DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TRƯỜNG CA "NGƯỜI KHIÊNG VÕNG" CỦA THANH THẢO

Như đã hứa tại Hội thảo “Tổng đốc Lê Đại Cang với An Giang”, chỉ sau hội thảo chưa đầy một tháng, nhà thơ Thanh Thảo đã hoàn thành trường ca “Người khiêng võng” lấy cảm hứng từ cuộc đời thăng trầm vì dân vì nước của danh nhân Lê Đại Cang. Đây là bản trường ca thứ 13 của ông vua trường ca trong thơ Việt hiện đại. VHVN xin trân trọng giới thiệu bản trường ca rất xúc động viết trong tháng Vu lan của nhà thơ Thanh Thảo với bạn đọc.

Trường ca "Người Khiêng Võng"


 “Khiêng võng cho quan, à la, khiêng võng cho quan
 
Phía con kênh đào thâm thấp những đám mây
màu xám đục
Lê Đại Cang lần đầu khiêng võng
lần thứ hai khiêng võng
mặt căng mặt nước sông đầy
 
những dấu chân vẽ nên con đường
dấu chân người khiêng võng
quan nằm trên khá nặng
vốn là kẻ dưới quyền
đây tùy duyên
hay tùy phận?
 
những bước chân không lấn bấn
đòn khiêng nghiến trên vai
những giọt mồ hôi lắng
rơi thấm con đường dài
 
tôi sinh ra làm người khiêng
trách nhiệm
làm người khiêng
số phận
làm người khiêng
lo lắng
làm người khiêng
cay đắng
 
sông Hậu tràn nỗi buồn mênh mông
 
đột ngột núi Sam bừng điệu lý
người tha hương
 
xin Bà Chúa Xứ ban ơn phước
cho lưu dân cơ cực chốn biên thùy
chúng con biết cõi bờ là trọng
mùa cá linh nước nổi quá mê đi
trắng cả giấc mơ người mở cõi
nhờ Trời thương phu xướng phụ tùy
chúng con chống lưng nhìn bốn hướng
mỗi tấc đất nơi này vang vọng tiếng từ quy
tiếng đôi chim tìm nhau trong bóng tối
tiếng tình yêu khắc khoải vân vi
 
mẹ ơi
 
làng quê mình tuy mang tên Tuy Phước
nhưng mỗi mùa đều lũ lụt
buổi chiều mẹ nghe bìm bịp kêu
hun hút
nhớ đứa con lận đận cuối chân trời
đời làm quan khác chi ngồi trên lửa
biết đâu là may rủi mẹ ơi
 
khiêng võng cho quan, à la, khiêng võng cho quan
 
lục bình trôi
mải miết
lục bình trôi
thê thiết
lục binh trôi
bông tím nở nụ cười nhợt nhạt
 
nếu tôi là lục bình
chắc đời tôi đỡ mệt
nếu tôi không tự chủ đời mình
sẽ dễ chịu hơn, ai biết!
 
nếu tôi không là thanh đại đao đương đầu
miền An-Hà rồi muôn trùng xô dạt
nếu tôi không ghé vai gánh vác
phên dậu này đất nước sẽ về đâu
 
nếu trên vai tôi
không thường xuyên mang vật nặng
cái gì nhắc tôi trách phận?
 
bàn chân ngập trong bùn
mặt sạm nắng chợt mềm bông điên điển
sắc vàng ấy vì sao quyến luyến
với người mang đòn khiêng như tôi?
 
những cây thốt nốt lừng lững chọc trời
mùa nước đổ dòng sông thành vô tận
nơi đường biên có lúc nhạt nhòa
nơi kẻ xấu thừa cơ đánh lấn
tôi khiêng võng nhưng tôi là lính trận
Vua sai tôi định trấn biên này
những lưu dân theo tôi vào đây
họ cần hai chữ “bình an”
như cần tên tôi: Lê Đại Cang
mỗi bận giữ đường biên, giữ đất
 
uống một ống nước thốt nốt
cho tâm tràn mát ngọt
người dân ở bên kia hàng cây, tôi biết
họ cũng lành như dân Việt mình thôi
 
nhưng kẻ thù không phải thế
điều này, tôi biết rõ hơn ai!
 
dòng sông Mẹ cho mọi người dùng chung
nhưng kẻ thâm hiểm lại ở thượng nguồn
chúng cắt nước chặn dòng không để dân mình sống
nếu cháu chắt tôi không nhận rõ điều này
cả vùng đất Chín Rồng nguy thay!
 
bây giờ tôi khiêng võng nhưng bên người luôn có thanh đại đao
dù nặng nhọc tôi quyết xuyên thế kỷ
tình yêu với tôi là vũ khí
cho tôi đồng hành cùng cháu chắt tôi
 
có thể đời sau không có Vua
nhưng thời tôi Vua yêu nước
nhiều lúc Ngài hành xử hơi khắc nghiệt
bởi yêu quá núi sông này
 
tôi bình thản khi bị Vua cách chức
do trách nhiệm không tròn
người quân tử cũng là người, nhưng có khác
từ đại thần xuống khiêng võng như không
 
anh ta đứng như cây ngay mọc thẳng
rậm cành lá, chẳng rậm lời
anh ta dám làm và chấp nhận
những rủi ro thua thiệt trong đời
 
không trách người, không trách phận
chỉ lòng mình thanh thản với mình thôi
dòng sông chảy mênh mang lận đận
những vực sâu hố thẳm sóng dồi
 
tôi tha thiết với sông Tiền sông Hậu
tôi lâng lâng cùng cánh vạc cánh cò
sếu đầu đỏ như bạn bè một thuở
Đồng Tháp Mười xin trải hết âu lo
 
không biết đời cháu chắt tôi còn Tháp Mười không nữa
những hoàng hôn xuồng lách vẹt sương mờ
tôi hạnh phúc được trôi trên biển nước
vài chiếc chòi mọc lẻ giữa bơ vơ
 
là bà con tôi đó
những di dân nghèo khổ tận miền Trung
họ theo tôi như cá linh mùa nước nổi
mỗi con rạch bờ kênh họ đều thuộc nằm lòng
 
khi Vua lệnh tôi về canh Châu Đốc
vì tin tôi giữ được đất này
những lưu dân vốn cùng Cang sinh tử
họ biết tôi lòng dạ thẳng ngay
 
vì sao Cang tập hợp được người Khơ-me
vào đội quân người Việt?
không phải giỏi giang, chỉ vì tôi biết
người dân nghèo hai nước cũng như nhau
 
họ chỉ muốn an lành
uống chung dòng sông Mẹ 
mặc kẻ xấu tìm mưu chia rẽ
nơi thiện tâm họ tụ về nơi đó
như cá linh mùa nước nổi trắng đồng
 
khiêng võng cho quan, à la, khiêng võng cho quan
 
có sao đâu, ừ thì khiêng võng
suốt đời mình ngược xuôi ba động
việc này đáng sá gì!
chiếc đòn khiêng đã thành gia bảo
tôi mang về tôi lại mang đi
 
phải trải thấu chuyện đời nhẹ nặng
mới biết làm người là ghé lưng
không thoái thác không hèn nhát
dẫu trên vai đòn cứa thấu xương
 
tin đi rồi trái cây sẽ chín
tin mình tốt với người trăng lại tròn thôi
những lưu dân suốt đời tôi ăn chịu
họ cơ cực quanh năm bẻ nạng chống trời
đừng xem nhẹ những cây cầu khỉ
cứ bôn ba như đám lục bình
con cá nhỏ nuôi mình khi đói lả
quân tướng chung vui nồi lẩu cá linh
bông điên điển thương người ra trận
cái đòn khiêng mòn mỏi hóa ân tình
 
hoang mang những rú rừng beo cọp
rắn độc thở dài trên ngọn cây
đêm nghĩa sĩ ngậm tăm lặng lẽ
lội qua biền bưng ngập ngụa sình lầy
 
lúc bấy giờ tôi khoa đại đao
dẫn đoàn quân tấn công trại giặc
lúc bấy giờ nào hay sống thác
chỉ biết băng lên tựa sóng trào
 
và những rạng đông nghe đất thở
đất như lòng mình nôn nao
tôi chợt tỉnh khi vung chiếc phãng
phát ngang chân trời rơi rụng những vì sao
 
với nhà nông phãng là vũ khí
như đại đao trong tay tôi vậy
tàn chiến trận đột nhiên cảm thấy
mùi khói bình yên khói đốt đồng
 
những ai qua đây dù chỉ một lần
nghe ngút ngát giọng hò Đồng Tháp
mới thấu tỏ tâm hồn người Việt
càng tha hương càng nhớ quê nhà
 
nhớ mắm ruột cá ngừ thơm lựng
mẹ bưng lên cùng với đĩa cà
nhớ mùi cơm lúa de gạo mới
chiếc nong thành mâm sum họp cả nhà
 
có những đêm trăng treo đầu ngõ
lũ trẻ hò reo tiếng trống xa xa
tôi đi qua tuổi thơ về xịch mở
một mùi hương quấn quýt la đà
 
hoa bưởi ơi làm sao mất được
những vẩn vơ tha thiết tình đầu
bây giờ tôi như người đi câu
thỉnh thoảng giật từng cơn ký ức
 
rằm tháng Bảy trong tôi chợt thức
nỗi nhớ mẹ cha mình cách biệt nơi nao
nợ nước ơn Vua đấng sinh thành dưỡng dục
suốt đời con xin đội trên đầu
 
con bất hiếu chỉ vì trung với nước
những thác ghềnh không đánh gục được con đâu
xin mẹ như giàn trầu cha thiết mộc
đứng bình tâm qua mưa bão dãi dầu
 
con sẽ về quê áo xiêm trả lại
chỉ mong nghe bên thành giếng tiếng va gàu
tiếng trăng chảy long lanh trong lòng nước
tiếng chim chiều chen tiếng mõ trâu
 
nhưng việc lớn chưa xong thì số phận
có đẩy đưa con tới cỡ nào
xin trụ lại giữ yên cho bờ cõi
mỗi giọt máu dân mình nghĩa nặng tình sâu
 
với Tả quân (*) tài danh nhân nghĩa
tôi hàm ơn Người có cặp mắt xanh
nhưng tôi trung với Vua dù cay cực
mong Tả quân thấu cho nỗi lòng Cang
 
tôi đã trải bao gian nguy thử thách
nhưng nghĩa trung hai chữ quá xoay vần
có lẽ điều này Vua nên biết
ở đời không chỉ có trung quân
 
còn nghĩa sĩ còn anh em xóm mạc
còn bát cơm Phiếu Mẫu tôi thường ăn
còn lương dân bên bờ kia biên giới
còn láng giềng tối lửa tắt đèn
 
không ai muốn làm dân nô lệ
những gì mình không ưa đừng đổ cho người
tôi giữ nước không bao giờ cướp nước
thốt nốt hay dừa cùng đồng vị thơm tươi
 
(*) Tả quân Lê Văn Duyệt-Tổng trấn Gia Định thành
 
 
 
“khiêng võng cho quan, à la, khiêng võng cho quan”
 
không gì nặng với ai quen vác đá
tìm niềm vui trong những chuyện không vui
như rùa ấy một đời con vất vả
đội tấm bia giữ giềng mối cho đời
 
những vòng cung đê Bắc Hà ngày trước
vẫn đồng hành cùng dân Việt ta thôi
bao lao khổ đất bùn và nước
dựng lên thành lũy rạng ngời
 
là đứa con của dân trồng lúa nước
tôi đắp đê ngoài Bắc đào kênh trong Nam
nghĩ những cách thau phèn và ngăn mặn
cứ loi thoi đan dệt việc mình làm
 
có gì đâu mà xưng công với nghiệp
thêm chút nào cho dân thì mình cũng được phần
tôi học mãi trong đời không hết
học làm người khó hơn học làm quan
 
cha mẹ cho con điều đẹp nhất
làm người sao cho đúng chữ nhân
dẫu khiêng võng hay khiêng gì cũng mặc
đầu ngẩng cao như một bông sen
 
bông sen lấy nước bùn làm gốc
không rẻ khinh nơi sinh đẻ ra mình
bông sen nhẹ nhàng như khói mọc
hương vừa thơm biển nước bình minh
 
 
 
xuồng tôi bơi trong đêm
qua đồng bưng mắt trăng nhìn âu yếm
trăng Tháp Mười vì sao bịn rịn
như cố nhân phút chia biệt đôi đường
 
dù là trăng sông Hậu sông Hương
hay trăng sông Trà luyến Cao Bá Quát
ngàn dặm trải một màu ly biệt
bao nhiêu năm bàng bạc hỡi quê nhà
 
xin một lạy này hướng về mẹ cha
cứ ngỡ đời dài nhưng chẳng mấy
mẹ cha đang ở nơi nào vậy
có biết con lên thác xuống ghềnh
 
giữ cho tâm nhẹ tựa ánh trăng
mong gửi song thân niềm an ủi
con chưa được như Người trông đợi
chỉ vừa kịp trưởng thành khi cha mẹ đi xa
 
với những ai kém may mắn như ta
“số phận là phần thưởng”
phần thưởng ấy nhiều khi cay đắng
nhiều khi quàng ách giữa đàng
 
vì sao lại là Lê Đại Cang?
tôi không biết. Như tôi từng không biết
vì sao mình yêu Cao Bá Quát
vì sao mình chọn học trò này
 
có một lần Vua mở khoa thi
tôi đã chấm vinh danh á khoa Cao Bá Quát
tới chung khảo người ta đánh tuột
lúc bấy giờ tôi chưa hiểu nguyên do
 
mãi sau này ngẫm lại
thì ra
người ta sợ văn Cao ươm mầm nổi loạn
văn dựng như trường kiếm
lóe lên thành trường giang
 
(*) « trường giang như kiếm lập thanh thiên », thơ Cao Bá Quát.
 
những anh hùng phá thạch bạt sơn
những tài thơ rồng chầu phượng múa
đất nước cần những người như thế
vì sao đẩy họ tới đường cùng?
 
tháng bảy mưa dầm một nỗi đa mang
tháng bảy heo may giờ Cang ngồi đọc lại
một bài thơ xót xa về biên ải
của một nhà thơ hậu sinh
                            
 
 THÁNG BẢY MƯA NGÂU
 
mưa rả rích ngược đường sông Lô
mưa mờ che dãy núi nhấp nhô
mưa như nước mắt người lính cũ
khóc bao đồng đội tới bao giờ
 
mưa ngâu góa phụ trẻ khóc chồng
mưa ngâu Chức nữ biệt Ngưu lang
những hồn lưu lạc trong khe núi
có về đây như một tiếng vang?
 
Thanh Thủy Vị Xuyên ba mươi năm
các anh cùng đất đá ăn nằm
“chết thành đá linh hồn bất tử”
mưa ngâu tháng bảy hóa mưa dầm
 
mưa ngâu trắng trời nước mắt tuôn
mẹ cha chết lặng trước mưa buồn
con đi ngày ấy còn quá trẻ
cây bưởi nhà ta quả mới ương
 
con chưa biết mưa trên giàn trầu
chưa từng hò hẹn dưới hàng cau
con đi đi mãi về hun hút
cho tới ngày con hóa mưa ngâu
( thơ thanh thảo)

9/7/2014 tháng ngâu

 
 
tôi là người quen biên ải chiến chinh
đất Hưng-Tuyên nơi tôi từng đi lại
như từng trấn giữ cõi An-Hà
tôi cũng là người có mẹ có cha
 
như những người lính trẻ
tôi cũng có những nỗi niềm lặng lẽ
mỗi khi gió núi mưa nguồn
ôi mẹ cha ta thời nào cũng khổ
 
mẹ cha chết lặng trước mưa buồn
 
không bao giờ tôi mong
“vạn cốt khô cho công tướng xây thành”
tôi xa lạ với nghĩ suy tồi tệ ấy
 
cùng quân lính tôi gối bờ nằm bụi
chỉ mong sao đất nước yên bình
không còn giặc giã đao binh
 
với những chiến hữu dưới quyền
họ theo tôi như gà con theo mẹ
một chén rượu hòa chung tình sông Hậu
bao người vui trong ráng đỏ hoàng hôn
 
và nồi canh chua nấu bông so đũa
cá hú hay là cá ngát đây?
bỗng chốc tôi thành dân mộ nghĩa
chuyền tay nhau một chén rượu đầy
 
chúng ta như chim một bầy
chúng ta như gà một mẹ
chúng ta thường khi nói khẽ
có lúc lại ca vang kinh động quãng sông dài
 
cùng ớt cay rau đắng dân tôi
uống rượu nhiều khi đâu vì rượu
tôi giữ đất còn bà con giữ lúa
lòng như sông Hậu nước rong đầy
 
nhờ mưa rào tưới giùm rau đắng ớt cay
sau nhọc nhằn lại trông vào hoa trái
nhiều uẩn khúc cúi xin Bà Chúa giải
cui cút quanh năm với ruộng đồng
 
không ít lần nước mắt lặn vào trong
mấp máy đôi môi tay run bần bật
tôi đã thế hỏi dân làm sao khác
rồi bao oan ức cứ chất chồng
 
nhiều lúc như ngồi trước cơn giông
thương những người dân Bắc Hà đắp đê ngăn lũ
buổi trưa họ ăn mấy củ khoai uống ngụm nước chè
sợ quan còn hơn lo đê vỡ
 
tôi đau lòng khi nhìn thấy họ
đứng tái mặt trước mình
không! Tôi không phải loại quan như thế
cứ thấy dân nghèo là rẻ khinh
 
bấy giờ đắp đê chỉ sức người là chính
nhiều khi tính quá cũng nhầm
lũ thì dữ thân đê có hạn
nên mùa mưa đê vỡ lũ tràn dâng
 
tôi từng phải cắn răng chịu tội
nhiều lần được khen mà lòng bối rối
đất nước mình tai ương nhiều quá đỗi
khen hay chê cũng thế mà thôi
 
chỉ biết tận sức già lo mãi
cứ ngỡ làm cho Vua hóa ra làm cho dân
mỗi con kênh đào mỗi đê quay vững chãi
làng xóm vui tôi như được hồng ân
 
hồi ấy sống cỡ tôi là đại thọ
mong sao không sống phí sống đần
đêm trăng sáng căng sức mình tát nước
ngày nắng chang trồng cây mát che dân
 
cầu trời lúc về hưu còn khỏe mạnh
ai thuê mình khiêng võng chơi luôn
thuê đánh trống thổi kèn cân tuốt
người siêng năng thì ít khi buồn
 
người khiêng võng qua bưng sình ngập nước
đi trong đêm càng khó bám mặt đường
người khiêng võng khát nhiều khi cháy cổ
gắng đều chân không để ai thương
 
tôi là vậy suốt đời tôi là vậy
nằm võng lo hơn khiêng võng thật mà
chức càng cao đêm trằn trọc mãi
pha ấm trà ngồi tựa cửa ngó ra
 
ước là mây khiêng mặt trời qua ngọ
mặt trời lăn trên mặt nước rỡ ràng
bông điên điển mắt vàng chớp chớp
bầy cá gì đập cánh giữa không trung
 
giấc mơ nhỏ đưa tôi vào cửa lớn
cha mẹ đi lững thững cuối chân trời
người gọi gió cho cây mây cho nước
bỗng tối sầm tiếng ai nói chơi vơi
 
đừng khuấy động núi Sam chìm mây phủ
thầy vẽ bùa con vẹt già lụ khụ
tôi đi xin lá thuốc ngược thời gian
trở về tuổi thơ cánh diều mơ ngủ
 
cánh diều xanh trên núi Ngự Bình
bay nghiêng nghiêng dọc sông Hương
phải nơi này tôi sinh
mập mờ mây khói
 
mẹ ơi đâu là nơi cắt rốn chôn rau
cha mẹ vốn làng quê Tuy Phước
lại đẻ con cuối dòng Hương lặng nước
với con, Huế chợt quê nhà
 
Huế bánh bèo bánh nậm bánh đa
Huế cơm hến mà canh cũng hến
hoa mộc thơm lên chùa Phật hiện
dòng Hương vang tiếng gõ mạn thuyền
 
một người tựa cửa Hiển Nhơn
thổi sáo
một người đi không biết về đâu
chiều Ngọ Môn mây vàng lấp lối
tôi tìm cây ríu rít chim sâu
 
sao mà thèm bánh bèo Đập Đá
thương miên man cháo bò Đại Nội
về Thủy Dương ăn cá lóc bánh canh
dáng Huế như cô gái nhà lành
 
tuổi thơ tôi ở tầng sâu quên nhớ
ngựa nào dừng chân dưới bóng ngô đồng
đôi lúc ngồi tập đọc dòng sông
thuộc từng con cá hanh bống thệ
 
nhiều năm sau tôi trở về quê mẹ
nghe ngọt lành câu hát đẩy đưa:
muốn ăn bánh ít lá gai
lấy chồng Bình Định cho dài đường đi
 
thuyền ngược lên Gò Bồi, Phước Hiệp
ngọn Tháp cổ nhìn tôi ngơ ngác
giọng ấm trầm như chú bác ở quê:
“sao giờ con mới về ?”
 
dạ, con như người cơ nhỡ
quê nơi này lại đẻ nơi kia
số con cực sau này không yên chỗ
mùi ổi đào dẫn lối đêm khuya
 
cây ổi lão ở làng Luật Chánh
chìa cành trĩu quả đón tôi
như bàn tay mẹ xoa trên tóc
mùi thơm vướng vất rất sâu
 
xưa nay chinh chiến mấy ai về”(*)
nhưng con thở trước nhà mình rồi mẹ
rào chè xanh ba gian lá mái
bình dị như một câu Đường thi
 
bao tâm sự rối bời hơn tóc bạc
bìm bịp kêu nơi bến đá bờ tre
con chim thương phận người lưu lạc
còn ta thương đồng ngập nước mỏi mê
 
bìm bịp ơi xin nhận ta là bạn
cả đời khắc khoải với dân quê
ta xa xứ lòng luôn cố xứ
trong giấc mơ thường thấy ngày về
 
bìm bịp kêu nhịp đôi
dân Việt mình cơ khổ
mấy trăm năm đều đặn tha hương
nay xe đò còn xưa đi bộ
 
tôi phận mỏng cánh chuồn
lòng ưu tư thay đổi được không
mong làm chút gì dân đỡ cực
một chút thôi cũng phải nén lòng
 
không bàn chuyện ẩm ương
mở lòng nghe những tiếng kêu thương
chìm xuống như một câu thơ cổ
trồi lên thành hòn đá ven đường
 
(*) thơ Vương Hàn :“ cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
 
 
“như tại” là điều cha tôi dạy
qua bao quăng quật phù vân
“mình thế nào cứ là thế ấy”
thu xếp thuận hòa thân với tâm
 
tôi như vỏ ốc u lăn lóc
lọc thanh thản từng tiếng chim
nghe văng vẳng lời Bà Chúa Xứ
“ hãy tìm những gì dân tìm!”
 
thưa Bà Chúa! xin ghi lòng tạc dạ
lời Bà thành tâm nguyện đời con
sau bao thua thiệt mất còn
con tìm được Dân
 
con tìm được gió
thổi lồng qua cổ thụ núi Sam
con tìm được ban mai rất nhỏ
vài giọt sương lấp lánh cỏ ven sông
 
Và những huân chương-không cần
   Không cần lăng xăng huênh hoang
   Với nhà thơ chúng ta-phần thưởng
   Chính là số phận mình”(*)
 
có nhà thơ đã viết
nói giùm tôi nỗi lòng
dù trăm năm cách biệt
và vạn dặm xa xăm
 
(*) thơ của một nhà thơ Nga-xô viết từng là nạn nhân của chế độ Stalin
 

thơ giăng mắc khắp trên trái đất
nhà thơ như con nhện giăng mùng
chúng ta nhận ra nhau tức khắc
dẫu đường biên mãi mãi mông lung
 
suốt đời Cang thầm lặng làm thơ
qua chiến chinh bản thảo rồi thất lạc
nhưng tôi đọc rất nhiều nhà thơ khác
những nhà thơ cuối đất cùng trời
 
đi với tôi
những câu thơ nhiều phen vấp ngã
đứng dậy tới những ai cần nó
như bàn tay mong tìm gặp bàn tay
 
đi với tôi
có những ban mai mệt lả
ngỡ không thể gượng lên được nữa
bỗng định thần lại tiếp tục đi
 
nếu bạn hỏi tôi có bí quyết gì
ngay trong giờ đen tối nhất
vì sao không ngã gục
bạn hãy nhìn cái đòn khiêng
 
nó như tại và tôi như tại
cùng người khiêng thứ hai
                                          ba số phận gắn liền
chúng tôi ghé vai nâng vật nặng
chính khi bị đè là khi ta vụt lên
 
không vội vã không hề than khóc
việc nhỏ làm tròn chuyện lớn mới xong
học nhẫn nhịn để thành người chính trực
đi tới cùng tất sẽ gặp thành công
 
yêu tổ quốc là một điều nghiêm trọng”(*)
xin giữ điều nghiêm trọng ấy suốt đời mình
 

Châu Đốc - Quảng Ngãi tháng Vu Lan 2016

 
 


Theo Văn Hiến Việt Nam

 
 
(*) câu thơ của một nhà thơ Tây Ban Nha chống phát xít Franco

-------

VANHIEN.PLUS, 03/12/2016

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ NHIỀU TÁC GIẢ
· THI HOÀNG - BUỔI TRƯA TRONG THƠ
· CẢM TÁC XUÂN ĐINH DẬU
· MINH TÂN - XA TRONG KÝ ỨC… MỘT NÀNG THƠ
· TRANG THƠ TÂN HÌNH THỨC
· HIỆN TƯỢNG NHÀ VĂN VIỆT NAM SAU 1975 - VÀI KIẾN GIẢI
· TRANG THƠ TƯỞNG NHỚ ĐINH CƯỜNG
· TẬP THƠ ĐẠT GIẢ THƯỞNG CỦA Y PHƯƠNG
· CHỮ HÁN, CHỮ NÔM, CHỮ QUỐC NGỮ VÀ VĂN HỌC VIẾT TIẾNG VIỆT
· TA CỞI ÁO LỘI DÒNG SÔNG TA HÁT
· 20 BÀI THƠ TRONG TẬP THƠ ĐẠT GIẢI CỦA NGUYỄN VIỆT CHIẾN
· CHÙM THƠ NGUYỄN MINH KHIÊM
· THƠ PHÙNG CUNG-LỜI CUỐI CỦA QUÊ
· NHỮNG CHUYỆN ÍT BIẾT VỀ HS ĐINH CƯỜNG
· GỌI TÊN NGƯỜI HAY LÀ MỐI THẦN GIAO GIỮA PHAN BỘI CHÂU VÀ HÀN MẠC TỬ
· CHÙM THƠ NGUYỄN MINH PHÚC
· NGUYỄN NGỌC HẠNH ĐẮM ĐUỐI CÙNG THƠ
· GIỚI THIỆU 10 CHÙM THƠ CỦA 10 NHÀ THƠ
· TRANG THƠ PHAN HOÀNG PHƯƠNG
· ĐINH THỊ THU VÂN- NHỮNG CÂU THƠ EM VIẾT MẤT LINH HỒN

 

  
Gia đình Bích Khê