DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
HÌNH TƯỢNG MA NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC VIẾT

PHẠM PHÚ UYÊN CHÂU

 

Nếu như hình tượng ma trong văn học dân gian nặng về tính hiện thực hơn tính nghệ thuật, thì trong văn học viết, tính nghệ thuật hoàn toàn lấn át tính hiện thực. Mấu chốt của văn học kì ảo (văn học viết) là cái kĩ thuật khiến con người ta hồ nghi, giữa lí trí duy vật và nỗi sợ hãi duy tâm, giữa duy lí và duy cảm.

                                                 Ảnh minh họa:nguồn Internet

 Nó không chỉ dừng lại ở các motif có tính chất kĩ thuật, mà biến hoá khôn lường theo quyền năng của sáng tạo. Tác giả dân gian tưởng tượng nhưng đồng thời hoàn toàn tin tưởng vào sự tồn tại siêu nhiên, đó là đặc điểm trong tư duy nguyên thuỷ của nhân loại. Tác giả văn học viết thì không có nhu cầu tin tưởng, mà ma là một cách đánh lạc hướng khỏi thực tại vô cùng hữu ích, gây nghi ngờ nhưng lại không cho phép độc giả phủ định. Nếu trong văn học dân gian, hình tượng ma thiên về nội dung, thì trong văn học viết hình tượng ma lại là một thủ pháp nghệ thuật thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả.

Ma là một hình tượng nhân vật phổ biến trong văn học từ thời cổ đại. Càng phát triển, nhân loại càng tin vào tư duy duy lí, phủ định các yếu tố siêu nhiên thần thánh, nhưng lại không thể phủ nhận ma trong văn học. Hinh tượng ma tiến hoá ngày càng mạnh mẽ trong văn học, không thể nắm bắt, không thể hiểu nổi, trở thành cái kì ảo khôn cùng của thực tại câu chữ. Từ Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ đến Trăm năm cô đơn của G.G. Marquez,Con ma của G.Boccacio, Người đi xuyên tường của Marcel Aymé,… ma ngày càng phát triển trong tư duy nghệ thuật của nhân loại. Bóng ma trong trang sách làm giàu cho tác phẩm nghệ thuật. Có thể lấy ví dụ bằng truyện kinh dị của Edgar Poe, cây bút tài năng đã đóng góp to lớn cho văn học hiện đại, đặc biệt ở hai mảng truyện kinh dị, kì ảo và truyện trinh thám. Sự hòa quyện giữa hai mảng truyện này khiến Poe được Baudelaire nhận định: “Không một ai có sức mê hoặc đến như vậy về những ngoại lệ của cuộc sống con người và tự nhiên”. Con mèo đen trong tác phẩm của Poe là một con ma động vật, bị giết chết một cách tàn bạo nhưng chỉ bị huỷ hoại thể xác chứ không thể bị tiêu diệt về linh hồn. Con mèo trở thành bóng ma, thành nhân vật theo đuổi suốt cuộc đời kẻ giết nó - nhân vật kể chuyện, không chỉ ám ảnh mà còn có sức mạnh đến mức đưa đẩy kẻ thù đến bước đường giết vợ, trở thành kẻ sát nhân. Kẻ thủ ác cho dù đã giấu giếm thế nào cuối cùng cũng bại lộ, bức tường xây để giấu xác cuối cùng cũng bị công lí tìm thấy, và bóng ma đã hoàn thành cuộc trả thù dữ dội của nó. Poe không viết nhiều về nhân vật ma, chỉ tiêu biểu ở hai tác phẩm Con mèo đen và Kỉ niệm của Ô.Bedloe, bởi ông thường tìm ra cách giải đáp lí tính cho những điều thần diệu trong tác phẩm của mình vào phút cuối, bằng một logic nghiêm ngặt đến ngạc nhiên. Thế nhưng người đọc đã có thể hồ nghi sự tồn tại của ma mà đón nhận tác phẩm, cũng có thể đón nhận xong tác phẩm thì hồ nghi tính lí trí (vì quá lạ) của tác giả mà mong chờ ở cái ma diệu thần bí. Poe đã thiết lập kĩ thuật cho không ít nhà văn kì ảo noi theo, cũng mở lối cho một nhánh truyện ma trong văn học hiện đại phát triển.

Ma trở thành kĩ thuật thể hiện tài năng, thử thách lí tính và năng lực nghi ngờ của tác giả và độc giả, trong một cuộc thách đố đầy yếu tố lạ thường và huyễn tưởng. Văn học Việt Nam hiện đại từ buổi mở màn đã xuất hiện yếu tố kinh dị, ma quái, với Yêu ngôn (Nguyễn Tuân), Vàng và máu, Trại Bồ Tùng Linh, Đêm trăng (Thế Lữ ),… Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn “vang bóng một thời” mà sự nghiệp được vinh danh cũng phần nào bằng hình tượng ma, khi viết về cái thời của những anh khoá văn hay chữ tốt nhưng bị ma hiện về báo oán nên hỏng thi (Khoa thi cuối cùng), cái thời mà sơn thần Tản Viên thường xuống trần gọi thợ lên sửa đền trên đỉnh Ba Vì (Trên đỉnh non Tản), cái thời của các lò giấy làng Hồ Khẩu bên bờ hồ Tây chuyên chế loại giấy ngự, thấm đẫm những âm linh vất vưởng mơ hồ… Các hồn ma đều mang vóc dáng ma tài tử, tài hoa, ma rất Nguyễn Tuân: “Ấy là những kẻ suốt đời săn tìm cái đẹp, có thể bỏ cả hàng đống tiền để cầu lấy một bức tranh cổ cũ nát, thậm chí tiêu cả cơ nghiệp vào tiếng đàn giọng hát. Lúc ở dương gian đã thế, khi chết đi, hồn phách vẫn không chịu rời bỏ chốn thanh lâu, đêm vẫn đánh trống chầu trên những mái nhà nơi hàng viện” (Yêu ngôn). Người như Nguyễn Tuân, nếu có đau khổ thì cũng chỉ đắm đuối trong bể tình, dù cho ông là kẻ phàm trần như cậu ấm Đái trong Đới roihay người thần, người tiên như cô Dó trong Xác ngọc lam,… Sau năm 1945, Chùa Đàn của Nguyễn Tuân vừa có tính chất ma quái lại vừa giàu tính hiện thực, phản ánh thời đại con người còn có cảm giác trầm mình trong thế giới hồng hoang, hỗn mang. Truyện của ông là một thức yêu ngôn (tên mà Nhà xuất bản Hội Nhà văn đặt cho tập truyện ngắn được sưu tầm của Nguyễn Tuân, gồm tám truyện, xuất bản năm 1999), được viết bằng tài năng, tâm huyết của một nhà văn, một nghệ sĩ suốt đời kiếm tìm cái đẹp. Hình tượng trung tâm - ma, đã trở thành đối tượng, cơ sở cho sự phô diễn nghệ thuật tài hoa, độc đáo, uyên bác của Nguyễn Tuân. 

Với văn xuôi Thế Lữ, ta bắt gặp một giọng văn hiện đại trong không khí dựng truyện và miêu tả cái chết, vừa huyền bí ảo mộng lại vừa phản ánh tâm trạng cuộc sống thực của con người: “Cái bóng đàn bà thoáng hiện lần đầu, lại hiện ra lần thứ hai, trong đêm vừa qua, cùng một trường hợp giống nhau, nghĩa là lúc anh đang làm việc mải miết. Thốt nhiên một cảm tưởng lạ ám đến, anh trờn trợn như mình có người chú ý, ngửng đầu lên… Tuấn chưa hết kinh ngạc thì người ấy đã lui ngay. Không một dấu vết khác lạ. Người đàn bà đẹp như đã tan vào trong đêm”. Người đàn bà trong Trại Bồ Tùng Linh ấy có thực hay là ảo giác của sự lao động miệt mài, nó giống như câu hỏi “ma có thực hay không”, dắt con người lí trí và khoa học vào thế giới của nhữug điều thần bí và những ảo mộng đẹp đẽ mơ hồ nhất. Tác phẩm đậm chất liêu trai này gợi liên tưởng đến Romuald trong Người chết si tình của Théophile Gautier: “Một chiều, trong khi dạo chơi trong cái lối đi viền bằng cây hoàng dương, hình như tôi nhìn thấy sau lùm cây hình thù một người đàn bà”. Đôi khi anh ta tưởng thấy chân người động đậy, đôi khi lại chẳng thấy gì, anh ta thấy người con gái mình yêu đã chết sống lại, “không rõ đó là một ảo giác hay một hồi quang của cây đèn nhưng ta có thể nói máu lại bắt đầu lưu thông dưới sự nhợt nhạt xạm màu kia”. Có sự can thiệp của quỷ dữ, cũng có thể chỉ là chuyện ngẫu nhiên, là ảo giác chứ không chắc là ma quỷ. Nhiều tác phẩm văn xuôi Việt Nam đương đại đã sử dụng yếu tố kì ảo, xây dựng hình tượng ma trở thành mấu chốt, linh hồn của thế giới nghệ thuật, có sức lay động đến khoảng sâu thẳm trong tâm hồn người đọc. Một số tác giả sử dụng hình tượng ma như thủ pháp nghệ thuật, như chìa khoá diệu kì dẫn con người vượt qua cánh cửa giới hạn hiện thực - tâm linh như Võ Thị Hảo vớiĐêm bướm ma, Hồ Anh Thái với Cõi người rung chuông tận thế, Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè,…

Chủ nghĩa hiện thực không đòi hỏi tính xác thực mà chỉ đòi hỏi tính chân thực, không đòi hỏi những phẩm chất của chủ nghĩa thực nghiệm mà đòi hỏi sự lí giải hiện thực (cả đời sống và tâm trạng) như nó vốn có. Người không thể mọc đuôi (Cái đuôi), không thể tự nhiên dài ra (Anh hề), không thể đi xuyên qua bức tường vật chất (Người đi xuyên tường) hay ngủ một đêm, sáng ra thấy mình đã biến đổi thành một sinh vật khác, không còn là người (Hoá thân),… Tất cả những yếu tố hiện thực khi đạt đến sự tuyệt đối, sẽ nảy sinh siêu thực. Cái hiện thực được thể hiện ngay trong cái phi hiện thưc, cái hợp lí thể hiện ngay trong các yếu tố phi lí. Con mèo chết có quyền báo thù, nó phải dùng ý niệm báo thù mà tồn tại, trở thành ma (Con mèo đen). Nó thể hiện ý chí và hi vọng của con người, không phải vào huyễn tưởng mà là trong thực tại, thể hiện ý tưởng tự do vượt thoát thực tại mà chính ta đang sống. Ngô Tự Lập trong Lời tựa cho bộ sách Truyện kì ảo thế giới cho rằng: “Truyện kì ảo đưa ra những sự kiện không thể giải thích nổi bằng những quy luật thông thường. Đó là một thế giới, nơi cái thực và cái ảo, cái tự nhiên và cái siêu nhiên xâm nhập lẫn nhau”. Thế giới của M.Aymé là thế giới của người mọc đuôi, người đi xuyên tường, người tự dài ra,… là thế giới của những nghịch dị, thuộc thế giới thứ hai bao trùm, cao hơn, hoà lẫn mà cô đọng, thu hẹp thế giới thứ nhất của thực tại. Nó chứng minh ý tưởng về chân lí thực sự, đó là trong đời sống con người chẳng có gì là không thể xảy ra. Chính cái phi thường ấy mới là cái bình thường nhất. Vì bản thân khoa học cũng là một điều kì diệu, khi con người, bằng tư duy, dần khám phá ra thế giới được tạo lập có nền tảng và căn cốt, với cách lí giải huyền nhiệm và rõ ràng của riêng nó.

Có thể dễ dàng nhận ra rằng, hình tượng ma cùng những hình tượng kì ảo khác có thể xuất hiện trong tất cả các loại hình, loại thể nghệ thuật. Ngay trong các loại hình nghệ thuật không gian có tính tạo hình cụ thể như kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh cũng không loại trừ các yếu tố kì ảo. Ma là đại diện chuẩn xác nhất, nó vô hình, trừu tượng nhưng thuộc về một thế giới hình tượng sống động và chân thực mà con người dễ dàng hình dung ra được. Đối với văn học, nó tập trung chủ yếu ở các thể loại được thể hiện theo phương thức tự sự, gắn liền với giọng điệu trần thuật, kể lại sự kiện khách quan nhưng đã thẩm thấu, hoá thân trở thành thế giới tâm hồn của tác giả và sau đó là của độc giả. Theo George Sand, thế giới kì ảo “không phải ở ngoài, cũng không phải ở trên, cũng không phải ở dưới, nó ở trong đáy lòng chúng ta, nó lay động đến tất cả, nó là linh hồn của tất cả sự thật, nó hiện diện trong tất cả mọi việc, mỗi nhân vật tự mình mang nó và biểu hiện nó theo cách của mình”. Trong những nhân vật kì ảo ấy, ma là hiện tượng đầu tiên con người ta nhắc đến. Bởi nó là điều băn khoăn của những người lí trí nhất đến những kẻ u mê nhất, nó làm rối trí các nhà hoài nghi chủ nghĩa, làm phân vân lập trường của những người tin tưởng vào khoa học duy lí, nó phủ bóng huyền diệu lên tư duy của con người từ thơ ngây đến già cỗi. Hình tượng của nó lại được giải phóng thoả đáng nhất trong văn học, dành chỗ cho trí tưởng tượng phát triển, không mơ hồ vô cớ mà luôn có nguyên do cụ thể, luôn có vị trí và ảnh hưởng sâu sắc đến cả sáng tác và tiếp nhận. Ma có thể là một chấp niệm, một mơ ước, có thể là bày trò giả dối, nhưng hình tượng ma là điều kì diệu đối với văn học, nghệ thuật, với thế giới tưởng tượng. Bằng sự tồn tại màu nhiệm của nó, dưới kĩ thuật tinh xảo của các nhà văn, hình tượng ma đã làm giàu thêm cho lịch sử tâm hồn của nhân loại.

Nguồn: Văn nghệ Quân đội

 

Các bài khác:
· ĐỂ NGƯỜI TRẺ ĐỊNH VỊ MÌNH TRONG THI CA
· LÊ LỰU - HOÀI VỌNG VÀ CÔ ĐƠN
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· LỐI ĐI TÂM LINH TRONG THƠ HOÀNG CẦM
· LÊ THANH PHÁCH - "HỒN NEO ĐẬU BẾN SÔNG QUÊ"
· TÀI THÔI MIÊN CỦA NHÀ VĂN PHẠM CAO CỦNG
· CHÙM THƠ PHẠM CÔNG TRỨ
· HOÀNG CẦM - GÃ PHÙ DU KINH BẮC
· CHÙM THƠ CỦA NGUYỄN KHÁNH DUY
· CHIỀU CỔ LOA NỔI GIÓ
· CHÙM THƠ ALĂNG VĂN GÁO
· HUYỀN THƯ - BÊN KIA ĐẠI DƯƠNG MANG THEO CẢ NỖI NIỀM XỨ SỞ
· BÙI GIÁNG - 20 NĂM "VỀ CHÍN SUỐI ĐÁ VÀNG"
· TỪ KẾ TƯỜNG - CÒN NHỮNG ĐÁM MƯA TAN TRONG MẮT
· LÀNG QUÊ CỦA MỘT HỒN THƠ
· CHÙM THƠ NGUYỄN MINH PHÚC
· NGÔ MINH - NGỰA ĐÁ VÀ NHỮNG BÔNG HOA CỎ
· NGUYỄN BÍNH - THI SĨ CỦA THƯƠNG YÊU
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· CHÙM THƠ CỦA TRẦN YÊN HÒA

 

  
Gia đình Bích Khê