DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
VĂN HỌC YÊU NƯỚC-TIẾN BỘ-CÁCH MẠNG TRÊN VĂN ĐÀN SÀI GÒN

VĂN HỌC YÊU NƯỚC - TIẾN BỘ - CÁCH MẠNG TRÊN VĂN ĐÀN CÔNG KHAI SÀI GÒN 1954 - 1975

Trong các vùng tạm bị địch tạm chiếm ở Nam Việt Nam, thời những năm 1954 - 1975, đã tồn tại và phát triển một nền văn học như là một trong những lực lượng quan trọng của văn hóa, văn nghệ cách mạng, yêu nước tiến bộ ở đây. Luồng văn hóa, văn nghệ này đã quyết liệt chống đối với các thứ văn hóa, văn học, nghệ thuật phản động, đồi trụy, lai căng do lực lượng xâm lược Mỹ và ngụy quyền tạo ra; khơi một dòng trong giữa những dòng đục, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng xâm lăng, đem lại thống nhất vẹn toàn cho đất nước.
 
So với một khối lượng khổng lồ tác phẩm "văn học" phản động, đồi trụy, lại càng đã được xuất bản tại Nam Việt Nam thời ấy thì khối lượng tác phẩm văn học yêu nước, tiến bộ - cách mạng không lớn; hoạt động văn học yêu nước - tiến bộ - cách mạng cũng không thật rầm rộ, nhưng phần văn học này mang nhiều nét độc đáo, không chỉ đối với văn học mà còn có ý nghĩa đối với văn hóa, văn nghệ nói chung; không chỉ đối với lịch sử văn hóa, văn nghệ Việt Nam mà có lẽ còn có ý nghĩa đối với nhiều nước khác.
 
Tính chất độc đáo của luồng văn học này thể hiện trước tiên là ở chỗ nó là sức mạnh trí tuệ, là sản phẩm nghệ thuật của nhiều người ở nhiều vị trí khác nhau, nhiều hoàn cảnh xã hội khác nhau. Họ chịu ảnh hưởng từ phía cách mạng, từ phía kháng chiến ở nhiều mức độ khác nhau, bằng nhiều con đường khác nhau. Có người lúc đứng ra tổ chức hoặc tham gia các hoạt động văn học nghệ thuật, lúc viết ra những câu thơ, bài văn, những trang phê bình, lý luận phản ánh tinh thần chống xâm lược và chống bọn bán nước đã tự ý thức được rằng đó là làm nhiệm vụ chiến đấu, là làm cách mạng bằng ngòi bút nên rất có thể vì thế mà sẽ bị bắt bớ, tù đầy, mất mát, hy sinh. Có người tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp của cách mạng, nhưng họ vẫn sáng tác với tinh thần yêu nước chống xâm lăng. Thơ văn của họ, mức độ này hay mức độ khác vẫn thở hơi thở chiến đấu của nhân dân, mang sức sống của dân tộc và thấm đượm tình yêu quê hương đất nước, tinh thần nhân bản truyền thống của Việt Nam.
 
Văn học, và nói chung, văn hóa, văn nghệ Việt Nam có thêm một nguồn tự hào vì trong lịch sử đấu tranh cho giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc hai mươi năm ấy đã có những nghệ sĩ - chiến sĩ. Họ ở ngay trong lòng địch, chiến đấu với địch bằng những hoạt động văn hóa, họ sáng tạo ra những tác phẩm văn học, nghệ thuật với đầy đủ ý thức của người cảm tử quân. Đồng thời văn hóa Việt Nam cũng tự hòa vì , cùng với đội quân cảm tử ấy, chúng ta đã tạo được một mạng lưới tổ chức để âm thầm truyền sức chiến đấu cho những người làm văn hóa, văn học, nghệ thuật thuộc nhiều tầng lớp khác trong quần chúng nhân dân và tạo mọi điều kiện để có thể ra mắt độc giả những tác phẩm văn học, nghệ thuật có lợi cho nhân dân, cho cách mạng ở nhiều mức độ khác nhau. Phải thấy được, phải hình dung được cái mạng lưới tổ chức tinh vi kia đằng sau những câu thơ, bài văn, đằng sau những hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật yêu nước - tiến bộ - cách mạng thì mới có thể thấy hết được chân giá trị của phần văn học - nghệ thuật ấy.
 
Suốt hai mươi năm tiến hành xâm lược Việt Nam, phía xâm lược đã áp dụng nhiều chiến thuật, chiến lược khác nhau. Họ đã tung ra nhiều đường lối, chính sách; bày ra nhiều âm mưu, thủ đoạn về văn hóa, văn nghệ hết sức xảo quyệt, tinh vi. Để chống lại, để chiến thắng đối phương, phía cách mạng, phía kháng chiến Việt Nam cũng phải dùng những phương sách, những biện pháp tinh vi. Mạng lưới tổ chức để thực hiện các đường lối, các chính sách đấu tranh trên mặt trận tư tưởng văn hóa nói chung; trên mặt trận văn học, nghệ thuật nói riêng, của phía cách mạng, kháng chiến mang đầy đủ các tính chất của sự tinh vi ấy. Phía đối phương dùng khủng bố trấn áp để thực hiện đường lối "văn hóa, văn nghệ chỉ huy" - phía cách mạng có hình hoạt động văn hóa, văn nghệ đơn tuyến, mai phục trường kỳ ngay trong tổ chức của đối phương, thâm nhập vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ của đối phương để hoạt động cho văn hóa, văn nghệ cách mạng. Đối phương tung ra đường hướng: "văn hóa, văn nghệ tự phát" để bịp dân bằng chiêu bài "tự do", "dân chủ" - phía cách mạng, kháng chiến sử dụng ngay những sơ hở tất yếu của sự tự phát tư bản chủ nghĩa để cài vào đó các tổ chức, các hoạt động văn hóa, văn nghệ "tự giác cách mạng". Đối phương dùng lá bùa văn hóa, văn nghệ "ngụy dân tộc" - phía cách mạng, kháng chiến đưa luôn ngọn cờ bảo vệ văn hóa dân tộc chân chính ra hợp pháp, công khai. Đối phương giở con bài "văn hóa, văn nghệ chiêu hồi", tập các Hội, Đoàn văn hóa, văn nghệ phản động để phục vụ cho những ý đồ chiến tranh tâm lý - phía cách mạng, kháng chiến cũng lập những Hội, Đoàn và chi phối luôn cả những Hội, Đoàn do đối phương lập ra, phân hoá luôn cả trí thức, văn nghệ sĩ, kể cả các văn nghệ sĩ, trí thức cánh hữu; cảm hóa và sử dụng cả luôn những người thuộc phái ta trong cánh hữu ấy, kéo họ vào tổ chức, vào các hoạt động có lợi cho dân tộc, cho cách mạng. Đối phương sử dụng bộ máy chính quyền ngụy để hạn chế xuất bản sách, báo - phía cách mạng, kháng chiến chủ trương đâu in, đâu đăng thì ta viết để đấu tranh cho văn hóa, cho văn học, nghệ thuật của ta. Đối phương mở rộng cửa xuất bản sách, báo để my dân - phía cách mạng, kháng chiến ra luôn báo chí, mở luôn nhà xuất bản của ta và ai viết, không có hại cho ta, thì ta in, ta đăng, ta xuất bản, vừa để che mắt đối phương, vừa tạo điều kiện để thức tỉnh, lôi kéo, gây ảnh hưởng của cách mạng, của dân tộc vào những người làm văn hóa, văn học, nghệ thuật làm sai lạc. Đối phương dùng chiêu bài "mở rộng giao lưu", "phát triển hội nhập văn hóa" để mở rộng cửa cho văn hóa, văn nghệ độc hại và cả văn hóa, văn nghệ chân chính của nước ngoài tràn vào để lợi dụng, xuyên tạc - phía cách mạng, kháng chiến sử dụng luôn cánh cửa để đó để dịch, để giới thiệu, để phổ biến những tác phẩm của nước ngoài tốt, bổ ích cho nhân dân, cho cách mạng. Đối phương lợi dụng chất bồng bột của tuổi trẻ, khích động lực lượng văn học, văn nghệ thanh niên, sinh viên, học sinh - phía yêu nước, cách mạng, tiến bộ xen kẽvào đó, khơi dậy phong trào văn hóa, văn nghệ đấu tranh mạnh mẽ, phản kháng ngoan cường cuả giới trẻ đô thị. tất cả sự việc đó nói lên ý nghĩa to lớn, mức độ tế nhị của phần văn hóa, văn học, nghệ thuật yêu nước - tiến bộ - cách mạng trong các đô thị Nam Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975. Có thể nói: đó là một phần văn hóa, văn học, nghệ thuật góp tiếng nói có trọng lượng đáng kể để trả lời cho câu hỏi thời đại: Vì sao Việt Nam thắng Mỹ?
Từ trong các chủ trương, đường lối, từ trong tổ chức các bộ máy hoạt động văn hoá, văn nghệ, trong các biện pháp thực hiện..... đến từng nhà xuất bản, từng tờ báo, và có khi trong từng số báo, từng quyển sách, thậm chí từng bài viết, từng tác phẩm......đã thể hiện sự xen kẽ địch - ta. Điều đó khiến cho độc giả ngày nay không chỉ căn cứ trên văn bản, trên tác phẩm: không chỉ dựa vào giấy trắng, mực đen mà cho là đã có thể hiểớu được đầy đủ. Bởi vì chính những người viết văn, những người làm văn hóa, văn nghệ phản động, phản dân tộc: nhiều lúc, nhiều nơi lại nói về, viết về "chính nghĩa", về "công bằng", về "tự do",về "độc giả", về "tính tự do dân tộc", về "tình người", thậm chí về cả sự tệ hại của đế quốc....còn có vẻ hùng hồn, mạnh mẽ hơn những người làm văn học, hoạt động văn hóa, văn nghệ cách mạng - yêu nước - tiến bộ.
 
Kẻ thù của dân Việt Nam muốn tiến hành một việc làm phi nghĩa là chiến tranh xâm lược, đã dùng mọi thủ đoạn giả trá hòng làm sao xóa mờ đi tính chất phi nghĩa của việc làm đó. Điều đặc biệt ở đây là: với kinh nghiệm của một đế quốc đầu sỏ hiện đại, với sức mạnh của sự giàu có về vật chất, họ đã tạo ra được những sự giả trá tinh vi - giả mà y như là thiệt, nhất là trong lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật. Cho nên, nhiều khi nó đã lộn lẫn vào thứ thiệt của văn hóa, văn học, nghệ thuật cách mạng - yêu nước - tiến bộ. Đó cũng là một trong những điểm khác nhau giữa văn hóa, văn học, nghệ thuật mang sắc thái thực dân mới và văn hóa, văn học, nghệ thuật mang tính chất thực dân cũ. Vì vậy mà ở đây, muốn phân biệt thiệt -giả, phải tìm hiểu nhiều khâu khác bên cạnh việc tìm hiểu các bài thơ, vài văn cụ thể. Trong đó có lẽ trước hết phải kể đến khâu tìm hiểu những con người cụọ thể đã sản sinh ra tác phẩm văn học, những hoạt động văn hóa, nghệ thuật đó. Tức là quy các sản phẩm văn hóa, văn nghệ về với tác giả của nó để hiểu nó được sâu hơn. Trong việc tìm hiểu tác giả ở đây chúng ta lại gặp phải nhiều vấn đề cụ thể khác không thật giản đơn. Chẳng hạn như vấn đề tìm hiểu sự diễn biến về chỗ đứng, về cách nhìn, về tâm tư, tình cảm qua suốt hai mươi năm ấy của từng người có góp sức vào phần văn hóa, văn học, nghệ thuật cách mạng - yêu nước - tiến bộ.
 
Trong hai mươi năm chống chiến tranh xâm lược, xã hội Việt Nam đã trải qua nhiều biến động dữ dội. Dữ dội trên toàn xã hội và dữ dội ngay trong từng con người, nhất là những người ở ngay trong lòng địch. Đó là một thực tế. Văn nghệ sĩ và những người làm văn hóa ở đây không thể thoát ly khỏi thực tế ấy. Trong cả một quá trình dài hoạt động sáng tạo của mình không hiếm người trong họ khó tránh khỏi những bước gập ghềnh, những hồi chao đảo. Tùy theo bản lĩnh chủ quan và hoàn cảnh khách quan của từng người mà sự gập ghềnh, chao đảo đó xảy đến với nhiều mức độ khác nhau. Những chao đảo, ngả nghiêng trong tâm tư, trong tình cảm, đến một mức độ nhất địồnh, tự nhiên sẽ chuyển thành những biến đổi về thế giới quan, về nhận thức. Và, theo quy luật chung về sự thống nhất giữa thế giới quan và sáng tác, những chao đảo, ngả nghiêng đó không thể không bộc lộ ra trong sáng tác văn học, nghệ thuật, trong hoạt động văn hóa. Bởi vậy, khi đã quy được tác phẩm về với tác giả của nó rồi, vấn đề phức tạp là ở chỗ phải tìm hiểu những diễn biến về tư tưởng và tình cảm, về nhân sinh thân tác giả đó trong hơn hai mươi năm ấy, để từ đó khẳng định những cái hay, cái tốt; lý giải những cái xấu, cái sai trong tác phẩm của họ với công chúng. Trong việc làm này dựa vào ý kiến của chính các tác giả là rất quan trọng, tuy nhiên đó không phải là nguồn tin duy nhất. Bởi vì có nhữồng việc làm, có khi tốt, có khi xấu nhưng lúc làm không phải bản thân tác giả luôn luôn ý thức được tính chất của việc mình làm. Cho nên, để định giá trị của các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các hoạt động văn hóa còn cần căn cứ vào những quy luật, những con đường diễn biến lô-gích của nhận thức, của tình cảm, của hành động trong đời sống cũng như trong lao động văn học, trong sáng tạo nghệ thuật của các tác giả nữa.
 
Lại còn những trường hợp ý muốn chủ quan của tác giả không hoàn toàn phù hợp, hoặc có khi mâu thuẩn với tác dụng khách quan của tác phẩm. Nhất là trong điều kiện hoạt động công khai phải luồn lách, phải tránh né, phải ngụọy trang mà những người hoạt động văn hóa, những người làm văn học, nghệ thuật cách mạng - yêu nước - tiến bộ phải chịu đựng trong các đô thị Nam Việt Nam hai mươi năm ấy.
 
Tuy nhiên, dù ý muốn của tác giả thế nào đi chăng nữa mà nếu tác phẩm gây ảnh hưởồng xấu đối với công chúng, làm nhụt ý chí chiến đấu, góp phần tạo ra cuộc sống trụy lạc, suy đồi cho xã hội, có lợi cho phía xâm lược thì tác phẩm văn học, nghệ thuật ấy, hoạt động văn hóa ấy không thể nào được xem là có giá trị.
 
Phần văn hóa, văn học, nghệ thuật cách mạng, yêu nước - tiến bộ tại các đô thị miền Nam muốn được đánh giá đúng không thể không đề cập tới các đường lối, chính sách về văn hóa, văn nghệ của phía cách mạng, phía kháng chiến.
 
Như đã trình bày ở trên, để chống lại những âm mưu, thủ đoạn của lực lượng xâm lược, phía cách mạng và kháng chiến Việt Nam đã dùng đến các thủ pháp hết sức tinh vi, tế nhị. Đường lối, chỉ trương của phía cách mạng và kháng chiến Việt Nam không phải chỉ được thể hiện trên những lời tuyên bố, bằng những văn bản công khai mà còn phải tận dụng tất cả các hình thức bán hợp pháp, bất hợp pháp để chống lại phía xâm lược. Bởi vậy, tìm hiểu chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của phía cách mạng và kháng chiến, nhất là ở khâu tổ chức, thực hiện ngay trong lòng địch là hết sức cần thiết. Ở đây, nhiều lúc khó có thể tìm ra đầu mối cụ thể trên văn bản có giấy trắng, mực đen, dù là bản in ronéo, bản đánh máy hay thậm chí chỉ là bản viết tay(!) mà có khi phải tìm lại các thông tư, chỉ thị, quyết định, đôi lúc rất quan trọng qua trí nhớ của những cán bộ lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, đấu tranh văn hóa; cũng như thông qua hồi ức của các văn nghệ sĩ cách mạng - yêu nước - tiến bộ đã hoạt động trong từng vùng, từng lớp của các mạng lưới đấu tranh của phía cách mạng và kháng chiến. Bởi vì ngay các văn kiện, các văn bản đã được in ra trước đây của các tổ chức, các cấp địa phương, nhiều cái rất quan trọng, nhưng do những điều kiện khó khăn, ác liệt của cuộc chiến đấu dai dẳng suốt hai mươi năm ấy mà một số lớn ngày nay không còn giữ lại được nữa. Trong phạm vi này chúng ta phải kể đến cả những trường hợp có những lúc, những nơi các tổ chức chỉ đạo văn hóa, văn học, nghệ thuật cách mạng chưa kịp móc nối với một số văn nghệ sĩ cách mạng, nhưng các văn nghệ sĩ đó vẫn vận dụng những nhận thức của bản thân về phương hướng, đường lối chung trong văn hóa, tư tưởng của cách mạng và họ đã tự động tổ chức thành những nhóm hoặc có khi chỉ hoạt động riêng lẻ chiến đấu chống kẻ thù. Những trường hợp như vậy, tuy không phổ biến, nhưng đã xảy ra, nhất là ở thời kỳ năm, sáu năm đầu của cuộc kháng chiến.
 
Để hình dung được sức mạnh của văn hóa, văn học, nghệ thuật cách mạng - yêu nước - tiến bộ phải quan tâm đầy đủ đến sự tổ chức, chỉ đạo từ phía kháng chiến. Có thể nói trong lịch sử văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam chưa bao giờ mối liên quan giữa những người hoạt động văn hóa, sáng tác văn học, biểu diễn nghệ thuật với những người tổ chức lãnh đạo, xây dựng phong trào cách mạng gắn bó với nhau chặt chẽ như là tình hình hoạt động của văn hóa, văn nghệ cách mạng - yêu nước - tiến bộ ở Nam Việt Nam hai mươi năm ấy. Ở đây rõ ràng là để có được một cơ quan xuất bản, một cơ quan ngôn luận, thậm chí đôi lúc chỉ để cho một tác phẩm văn học, nghệ thuật, một hoạt động văn hóa cách mạng, yêu nước - tiến bộ được ra đời, phía cách mạng và kháng chiến đã phải trả bằng công sức, bằng trí tuệ, có lúc băỡng cả những năm tháng tù đàỗy, bằng cả xương máu của bao nhiêu đồng chí, bao nhiêu cán bộ tổ chức, lãnh đạo mà nhiều người trong số đó tên tuổi, công lao không hề được độc giả, khán giả, thính giả biết đến. Có những tác phẩm được người chỉ đạo của phía yêu nước, cách mạng gợi ý xây dựng từ đề tài , chủ đề; có tác phẩm được góp ý xây dựng từ đề cương và cũng có những tác phẩm, những văn bản quan trọng mà người đứng tên chỉ có ý nghĩa đóng góp về mặt nổi, tức là về mặt chịu trách nhiệm công khai trước công chúng, trước chính quyền Mỹ - ngụy nếu chính quyền đó bị ta đánh lừa được, còn tác giả đích thực của tác phẩm ấy, của các văn bản ấyở có thể là một cán bộ cách mạng khác, một văn nghệ sĩ cách mạng, yêu nước được phân công nằm vùng hay là một tập thể lãnh trách nhiệm trước tổ chức cách mạng mà viết ra, mà sáng tạo ra.
 
Thời điểm ra đời của tác phẩm, của việc hoạt động là đặc biệt quan trọng đối với phần văn hóa, văn học, nghệ thuật cách mạng - yêu nước - tiến bộ. Bởi vì, chẳng hạn như một tác phẩm nói lên sự đau khổ vì chiến tranh, nếu ra đời vào lúc nào đó thì có tác dụng trong công chúng như là một tác phẩm yêu nước - tiến bộ, nhưng ra đời vào một lúc khác thì lại nằm trong ý muốn của kẻ thù. Ở đây lại cần phải phân biệt cho được loại tác phẩm được sáng tác dưới sự chỉ đạo của phía cách mạng, yêu nước với các tác phẩm được sáng tác một cách tự phát, thậm chí sáng tác theo ý muốn của một phe phái nào đó của phía chống lại cách mạng, nhưng trong một lúc nào đó, thấy có lợi cho phong trào cách mạng chút ít nên đã được cơ sở cách mạng ở một số nơi tạo điều kiện phổ biến, lưu hành.
 
Phải gắn chặt với tình hình diễn biến cụ thể của cuộc kháng chiến, gắn chặt với thế đứng của cách mạng, gắn chặt với tương quan lực lượng giữa địch và ta ở từng nơi, từng lúc mới có thể đánh giá đúng chất lượng về nội dung cũng như về hình thức các tác phẩm văn học, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, yêu nước - tiến bộ - cách mạng. Một ý thơ, một câu văn, một bức tranh, một bài hát... dù mộc mạc, đơn sơ, dù chỉ nó xa xôi, bóng gió gợi lên lòng yêu nước, thương nòi: nói lên tình gắn bó Bắc - Nam... lúc mà cách mạng đang gặp khó khăn, nơi mà phong trào đang bị khủng bố... phải được đặc biệt coi trọng, phải được đánh giá cao, có khi hơn cả những tác phẩm dài hơi nói lên ý trực tiếp về đấu tranh, về cách mạng, nhưng lại ra đời ở một nơi, một lúc mà thế hoạt động công khai của phía cách mạng - yêu nước - tiến bộ đang được giữ vững; ở một nơi, một lúc mà cách mạng đang trong thế áp đảo kẻ thù hoặc đang có phong trào mạnh mẽ.
 
Nhân dân Việt Nam đã buộc phải tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng dài suốt hơn hai mươi năm. Hơn hai mươi năm đầy thử thách ác liệt, gay go. Những người hoạt động văn hóa, sáng tạo văn học, nghệ thuật cách mạng - yêu nước - tiến bộ ở ngay trong lòng chế độ chính quyền Nam Việt Nam bấy giờ đã phải sử dụng ngọn bút công khai để chống lại, trong khi kẻ thù dùng mọi âm mưu, thủ đoạn hết sức gian xảo, quỷ quyệt để lôi kéo, phân hóa, hoặc trấn áp, khủng bố họ một cách hung bạo, ác liệt. Dù chỉ là cầm bút, các tác giả văn học yêu nước - tiến bộ - cách mạng cũng chẳng khác gì chiến sĩ ngoài mặt trận. Có tác phẩm văn học, nghệ thuật của các chiến sĩ văn hóa, văn nghệ dũng cảm, kiên cường; biết hoạt động sáng tạo một cách khôn khéo, mưu trí, tinh vi, những chiến sĩ - nghệ sĩ biết xả thân, phóng bút và sẵn sàng chịu trận với kẻ thù khi cách mạng và kháng chiến cần và cũng biết kiên trì, tỉnh táo ghìm ngọn bút của mình lại để tự giấu mình lúc cách mạng yêu cầu bảo toàn lực lượng.
 
Văn học yêu nước - tiến bộ - cách mạng trên văn dàn công khai Sài Gòn thời kỳ 1954 - 1975 là một bộ phận quan trọng và độc đáo có ý nghĩa lớn của dòng văn hóa, văn nghệ cách mạng - yêu nước - tiến bộ tại các vùng bị địch tạm chiếm ở Nam Việt Nam hai mươi năm ấy. Bộ phận văn học này rất xứng đáng và rất đầy đủ tư cách để cùng với bộ phận văn học bán công khai, không công khai; bên cạnh văn học giải phóng miền Nam đi vào lịch sử văn học như là một điểm son, một niềm tự hào của văn hóa, văn nghệ Việt Nam thời hiện đại.
 
 ("Văn học yêu nước - tiến bộ - cách mạng 1954 - 1975" NXB văn nghệ)
 

Các bài khác:
· ĐƯA VĂN HỌC VIỆT RA THẾ GIỚI - PHẢI VẼ CHO NÓ MỘT LỘ TRÌNH
· ĐỔI MỚI THƠ CA KHÔNG CHỨA ĐỰNG TÍNH THỜI THƯỢNG
· NƯỚC MẮT CỦA LÒNG KHOAN DUNG
· NGHE VANG VỠ CÁI BẤT BÌNH THÀNH THƠ
· THẦN ĐỒNG THƠ VIỆT Ở ĐÂU?
· BUỒN VUI NUÔI WEB
· PHẠM SỸ SÁU GÌN GIỮ KHÚC CA ĐỒNG ĐỘI
· "VĂN CHIÊU HỒN" VÀ "PHẢN CHIÊU HỒN"
· TẠ DUY ANH VÀ GIẤC MƠ KỲ LẠ TRONG PHÒNG SẢN PHỤ
· VÒNG VO THƠ VIỆT TỪ CẢM XÚC HẬU HIỆN ĐẠI
· "BÙI GIÁNG ĐIÊN VÌ ÔNG QUÁ TỈNH"
· MAI BÁ ẤN VÀ "THỊ TRƯỜNG LỤC BÁT"
· PHÊ BÌNH CŨNG CẦN TẠO... KHOÁI CẢM
· 10 SỰ KIỆN VĂN HÓA-VĂN NGHỆ NĂM 2009
· LÂM THỊ MỸ DẠ TIN VÀO SỰ SẮP ĐẶT CỦA SỐ MỆNH
· TRẦN ĐĂNG KHOA - "VIẾT ĐỂ AI CŨNG ĐỌC ĐƯỢC"
· CUỘC GẶP GỠ ĐẦU TIÊN VÀ CUỐI CÙNG VỚI TẾ HANH
· NGUYỄN NHƯỢC PHÁP - THI SĨ TÀI HOA MỆNH YỂU
· VĂN CAO VÀ PHẠM DUY - TIÊN CẢNH VÀ TRẦN GIAN
· NHÌN THẤY CÁI CHẤM NHỎ VIỆT NAM TRÊN BẢN ĐỒ VĂN HỌC THẾ GIỚI

 

  
Gia đình Bích Khê