Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_su8fejel9tqvj4q9asuvvi34c3, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGÔ KHA VỚI TRƯỜNG CA “NGỤ NGÔN CỦA NGƯỜI ĐÃNG TRÍ”

DIÊU LAN PHƯƠNG

Nhà thơ, nhà giáo Ngô Kha, sinh năm 1937 ở Huế, dạy ở các trường: Quốc học Huế, Hàm Nghi, Nguyễn Du, là người sáng lập và là Chủ tịch mặt trận văn hóa dân tộc miền Trung, bị chính quyền Sài Gòn bắt và thủ tiêu trong tù năm 1973. Ngoài thơ, Ngô Kha còn là một cây bút chính luận sắc xảo. Vanvn.net xin giới thiệu bài viết của tác giả Diêu Lan Phương về trường ca “Ngụ ngôn của người đãng trí” của Ngô Kha.

NGỤ NGÔN CỦA NGƯỜI ĐÃNG TRÍ

Bản trường ca siêu thực độc đáo của thi ca Việt Nam

Ngô Kha (1935 – 1973)[1] được biết đến trước hết là một trí thức, một thi sĩ dấn thân đầy nhiệt huyết của những năm 60 – khi thân phận con người đang đứng trước sự lựa chọn quyết liệt của lịch sử. Cuộc đời thăng trầm, ngắn ngủi mà nhiều biến động của Ngô Kha, cũng như của lịch sử Huế thời ấy in dấu ấn đậm nét không chỉ trong những trang tiểu sử, trong lòng bạn bè và học trò ông mà còn tỏa sáng trong những thi phẩm đặc biệt mà ông để lại. Có lẽ, không cần phải viết lại tiểu sử Ngô Kha, bởi, dù rằng ở các tuyển tập, các công trình mang tính phổ biến tên tuổi Ngô Kha còn ít được nhắc đến, nhưng với giới trí thức và đặc biệt các thi sĩ đương thời, theo quan sát của tôi, không ít người rất hâm mộ Ngô Kha; hơn nữa, mục đích của chúng tôi trong bài viết khiêm tốn này là muốn khám phá một hồn thơ và những điểm độc đáo của bản trường ca siêu thực Ngụ ngôn của người đãng trí – tác phẩm được xây đắp bởi những hoài bão, những đớn đau trước hiện thực chiến tranh, những ám ảnh vô thức, nơi “nỗi cô đơn niềm tuyệt vọng cháy sáng”.

Ngụ ngôn của người đãng trí được kiến tạo theo hình thức của chủ nghĩa siêu thực hư ảo. Chủ nghĩa siêu thực, trên cơ sở phân tâm học của Freud và thuyết trực giác của Bergson, muốn đưa lại một cách nhìn mới và chính xác về thực tế, một thực tế kết hợp giữa thực và mộng, giữa vô thức và ý thức, giữa có lý và phi lý. Và để có thể nhất thể hóa được hai thế giới, hai trạng thái ấy, các nhà siêu thực đề ra lối viết tự động và nhấn mạnh đến thế giới của hình ảnh. Lối viết tự động đưa đến sự tự do, có thể thể hiện được tính đa chiều kích của hiện thực và của thế giới tâm hồn, nó phá tan những mô hình cổ kính của vần luật. Khi không còn vần luật và những trói buộc của hình thức thì hình ảnh dường như chiếm dụng toàn bộ bài thơ, hình ảnh tạo nên và là chất thơ. Cho nên thơ siêu thực là “những va đập chói lòa của từ ngữ”, nó đánh mạnh vào trực giác và trí tưởng tượng, kết hợp với lối viết tự động, mở ra một thế giới chông chênh, nhiều đối nghịch và phi lí. Phong trào siêu thực ra đời giữa hai cuộc đại chiến, có nguyên nhân từ sự thất vọng về xã hội tư sản và nền văn minh kĩ trị phương Tây; có lẽ vì thế, đa số những nghệ sĩ khởi xướng phong trào này đều là những người dấn thân quyết liệt (như Aragon, P. Eluard…). Ở Việt Nam, chưa (không) có chủ nghĩa siêu thực nhưng ảnh hưởng và dấu ấn siêu thực thì có trên mọi phương diện, trên cả cách dấn thân của người nghệ sĩ, đặc biệt thấy rõ trong thơ văn của các thi sĩ miền Nam thời bị tạm chiếm – mà đậm đặc, tạo nên một con đường riêng là thế giới của người thơ Ngô Kha và thế giới ca từ siêu thực (cũng là những bài thơ siêu thực) của Trịnh Công Sơn.

Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí gồm khoảng 800 câu thơ, chia thành 8 phần, đánh số, không đề mục – ngay cách thức này đã khác với kiểu kết cấu của những bản trường ca đương thời, nó thể hiện dòng ý thức tuôn chảy tự do, không bị câu buộc bởi thói quen thể loại; sau này, đến Nguyễn Quang Thiều, Lê Vĩnh Tài chúng ta mới gặp lại kiểu trường ca có hình thức tự do như thế. Những câu thơ “chói sáng” dường như dẫn dắt người đọc vào mê cung của những giấc mơ và tưởng tượng. Kết cấu kiểu ngôi nhà gương, kiểu đa chiều kích, kiểu vòng tròn khiến thế giới như được phản quang từ vô số hướng. Đó cũng là vòng cung khiến người ta hoảng hốt, sợ hãi, đơn độc vô vọng. Lối viết siêu thực tự do như sông chảy rất gần với chủ nghĩa hậu hiện đại nhưng toàn bộ tác phẩm tầng tầng lớp lớp đều là một nhất thể: trận chiến đấu quyết liệt với chính mình của thi sĩ Ngô Kha.

Sự cô độc là tâm trạng chính mà Ngô Kha thể hiện trong các tác phẩm trước 1970[2]. Ở đây, nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình trải dài miên man trên cánh đồng đá đen, trên dòng sông “chưa khô nguồn lãng mạn”, trên sa mạc khát bỏng, trong những giấc chiêm bao nhiều mộng mị, nơi anh không thể thoát khỏi “bốn bức tường tuyệt mệnh” và “cuộc đời sân khấu”. Sự cô độc là mạch chủ lưu và là nội dung chính của bản trường ca. Đó cũng là thế giới tâm hồn mà các nhà siêu thực thường quan tâm thể hiện. Mở đầu bằng hai câu: Bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông. Đọc diễn văn truy tặng người đãng trí. Tôi cách biệt với người đãng trí, tôi truy điệu người đãng trí, nhưng trong toàn bộ thiên trường ca tôi và người đãng trí lại là một. Nhân vật trữ tình mang tâm hồn nhiều u uất, chán ghét tận cùng hiện thực chiến tranh, với vô cùng những giằng co và lựa chọn, cho nên, nó phân thân thành nhiều hình thức:

Là Tôi với những cơn mộng mị:

“…Tôi ở ngoài vùng phán xét.

Không còn ai hiểu được”

“…Tôi biền biệt trôi đi.

Trong hoàng hà tĩnh vật”

Là: “Thằng con trai úp mặt lê

 

n mùa thu mệt mỏi”

Là “Người say rượu uống nhựa thông nằm chết tình cờ” với vô vàn những dòng suy tưởng dai dẳng và đau đớn về thế giới mà “tên mọi người đã ghi vào viên đạn”.

Là người hành khất lang thang kiếm tìm hạnh phúc, đăng đàn thuyết giảng nhưng phải đối diện với những chất vấn về hạnh phúc của đoàn tử tù, và “Người hành khất lẩn trốn với nàng công chúa trên cung điện”, “Người hành khất đeo kính đãng trí/ và hát như con diều một dây”. Người hành khất chợt nhận ra sự ngụy tạo, đành lẩn trốn với chiếc mặt nạ của mình. Hình tượng Đoàn tử tù dần dần đi vào cõi vô thức, cõi chết như là định mệnh, là sự tuyệt vọng khôn cùng của cái Tôi bản thể:

“Đoàn tử tù ra đi âm thầm

tiếng trống não nùng vang động bờ vĩnh cửu”

Là “người đãng trí” tự động đánh mất ý thức để phủ nhận thực tại, chống lại thế lực đang cưỡng ép người ta phải thừa nhận. Nhưng dù có quay mặt đi thì tiếng kêu chát chúa của đời sống vẫn cứ dội vào tâm thức.

Có thể nói, hàng loạt các hình tượng đan xen, hư ảo trong suốt bản trường ca làm cho người đọc có cảm giác như nỗi cô đơn, chán nản tuyệt vọng, kinh hoàng của người thơ trải dài khắp nơi, chỗ nào, nơi nào cũng khắc khoải day dứt. Người trí thức Ngô Kha lúc này muốn “nuôi dưỡng sự cô đơn”, xây mái linh hồn mình trong một ngôi nhà khép kín như là một cách bao bọc tự vệ để khỏi phải dung hòa với hiện thực chiến tranh, khỏi phải đối diện với thế giới của “người đang chết/ và những người sắp đi vào cõi chết”. Có thể nói, trong nền văn học hiện đại Việt Nam, đây là bản bi ca nói về sự cô độc hiếm hoi nhưng lại đầy dũng khí phản chiến. Như chính nhà thơ viết “Tự sát bằng cô đơn nên chẳng bao giờ chết”, “Nỗi cô đơn niềm tuyệt vọng cháy sáng” – Nỗi cô đơn ở đây xứng đáng trở thành Nội dung lớn, Cảm hứng lớn của thể loại trường ca vốn được mặc định là chỉ dành để ngợi ca những anh hùng. Lúc Ngô Kha viết “Ngụ ngôn của một người đãng trí” là lúc chúng ta phải đối mặt với dã tâm xâm lược bành trướng của chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ. Huế là tuyến giữa của cuộc chiến, còn là kinh đô cũ của Việt Nam vốn tập trung nhiều khoa bảng. Huế cũng là nơi Phật giáo có chỗ đứng và ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống văn hóa, là nơi có bề dày truyền thống yêu nước và cách mạng. Bởi vậy, Huế trở thành mối quan tâm lớn của Mỹ và chính quyền tay sai. Ngô Đình Diệm đã thiết lập ở đây một bộ máy cai trị cực mạnh và thi hành chính sách thống trị tàn bạo nhằm bắt nhân dân Huế đi theo quĩ đạo của chúng, tiến hành đàn áp phong trào cách mạng. Chính Ngô Kha, năm 1966, đã bị động viên vào trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Bất mãn với chế độ Sài Gòn, Ngô Kha đã đấu tranh và là một trong những thành viên nòng cốt lãnh đạo chiến đoàn Nguyễn Đại Thức (đơn vị quân đội Sài Gòn li khai). Cuộc đấu tranh thất bại, Ngô Kha bị bắt lần đầu tiên và bị đày đi Phú Quốc. Cũng thời gian này, cuộc hôn nhân của Ngô Kha tan vỡ. Một đời sống chính trị bức bối, ngột ngạt, đòi hỏi sự lựa chọn quyết liệt; một niềm đau riêng nhiều khi âm ỉ đã thai nghén nên thế giới siêu thực “người đãng trí”. Người thi sĩ đầy hoài bão đã đẩy nỗi tuyệt vọng đến điểm cùng, đến “nỗi cô đơn niềm tuyệt vọng cháy sáng”. Ngụ ngôn người đãng trí là phầm âm bản của tâm hồn con người lên tiếng gào thét, những lời nói mê sảng vô nghĩa lí chính là sự “minh triết của người điên”. Sau điểm cùng ấy, thi sĩ buộc phải lựa chọn, anh không thể “nằm yên trong nhà tù vĩnh cửu” được nữa, mà quyết định dấn thân vào cuộc đấu tranh đầy cam go chống lại chế độ Mỹ Ngụy. Cho nên, hai câu mở đầu của trường ca:

Bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông

Đọc diễn văn truy tặng người đãng trí

Cũng là sự giã từ với thế giới vô hình, với cái nhà tù cô đơn mà anh tự xây đắp trú ngụ, để lột xác hồi sinh bằng một cái Tôi mới – cái Tôi với dòng máu anh hùng “Ta lên tiếng cho ngục tù vỡ nát/ bao gông cùm tan chảy dưới mặt trời” (Bài ca tự quyết).

Thơ siêu thực vốn không muốn tuân theo logic thông thường, nó muốn đi sâu khám phá vùng mờ vô thức trong thế giới tâm hồn con người. Bên trong là những ám ánh, những hiện thực thực nhất mà mắt thường khó có thể nhìn thấy; bề ngoài là trực giác của hình ảnh, là những mảng màu, những ngôn từ gây ấn tượng mạnh mẽ. Điều đáng nói là có một số bài thơ siêu thực đọc lên chỉ là sự cắt dán, lắp ghép, yếu tố kĩ thuật hằn sâu trên từng xác chữ; với Ngô Kha thì khác, các giấc mơ siêu thực trong Ngụ ngôn của người đãng trí nhuần nhuyễn, nhất thể, tự nhiên, không lộ hiện, là dòng tuôn trào của dằn vặt đớn đau từ bản thể. Lối viết tự động được Ngô Kha áp dụng trong suốt bản trường ca; có điều, những câu thơ tưởng như ngẫu nhiên, lắp ghép nhưng lại logic đến kì lạ (ví dụ: Tôi là người chỉ còn một giác quan đơn độc / để nghe dây đàn chùng  -> …ôi tiếng đàn không thanh âm không hương sắc….-> tất cả chỉ là dây đàn phiền não). Hơn nữa, mỗi câu thơ đều khiến người đọc rưng rưng xúc động. Nó đẹp bởi hình ảnh, bởi bản thân ngôn từ thơ, cũng bởi linh hồn người thơ ẩn chứa sau lớp vỏ. Đúng như ý của Jakobson đã được nhiều người dẫn lại “thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”[3] – bản thân nó đã hết sức lung linh. Giấc mơ của Ngô Kha bị ám ảnh bởi các hình ảnh của chiến tranh và cái chết. Hình ảnh “chiến tranh” xuất hiện 18 lần trong bản trường ca, và cái chết, như là hệ quả của cuộc chiến, xuất hiện dày đặc nhất – 52 lần. Chết được phát biểu trực tiếp 12 lần: “nằm chết tình cờ”, “em nằm chết trên bụi cỏ”, “cái chết từ bi”.. và gián tiếp 40 lần với những hình ảnh đầy tính siêu thực “vụt chạy bỏ linh hồn”, “vẫy tay chào cuộc đời”, “bạn bè ngủ trên gáy sách”, “tử thi còn mở mắt”, “tự sát bằng cô đơn”… Chết là biểu hiện cao nhất của niềm cô độc, là kết cục bi ai cho thân phận hạt bụi kiếp người. Tác phẩm là bản bi ca đối mặt với cái chết, cũng là tuyên chiến với cái chết và chối bỏ cái chết. Toàn trường ca còn được xây dựng bởi hệ thống các hình ảnh về giấc mơ, chiêm bao, miền hư ảo, khoảng vô hình, vùng cô liêu, cánh đồng, huyệt mộ… một thế giới u ám, xơ xác, hao gầy, phi lí bởi chiến tranh. Ngôn ngữ thơ Ngô Kha giàu tính tạo hình và đậm chất triết lí; trên khung nền ấy thế giới hình ảnh sống động như nhảy múa, đua chen, như là lễ hội Carnival của hình ảnh, có thể lấy bất cứ một phiến đoạn nào trong trường ca đều thấy rõ:

Người say rượu lẩm nhẩm một mình

Mùa hè có tuyết đen tuyệt đẹp

Tôi vụt chạy bỏ linh hồn ở đó

Không có đứa con gái, đứa con trai, người say rượu

Chỉ có quả gấc hồng hào rực ánh lửa chiến tranh

Người con gái đứng nhìn cánh sao lạc loài

Trên nét mặt hiền hòa bất động của em

 

…Con đà điểu mang cánh tay người yêu trở lại

người con gái mang bộ mặt đồng đen

tôi bẻ nhánh xương rồng quơ lên hư không

người con gái ho khúc khắc rất đau đớn

tôi chạy theo cánh sao cỏ mùa

người con gái biến đi mất

bây giờ chỉ còn sa mạc

và khoảng vô hình nhìn tôi vĩnh viễn.

Ngụ ngôn của người đãng trí chính là Ngụ ngôn của một thế hệ - như tên cuốn sách tưởng niệm Ngô Kha. Đó là sự vật vã đớn đau nhưng Người nhất của cả một thế hệ trí thức trước hoàn cảnh đất nước những năm 1968. Đó không chỉ là nỗi lòng của riêng Ngô Kha mà còn là nỗi lòng của thế hệ ông. Bản trường ca không chỉ đặc sắc về nội dung mà còn rất có giá trị về mặt nghệ thuật; đặc biệt trong hệ thống thể loại trường ca Việt Nam là một hiện tượng độc đáo. Có điều, từ trước đến nay, bản trường ca dường như chưa được các nhà nghiên cứu lưu tâm, nghĩ đến, cho nó một vị trí xứng đáng. Với chúng tôi, bản trường ca quá hay làm chúng tôi hoang mang, bởi thật khó để có thể biểu đạt thành lời trong một bài viết nhỏ. - Diêu Lan Phương 

 

 

THƠ NGÔ KHA - NGỤ NGÔN CỦA NGƯỜI ĐÃNG TRÍ
(Trích Trường ca)

 

I. 

Bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông 
Đọc diễn văn truy tặng người đãng trí 
Ngày nằm bệnh tôi mơ thấy vòng tay núi 
Khúc hát ngu ngơ của bông lau 
Tháng giêng từ giã thuốc đắng đi tìm cỏ may 
Tôi không thấy nàng mặc áo chim 
Chỉ có người hư vô và mặt trời 
Tôi đếm dấu chân nai trên bản chúc thư tình yêu 
Có những con đường mang tên em chưa ra đời 
Những con đường mọc đầy cây ma tuý 
Có những đường mòn mang tên kẻ ngoại tình 
Tôi mang trái tim người say rượu 
Bây giờ mùa xuân 
Vườn cây đã thay đổi áo 
Những tin mừng về trên bãi cát. 
Người say rượu ca ngợi sự vinh hoa của cánh đồng 
Những dòng sông chưa khô nguồn lãng mạn 
Người say rượu quỳ bên gốc cây già 
Uống ánh mặt trời và dòng phù sinh vô tận 
Tôi và người say rượu hát bài ngụ ngôn 
Bây giờ kẻ ngoại tình đã ngủ say trong lòng gió 
Và than đá đã thức dậy 
Nghe gỗ hương nói thì thầm 
Những hạt cơm đen của mùa Đông 
Những hạt cơm thơm mùi tóc hồng 
Trên đá môi trên lời ca thần thoại 
Than nuôi dưỡng người say rượu 
Như tôi hằng nuôi dưỡng sự cô đơn. 
Trên lời ca du mục 
Người say rượu uống hoả châu 
Đội mũ triều thiên 
Người say rượu bước vào công viên dã tràng 
Mây hồng hoang mở ngõ 
Giữa khu rừng mộng mị của người thiếu nữ da đen 
Người say rượu hái trái nho tươi của em 
Với bàn tay khảm xà cừ 
Của loài rắn ngàn năm nuôi trong địa đàng 
Buổi sáng mai tình cờ em phun nọc độc 
Trên màu xanh vô vị của thuỷ tinh. 
Người say rượu hát bài trần tấu kẻ bán than 
Những tiếng trầm dấu tích thời đá cũ 
Tiếng kim châm như nước mắt em 
Tôi cầm tay người say rượu nói về trái đam mê 
Chiều đóng cổng giam cầm năm đứa con trai 
Trong khu vườn tiền sử 
Những đứa con trai đầu đội mũ rêu xanh 
Trên ngón tay hoang đường mang lời tự tình của núi 
Tiếng dương cầm của hoa lài 
Tuẫn tiết 
Người say rượu cầm tay đứa con trai 
Gọi tên ngày ra đời 
Đứa con trai giằng co với người say rượu 
Cả hai đi khỏi vùng ảnh hưởng của dòng sông 
Đứa con trai xua đuổi người đàn bà từ thiện 
Sau tàng cây khổ hạnh người say rượu loã thể như một chiếc lá sen 
Đứa con trai thì mọc đầy lông vũ 
Người con gái mộng mị chiến tranh 
Người say rượu ca ngợi cơn say 
Với đôi mắt đục ngầu của dòng sông 
Người say rượu mệt mỏi về câu chuyện hoà bình 
Như đọc kinh buổi trưa 
Người đàn ông xăm mình đi giữa hai hàng cột 
Người đàn bà ngồi trên công viên 
Tay cầm con sư tử đá 
Ra lệnh chiến tranh 
Cơn say đến giáp mặt tử thần 
Trong thung lũng yêu kiều của loài immortel 
Người say rượu cắm hoa immortel lên vết thương 
Và vết thương nẩy lộc 
Trong tấm áo cỏ khô mùa hạ 
Người say rượu đắp bùn lên trái tim 
Đứa con trai nhìn hiền hoà 
Người say rượu lẩm nhẩm một mình 
Mùa hè có tuyết đen tuyệt đẹp 
Tôi vụt chạy bỏ linh hồn ở đó 
Không có đứa con gái, đứa con trai, người say rượu 
Chỉ có quả gấc hồng hào rực ánh lửa chiến tranh 
Người con gái đứng nhìn cánh sao lạc loài 
Trên nét mặt hiền hoà bất động của em 
Tôi thấy nốt ruồi son chói lọi 
Tiếng chim sành hót trong tiềm thức người say rượu 
Vỏ cây nứt một loài hoa vô sắc 
Tôi lạc vào miền vô vi 
Bài diễn văn cuốn theo lớp lá khô 
Người say rượu uống nhựa thông nằm chết tình cờ 
Đêm sửa soạn bài ngụ ngôn của người đãng trí 
Lá từ giã cành cây làm lễ đọc kinh 
Người con gái lặng yên xem chúc thư 
Bó hoa tôi mang đến dòng sông bây giờ đã héo. 


II. 

Tôi đem đến thời gian để lấy chiêm bao 
Hằng đêm thắp nến đi vào giấc ngủ 
Trang sách mở trên gối 
Tôi thấy những cánh đồng bình thản vô cùng 
Những chiếc chân mọc dài của cao nguyên 
Những vầng trán ưu tú của cha mẹ, người yêu và bạn bè 
Những cửa sổ của bầy cừu 
Trên dòng suối có tiếng đàn lục huyền 
Em gái tôi để tóc xoã như bó đuốc 
Tôi hay nói chuyện về những dòng chữ ngụ ngôn 
Những dòng chữ chảy từng hàng não sống 
Trên chiếc máy in hùng hồn của thác nước 
Những dòng chữ khai sinh 
Vào ngày trẻ con hát đồng dao 
Trang sách mở đầy hoa 
Những đoá hoa nở ra trí thức 
Những đoá hoa nở ra thi sĩ 
Trang sách mở đầy cái kén 
Những sợi tơ buộc giấc ngủ của người yêu 
Bây giờ con trăng ngó trên đầu 
Tôi bỏ một mình tôi ở lại 
Nhà mọi người giờ nầy đã úp mái 
Chỉ có bầy gà hoang đẻ trứng vàng trên tàng cau 
Tôi khép kín giới hạn 
Đánh thức nàng thơ và người thợ mộc 
Với lưỡi liềm của mặt trăng 
Tôi xây mái linh hồn 
Cho thân thế tôi trú ngụ 
Nửa khuya ở phố tơ lụa về 
Gương mặt tôi xanh chàm như áo chim 
Bây giờ em đóng cửa 
Nhốt bóng trăng ở ngoài ngõ 
Tiếng con thằn lằn thở dài 
Cây đàn thuỷ tinh chở tôi qua dãy núi 
Đi thăm kỷ niệm 
Hồi ký khoác áo da và đánh bóng 
Tôi cưỡi lạc đà qua rừng gió 
Người con gái chăn dê thức dậy 
Má nàng đầy những phấn thông 
Tôi ngạc nhiên hiền hoà 
Mùa hạ đánh rơi chiếc túi da cam rồi đấy 
Người con gái ngửa cổ trắng như búp măng 
Tôi hát nghêu ngao 
Nhìn thấy tôi đứng bóng 
Người con gái cười như cát bay 
Tôi đi vào bãi mía 
Người con gái dụ dỗ tôi rời lạc đà 
Cát nung bàn chân tôi mưng mủ 
Người con gái cười như nứt nẻ 
Nước mắt thì vô vọng 
Tôi nói bằng âm hao 
Thời khắc dài như đương bay ác mộng 
Người con gái ném đồng tử trên bãi cát 
Đôi quạ vàng đạp cánh kêu tiếng người 
Sa mạc là một tấm pha lê 
Tuổi thơ của tôi 
Chỉ là những đốt xương trắng 
Người con gái lãng mạn 
Ném sợi tơ vàng 
Tôi đuổi bắt tôi 
Chập chờn cơn ác mộng 
Người con gái gõ từng tiếng lên sọ dừa 
Chúng tôi đồng ca 
Con đà điểu mang cánh tay người yêu trở lại 
Người con gái mang bộ mặt đồng đen 
Tôi bẻ nhánh xương rồng quơ lên như không 
Người con gái ho khúc khắc rất đau đớn 
Tôi chạy theo cánh sao cỏ mùa 
Người con gái biến đi mất 
Bây giờ chỉ còn sa mạc 
Và khoảng vô hình nhìn tôi vĩnh viễn 
Tiếng hoan hô nổi lên 
Tiếng hoan hô hùng hồn như bầy thú đá 
Tôi im lặng níu cánh tay người yêu tôi mùa hạ 
Người con gái ghen tuông đốt khói đen nám mặt tôi 
Cơn đau dày xéo 
Những móng vuốt thần thoại 
Người con gái héo hắt dưới mặt trời 
Con đà điểu cắp cánh tay người yêu tôi đi 
Chiếc nhẫn cưới bay mất 
Tôi không còn cuộc hôn nhân kỳ dị 
Người con gái đâm mù mắt tôi 
Bằng hai quả trứng vàng 
Tôi ăn quả trứng vàng mộng mị 
Người con gái vẫy bàn tay hư vô 
Che giấu sợ hãi 
Tôi cầu nguyện mọi người đừng bỏ tôi 
Bây giờ tôi phải đi theo người em gái 
Cuộc giang hồ có ngàn lần ái ân 
Những con đà điểu đã che khuất huyền thoại 
Cánh tay người yêu tôi đã xây mộ phần 
Con đà điểu đập cánh ăn năn 
Nỗi vô vọng hồi sinh trong gió 
Cơn bãi cát cuốn tôi đi mờ mịt 
Chúng tôi ra khỏi vùng phán xét của loài người 
Con lạc đà khuyên tôi nên quay về thung lũng mùa xuân 
Cỏ lên dày như tóc non 
Nhưng tôi không còn gì 
Mùa hạ đốt tim tôi thành khói trắng 
Người con gái trở về mang theo lời hẹn của chim muông 
Nhưng con lạc đà ra đi biền biệt 
Rùng mía chỉ còn bông lau 
Bầy quạ vàng và tử thi của hai người bạn
        

 
IV

...Nhạc giáo đường trôi trên thi thể của hoàng hôn
của hư vô của miền tuyệt vọng cháy sáng
nhạc hoang đường trôi vào miền vô thức
giữa không gian u tịch với từng bước linh hồn
đàn chim lưu đày mang cánh hoa lys bay lên
trên bầu trời sợi tóc mun đã bay đi làm gió
em bây giờ là khói xanh
lửa trả tự do
bây giờ tôi chẳng còn là mối gậm mòn sách trên ghế cũ
tôi là thuyền độc mộc khuấy nước trường giang
thơ hành trình đi qua miền địa ngục
không có tình yêu mây bay cao
chỉ có mình tôi với rong rêu ưu phiền
buổi mai trầm tư
với đôi tay trần chơ vơ như thỏi sắt
mọi người câm lặng trao nhau sợi dây chuyền tội lỗi

con muỗi mắt tuyệt mệnh trên cánh hoa phù dung
quê hương mình mang nhiều vết thương
mọi người hãy tự đặt tên mình bằng số phận
đó là điều dị nghị của người mang trái tim bằng lá khô
tôi lớn lên để tiễn đưa bạn bè từ giã cuộc sống
như người già hát bài ngủ mộng bình thường
thôi còn gì những buổi trời mưa lá cây xanh
đứa con trai khoác áo chim hồng bay qua đỉnh núi
với cái chết từ bi như thạch cao
anh em bè bạn tôi đi theo dấu sương mù
bốn bức tường tuyệt mệnh chôn vùi vết chân chim
khi trăng non rụng trên tấm hình hài rã mục
em ôm vành khăn tang
cúi đầu làm con gái Việt Nam
trong thung lũng tình yêu đã lạnh giá
em đốt cháy niềm tuyệt vọng
trên ngọn lửa hằng cửu sáp trắng
cầu nguyện những người con trai Á Châu
ra đi như thiên thần
ôi tim mẹ đã rã rục
với lòng tin em
như cành hoa mai buổi tối
tôi không thấy mặt trời tinh tú
trên miền phù sa
chỉ có hỏa châu
đâm mù mắt tôi



VIII

… tôi thường ca tụng vẻ huyền diệu của cánh đồng
nơi hội họp bốn mùa của sự phì nhiêu
nơi tôi may áo gấm cho bầy chim vô sắc
lúc nhàn rỗi không có gì để làm
tôi xin chiếc chiếu hoa ngũ cốc
làm nơi tự tình của ngày lập xuân
cuộc hôn phối đa đoan của đời mình
là lý do mầu nhiệm
nếu bể không có những đứa con ngang tàng
như con sao biển đã đi qua nhiều đại lục
nếu bóng tối chẳng hiểu gì
tiểu sử về mái tóc em
thì quả đồng hồ
chỉ là một trái cam
dành cho người bệnh
thôi
em hãy châm lửa đâm mù mắt tôi
xin đừng căng dây đàn trái đất nầy
tôi vẫn là người chỉ còn một giác quan đơn độc
để nghe dây đàn chùng
cũng như em
chỉ còn một nụ cười
để xua đuổi già nua
xin mọi người hãy biết ơn dây đàn chùng
hãy nghe hơi thở phong trần qua bao nhiêu thời thạch khí
và cho tôi
nhìn nếp nhăn bao la trên vừng trán mẹ
vết thương mưng mủ trong mạch máu quê hương
ôi tiếng đàn không thanh âm không hương sắc
như nước mắt vốn là loài vô tri
tất cả chỉ là dây đàn phiền não
chiến tranh là lời cổ động của kẻ phi nhân
thôi bây giờ
chẳng còn gì
khoảng hư vô như cánh tay gối đầu
giấy trắng là cánh đồng của bầy ngựa già đi lang thang
trên những miền không có suối nước
tôi chỉ gặp một loài hoa đá
khi em không còn ở trên đường tôi đi
thì cây phi lao chuốt thành mũi nhọn
làn nước bạc kia chỉ là con dao của người tự sát
đã bỏ quên
người điêu khắc tự do nửa đêm thức dậy
nói về chuyện lưu đày
tất cả rồi lãng quên
não tủy không nhớ lời huyết quản
bàn tay không nhớ lời trái tim
mùa thu không nuôi tiếng chim muông
lá hoa không thương tình mặt đất
linh hồn tôi
cũng ra đi
trong cõi trừu tượng
em là trái hỏa châu đốt ta thành tro bụi
bây giờ tội lỗi như đồng tình
tôi chỉ còn hồn tôi trong gió lốc cuồng si
với vần thơ hoang đường cưu mang nhục thể
như khúc hát độc huyền của kẻ câm
xin đừng trách tôi là người phù thủy
ngôn ngữ đã phí phạm thần kinh tôi như một lũ con hoang

đêm đêm nhìn trời
gọi sương khuya vỗ về thắc mắc
nhưng đôm đốm đã đánh thức mùa thu dậy
ưu tư vằng vặc như trăng khuya
tôi vốn mang trong người muôn quả tim
như cây trên rừng nhiều lá
sự sống từng giờ lay động bằng tiếng khóc trẻ thơ
ôi thế trần
lời châm biếm ngọt ngào như trái chín đong đưa

thôi còn gì
chuyện của người đãng trí và chiến tranh
hơi thở cũng mủn dần như mặt đất
thời gian về lớp áo cũ của không gian
lời vô tri bay đã cao
như ánh mắt từ trên đỉnh núi
mạch đất quê hương giờ lạnh rồi
sao mắt mẹ còn mở
sách trên án thư cũng ngủ khuây
nhưng hồn mẹ vẫn thao thức
con đã đi bao năm
mẹ không rời ngưỡng cửa
và nay
gió cũng tang bồng
nhưng thi sĩ vẫn nằm yên trong nhà tù vĩnh cửu.

Nguồn: vanvn.net 20/11/2016

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ CỦA THÁI NAM ANH
· NỖI BUỒN VƠ VẨN HAY NIỀM THAO THIẾT ĐÁNG TRÂN TRỌNG
· NHÀ THƠ MINH ĐƯỜNG- MỘT ĐỜI THƠ LẬN ĐẬN
· HENRYK SIENKIEWICZ-NHÀ VĂN LỚN CỦA BA LAN VÀ THẾ GIỚI
· NHÀ THƠ CHÍNH HỮU
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· BI KỊCH CỦA MACXIM GORKI
· CHÙM THƠ TẦN HOÀI DẠ VŨ
· TRẦN QUỐC THỰC- PHẬN NGƯỜI NHƯ CỎ ƯỚT
· HAI NỘI DUNG NỔI BẬT CỦA THƠ VIỆT THỜI HẬU CHIẾN
· TRIẾT LÝ TAROT VÀ TRUYỆN KIỀU: TỪ NGÂY THƠ ĐẾN THẾ GIỚI
· CHÙM THƠ NGUYỄN MINH PHÚC
· GIỚI THIỆU THƠ TỪ HỒNG SƠN
· CÔ ĐƠN KIỂU OCTAVIO PAZ
· HÀNH TRÌNH XUÂN DIỆU
· NGUYỄN QUANG TRẦN-TRỜI BỐN PHƯƠNG BIẾT EM Ở PHƯƠNG NAO?
· VƯƠNG TRỌNG, MỘT MAI NẾU BẠN MUỐN ĐI TÌM
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· CHÙM THƠ PHÙNG TRUNG TẬP
· SỨC HẤP DẪN CỦA VĂN CHƯƠNG PHI HƯ CẤU

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_su8fejel9tqvj4q9asuvvi34c3, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0