tìm ra đáp số chung. Đã là bí ẩn thì không có đáp số chung, hoặc nếu có thì chính tôi cũng không biết nó nằm ở đâu. Vì nó chỉ xảy ra một cách đơn nhất tôi tin như vậy nên sẽ chẳng có ích cho bất cứ sự so sánh nào. Nếu ai đó cũng thấy hiện tượng tương tự từng xảy ra với mình, thì nội dung và thông điệp chứa đựng trong đó vẫn hoàn toàn khác hẳn.
Bây giờ tôi xin vào chuyện:

Đầu năm 1994, khi đang còn làm hợp đồng ở Trường viết văn Nguyễn Du tôi mua chịu một căn nhà ở Tân Mai và cuối năm ấy đón vợ và con gái tôi từ Cao Bằng xuống. Khi mọi việc đã xong xuôi, tôi mới nhớ đến lời của một anh bạn kỹ sư địa chất bảo với tôi vào cuối năm 1993 rằng, trong năm 1994 nhất định tôi có nhà và đoàn tụ với vợ con. Tôi nhớ là lúc đó tôi đã cười phá lên, cười lăn cười lộn trước mặt anh. Lương hợp đồng 120.000đồng, chỉ đủ sống 10 ngày, trong khi cái nhà rẻ nhất lúc ấy cũng phải 30 triệu, tôi lấy tiền ở đâu. Hai bên nội ngoại đều nghèo xác xơ. Anh chị em ruột thì chưa ai thực sự ổn định, vẫn phải tất tả kiếm ăn từng ngày. Đúng là còn hơn chuyện tiếu lâm. Thấy tôi cười vãi cả nước mắt, anh bạn tôi có vẻ phật ý, hỏi bằng giọng khó chịu: Mày cười cái gì? Tôi thôi không cười nữa. Nhưng khi không cười thì tôi lại chỉ muốn khóc. Tôi thương con tôi chả may có một ông bố tài hèn sức mọn nên cứ phải ở trên Cao Bằng, vài tháng mới thấy mặt bố một lần. Tôi nghĩ đến vợ tôi nào có kém gì ai mà khổ với một gã chồng vừa già vừa xấu trai lại vừa nghèo. Đúng là thân gái như giọt mưa sa. Nàng là giọt mưa sa vào cái bao tải rách! Một lúc sau tôi mới ngậm ngùi bảo với anh: “Anh nói thế khác nào mỉa em. Một là ngày mai em trúng sổ số, hai là bỗng dưng trường viết văn gí vào tay em một gian nhà, ba là bất ngờ em đá phải viên gạch vồ nhưng nhìn kỹ thì lại là cục vàng, bốn là em đi ăn cướp nhà băng…thì mới có tiền để nghĩ đến một chỗ ở. Trong bốn khả năng ấy thì xem ra đi ăn cướp là hiện thực hơn cả mà em như que củi thế này, đi chả vững nói gì đến cướp!” “Đấy là cái lý của mày, thằng người trần mắt thịt. Làm sao mày biết được cách tính của thánh thần.” anh bảo tôi thế bằng giọng không hề đùa cợt. Tôi bảo anh là dù sao khi nói thế tức là anh cũng mong cho em điều tốt đẹp. Nhưng cái gì cũng phải có cơ sở của nó. “Tao không biết mày lấy tiền ở đâu, nhưng sang năm mày có nhà để đưa vợ con xuống. Nhớ lời anh mày nói đấy nhé.” Từ chỗ anh ra, tôi chỉ kể với một người và người đó đúng là cũng cười phá lên như tôi lúc trước. Sau đó tôi quên bẵng mất. Cho đến khi tôi có một căn hộ ở Tân Ma mà trong tay chỉ có đúng một chỉ vàng, số tiền dự phòng đưa vợ và con gái tôi trở lại Cao Bằng sau Tết nguyên đán. Nhưng hoá ra một chỉ vàng ấy tôi cũng không phải dùng đến.

Đúng như anh bạn tôi nói, cuối năm 1994 tôi đưa vợ và con gái xuống ở hẳn Hà Nội. Lúc ấy tôi vừa được biên chế làm giảng viên sau khi trải qua một cuộc thi công chức nên tiền lương của tôi tăng lên 400.000 đồng. Tuy vậy cũng chỉ đủ cho một nửa tháng sống, ấy là chưa kể trung bình mỗi tháng tôi còn phải trả nợ một triệu đồng tiền vay mua nhà. Rồi còn tiền học phí nghề làm đầu của vợ tôi cũng phải đi vay. Để bù lại, tôi phải làm bất cứ việc gì. Tôi đã từng qua một người quen đăng ký một chân quét rác ở chợ tạm Tân Mai, với thù lao 300.000 đồng mỗi tháng, danh nghĩa là cho vợ làm nhưng tôi định sẽ chính tôi làm. Tôi là nhà văn, có đi quét rác cũng không sao. Mà chắc gì thân phận nhà văn đã hơn một gã quét rác! Cũng coi như đi thực tế. Với lại quét về đêm nên không phải đối mặt với người quen. Tôi lại là người hay tự thích đùa mình nên mọi việc sẽ rất nhẹ nhàng. Nhưng ngay cả việc đó cũng không dễ kiếm. Chúng tôi chậm chân nên đã có người khác xí trước mất rồi. Đúng lúc vợ tôi có thể hành nghề gội đầu với hy vọng đỡ đần thêm cho tôi thì cô ấy phát hiện ra mình có thai. Khi nghe vợ thông báo, tôi không mừng nhưng cũng không hề phiền lòng. Vợ tôi bảo tôi, cứ thong thả, để cô ấy kiểm tra lại rồi sẽ tính. Vì phải thức đêm viết báo nên bệnh dạ dày của tôi bị từ hồi còn trong quân ngũ, từng xuất huyết hai lần, lại có dịp phát tác. Tôi gầy ốm tong teo, y như một cái mắc áo di động. Đó là lý do mà khi biết chắc chắn vợ tôi có thai, đa số bạn bè khuyên tôi không nên để. Tức là bỏ nó đi, chờ khi nào sức khoẻ tốt, kinh tế khá giả hơn thì hẵng tính đến chuyện đẻ tiếp. Những lời khuyên ấy đều hết sức chân thành, đều do thương tôi. Thậm chí có người còn bảo: “Bây giờ giải quyết đơn giản lắm, vừa mới bị, chỉ 15 phút là xong”. Tôi làm sao lại không biết điều đó cơ chứ. Tôi còn biết kỹ hơn họ vì tôi đã từng đọc những tài liệu loại ấy từ rất sớm, do tò mò và cũng là để phục vụ việc viết lách. (Bạn đọc có thể kiểm chứng điều đó qua tác phẩm “Thiên thần sám hối” của tôi. Bác sỹ Nguyễn Đức Phước đồng thời là nhà thơ, tận Đồng Nai, sau khi đọc xong “Thiên thần sám hối”, nhắn tin cho tôi: “Bác có là bác sỹ đâu mà bác nắm vững về kiến thức sinh đẻ thế, viết rất chính xác, hơn đứt nhiều bác sỹ thật”. Có lẽ là Phước động viên tôi. Nhưng đúng là tôi không định chạm đến cái gì mới đi tìm đọc như một số người. Tức là từ năm 1996, tôi đã biết nhiều điều về chuyện sinh đẻ, hút điều hoà, nạo thai…). Tôi biết rằng chỉ cần đưa vợ tôi đi một lúc là mọi chuyện lại đâu vào đấy. Bản thân vợ tôi cũng không biết phải quyết định thế nào. Cô ấy chỉ chờ ý kiến của tôi. Nhưng tôi chưa định nói gì. Không chờ được do sợ già ngày mới đi hút sẽ nguy hiểm, cô ấy hỏi tôi nên thế nào, thì tôi đáp: “Còn thế nào nữa, chửa thì đẻ. Anh thích có một đứa nữa”. Được lời như cởi tấm lòng, vợ tôi bấy giờ mới bộc bạch: “Em cũng  như vậy”.

Thế là chúng tôi quyết định giữ cái thai lại. Việc đó đồng nghĩa với việc vợ tôi không tiếp tục làm đầu nữa, vì sợ ngày nào cũng tiếp xúc với thuốc ảnh hưởng đến thai nhi. Những đồ nghề tôi vay tiền của nhà thơ Dương Thuấn để mua, mới sử dụng được chưa đầy 2 tháng, nay phải xếp vào xó. Có những thứ tôi dùng cho đến tận bây giờ, sau 12 năm, là do mua để phục vụ vợ tôi mở hiệu làm đầu. Vợ tôi có thai được 6 tháng thì tôi bị chảy máu dạ dày, phải đi viện Đống Đa. Vết loét không sâu nên sau 10 ngày thì tôi ra viện, người gầy như que củi. Nhiều người không nói ra nhưng tỏ ý giận tôi vì không nghe họ. Làm ngày làm đêm thì chưa thủng dạ dày là may. Khỏi ngày nào tôi lao vào cày ngày ấy. Khi vợ tôi bảo có hiện tượng trở dạ muốn vào viện, thì trong túi tôi chỉ có 1.300.000 đồng.Vậy mà chả hiểu sao tôi không hề cảm thấy lo lắng. Đêm đầu tiên ở lại trong khoa sản bệnh viện Bạch Mai chờ vợ đẻ, tôi cứ ngồi hết chỗ này đến chỗ khác, nhìn những bà chửa khệ nệ đi lại, trong đó có vợ mình. Khoảng 10 giờ, tôi gặp một bà hộ lý đi từ phòng sản phụ ra. Tôi chỉ kịp thấy bà nhỏ nhắn, mặt nhẹ nhõm và bà cứ nhìn tôi. Lúc đó vợ tôi đang đi đi lại lại. Bỗng bà đến bên tôi hỏi nhỏ:“Đưa vợ đi đẻ à?”.Tôi đáp cho qua: “Vâng ạ”. “ Nó kia à?” bà hướng về phía vợ tôi. Tôi lại hờ hững đáp: Vâng!” Thú thực trong thâm tâm tôi nghĩ chắc bà hộ lý này lại mời dịch vụ gì đây. Vì thế khi bà quay lại phòng sản phụ rồi trở ra ngay, tôi không có hứng thú theo dõi xem bà làm gì. Chợt bà vẫy tôi bảo: “lại đây”. Tôi và vợ tôi theo bà vào phòng sản phụ. Bà chỉ cho tôi chiếc giường bỏ không, bảo: “Cho vợ chồng mày vào đấy mà ngồi tạm. Nếu không có ai đẻ thì cứ ngủ luôn, qua đêm. Nhớ mắc màn vào kẻo muỗi nó đốt và kẻo ai đó phát hiện ra cái bụng trống kia. Bởi vì giường trong phòng này chỉ dành cho người đẻ rồi. Hiểu không?” Tôi cảm ơn bà trong sự hối hận vì đã trót nghĩ xấu về bà. Tôi mắc màn như lời dặn của bà hộ lý. Vợ tôi ngồi tựa lưng vào thành giường, còn tôi nằm đổi đầu, ngay phía chân vợ. Xung quanh tôi tiếng trẻ sơ sinh khóc choe choé, tiếng những bà sản phụ rên la vì đau, tiếng rì rầm của những người đến trông bệnh nhân, tiếng xé vải, tiếng lau chùi… nghĩa là đủ thứ âm thanh không hề dễ chịu tí nào. Thêm vào đó là mùi máu, mùi băng gạc, mùi thuốc tẩy… cũng kinh hãi không kém. Vậy mà chả hiểu sao tôi lại có thể ngủ ngon lành trong cái căn phòng dành cho người đẻ ấy mới thật kỳ lạ. Đúng ra tôi đặt người xuống là lỉm ngay.

Nửa đêm tôi choàng tỉnh dậy, ngơ ngác không hiểu mình đang ở đâu mà lắm người đến thế. Tôi thấy vợ vẫn nửa nằm nửa ngồi, miệng xoa xuýt khe khẽ, mặt nhăn nhó, mới nhớ ra là mình đang trong buồng sản phụ. Cô ấy cười như mếu: “Sao mà em phục anh thế, ngủ ngon như ở nhà mình, chẳng còn biết vợ đau đớn ra sao”. Đáp lại lời vợ, tôi hớn hở kể: “Này, anh vừa nằm mơ thấy bà nội đấy. Bà ăn mặc toàn đồ lụa là vàng óng, như bà hoàng ấy. Anh hỏi bà sao bà lại đến đây, thì bà bảo, tao đến thăm vợ chồng mày. Rồi bà quay sang một cái nong to tướng, nơi có lúc nhúc một đống trẻ con đang nằm trần truồng, thò tay nhón một đứa, bấm vào dái tai kéo lên, y như xách con mèo ấy. Bà còn giơ cao cho anh xem rõ cái chim, thấy anh có vẻ ưng ý bà mới bảo con chúng mày đây nhé. Nói rồi bà thả thằng cu vào giường nhà mình em ạ, thằng cu hẳn hoi, anh còn nhìn rõ cái ngẩu của nó mà”.

Tôi kể lại cho vợ đúng những gì tôi thấy trong giấc mơ mà không hề thêm bớt. Tưởng vợ tôi sẽ phát cáu vì tôi vô tư ngủ, bỏ mặc cô ấy đau đớn một mình, bây giờ lại phải nghe tôi kể về giấc mơ hão huyền bằng thứ giọng hớn hở trong khi cô ấy thì đang đau đớn. Tôi tưởng vợ tôi phải gắt um lên: Anh thôi đi!.. nào ngờ cô ấy rất chăm chú nghe và khi tôi kết thúc thì cũng hớn hở theo, bảo: “Thế à? Vậy thì em chả việc gì phải lo nữa, đã có cụ về đỡ cho rồi”. Tôi nhặt cái quạt giấy vợ tôi vừa bỏ xuống giường, viết ngay cái tên con trai Tạ Chu Quý vào nan quạt. Vợ tôi thấy vậy cũng phải bật cười.

Từ khi tôi đưa vợ vào viện cho đến khi vợ tôi lên bàn đẻ, cả thảy ba ngày. Đã có tới 17 ca đến sau nhưng lại đẻ trước, toàn con gái. Sang ngày thứ ba vợ tôi mới được chỉ định lên bàn đẻ. Nhưng cô ấy nằm ở tư thế đẻ đã lâu mà vẫn chưa đẻ. Tôi vẫn không hề thấy lo lắng mặc dù cố làm ra vẻ như vậy cho đúng với hoàn cảnh. Thậm chí tôi còn làm một việc giống như đùa cợt là gọi điện cho anh Đắc Bái, hoạ sỹ báo Sinh viên Hoa họctrò,nhờ anh sang khu tập thể trường Công đoàn bảo cô em gái tôi xuống ngay khoa sản của bệnh viện Bạch Mai. Lát sau em gái tôi đạp xe đến. Nhìn thấy nó, tôi bảo: “Cô là con mèo (em gái tôi sinh năm 1963) xuống đuổi con chuột gan lỳ này ra giúp tôi với”. Hai anh em tôi ngồi trên chiếc ghế băng chờ. Tôi bèn kể cho em gái tôi về giấc mơ tối qua. Em gái tôi ngồi nghe nhưng không nói gì. Lát sau có tiếng trẻ khóc và có tiếng bà bác sỹ gọi: “Người nhà đâu?”. Em gái tôi nhanh nhảu chạy vào rồi hớn hở chạy ra: “Sướng nhất bác, mười điểm nhé”. Rồi nó thì thầm: “Này, dái tai thằng bé có vết tím đen như bị ai bấm vào xách lên ấy. Cái bố này mơ kinh quá!”. Lúc tôi được vào thăm con, tôi vạch tai nó xem và thấy đúng là có vết tím đen thật. Vợ tôi cũng tận mắt thấy điều này. Phải mất một tuần sau thì vết tím đen ấy mới biến mất.
 

Các bài khác:
· VÒNG VO THƠ VIỆT TỪ CẢM XÚC HẬU HIỆN ĐẠI
· "BÙI GIÁNG ĐIÊN VÌ ÔNG QUÁ TỈNH"
· MAI BÁ ẤN VÀ "THỊ TRƯỜNG LỤC BÁT"
· PHÊ BÌNH CŨNG CẦN TẠO... KHOÁI CẢM
· 10 SỰ KIỆN VĂN HÓA-VĂN NGHỆ NĂM 2009
· LÂM THỊ MỸ DẠ TIN VÀO SỰ SẮP ĐẶT CỦA SỐ MỆNH
· TRẦN ĐĂNG KHOA - "VIẾT ĐỂ AI CŨNG ĐỌC ĐƯỢC"
· CUỘC GẶP GỠ ĐẦU TIÊN VÀ CUỐI CÙNG VỚI TẾ HANH
· NGUYỄN NHƯỢC PHÁP - THI SĨ TÀI HOA MỆNH YỂU
· VĂN CAO VÀ PHẠM DUY - TIÊN CẢNH VÀ TRẦN GIAN
· NHÌN THẤY CÁI CHẤM NHỎ VIỆT NAM TRÊN BẢN ĐỒ VĂN HỌC THẾ GIỚI
· NHÀ VĂN CHU LAI - LẤY VỢ NHỜ MỘT... CÂU THƠ
· NGHIỆN THƠ
· GỬI MỘT NHÀ THƠ VIỆT ĐANG CÓ MẶT Ở NEW YORK
· TRUNG TRUNG ĐỈNH - KẺ "LẠC RỪNG" HỒN NHIÊN
· NGUYÊN NGỌC QUA MẮT NHÌN TRẦN ĐĂNG KHOA
· ĐÊM CUỐI NGUYỄN XUÂN HOÀNG
· NHÀ VĂN XUÂN THỤ: NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA TỒN TẠI
· BẢN DỊCH "TRYỆN KIỀU" NÀO HAY NHẤT?
· THÁNG CHẠP QUAY NGHIÊNG NHỚ BỬU CHỈ

 

  
Gia đình Bích Khê