DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
ĐẶC ĐIỂM TỪ XƯNG HÔ CỦA ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG NHẬT KÍ ĐẶNG THÙY TRÂM

 - TRỊNH BÍCH THÙY

                                                      

          Ngôn ngữ ra đời đáp ứng nhu cầu giao tiếp của xã hội. Tùy theo hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp mà người giao tiếp lựa chọn cách xưng hô sao cho phù hợp. Việc sử dụng các đại từ nhân xưng và lớp từ xưng hô trong hội thoại là rất quan trọng. Bởi vì, các đại từ nhân xưng và lớp từ xưng hô thể hiện thái độ, sắc thái tình cảm của người nói đối với người nghe hay đối tượng được nói tới.

Gần đây, Nhật kí Đặng Thùy Trâm sau bao nhiêu năm lưu lạc đã quay trở về Việt Nam. Cuốn Nhật kí đã dấy lên trong lòng mỗi thanh niên Việt Nam lòng yêu nước, sự biết ơn đối với những người đã ngã xuống vì dân tộc. Cuốn Nhật kí là những thước phim về một thời chiến đấu hào hùng của dân tộc Việt Nam. Trong đó, nữ anh hùng liệt sĩ- bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã sử dụng cách xưng hô một cách linh hoạt, vừa mang tình cảm của một chiến sĩ, một bác sĩ, một cô gái dành cho các thương bệnh binh nơi cô tiếp xúc. Là một người con của đất Quảng Ngãi, tôi thấy vô cùng tự hào vì được biết đến những trang lịch sử vẻ vang của quê hương mình qua những trang Nhật kí có lửa của Đặng Thùy Trâm. Tôi như được tiếp thêm sức mạnh, ý chí, niềm tin trên con đường cống hiến sức trẻ của mình cho Tổ quốc.

1. Một số lí thuyết về từ xưng hô trong tiếng Việt

          Từ xưng hô là những từ thuộc nhiều lớp từ loại của ngôn ngữ được đưa ra sử dụng để “xưng” (tự quy chiếu) và “hô” (quy chiếu vào người khác) giữa các nhân vật khi giao tiếp. Hệ thống các từ xưng hô trong tiếng Việt bao gồm nhiều từ lọa khác nhau nhằm đáp ứng tính đa dạng của xưng hô trong giao tiếp xã hội vô. Trong khi các ngôn ngữ khác chỉ sử dụng các đại từ nhân xưng thì tiếng Việt, ngoài các đại từ nhân xưng (mà số lượng cũng rất phong phú do có nhiều biến thể), còn sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ họ hàng (anh, chị - em; ông, bà, bác, cô, gì, chú - cháu, con…) và một số danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ (thầy, cô, bác sĩ, ông cai, ông lý, ông huyện, ông đội…) để thay thế cho đại từ, chúng trở thành các từ đại từ hóa, những từ đại từ hóa này có xu hướng lấn át các đại từ nhân xưng.

          Trong tiếng Việt có tổng cộng trên 60 từ xưng hô. Hệ thống xưng hô cực kỳ phong phú này thể hiện rất rõ các đặc tính của văn hóa nông nghiệp Việt Nam:

- Có tính chất thân mật hóa cao (trọng tình cảm). Với cách xưng hô này, tất cả mọi người trong cộng đồng đều trở thành bà con họ hàng trong một gia đình. Theo tác giả Trương Thị Diễm trong cuốn Từ xưng hô có nguồn gốc thân tộc đã liệt kê các danh từ chỉ quan hệ thân tộc ( cả danh từ đơn và danh từ ghép): ông, bà, bố, mẹ, cô, bác, chú, dì, cậu, mợ, con, cháu, hay ông bà, chú thím, anh chị,...

- Có tính chất cụ thể hóa cao (tính linh hoạt). Trong hệ thống từ xưng hô này, không có cái “tôi” chung chung: với mỗi người đối thoại khác nhau, người nói ở vào những cương vị khác nhau, những vai khác nhau. Trong hệ thống từ xưng hô này, cũng không có cái “anh” chung chung, cái “nó” chung chung; quan hệ xưng hô phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp: Cùng là một cặp đối thoại, lúc ở trường học thì người này gọi người kia là thầy, nhưng khi về nhà thì lại gọi là em, vì người thầy kia chính là em trai (hoặc em họ) của người này. Tục ngữ Việt Nam có câu: Chú khi ni, mi khi khác. Cùng là hai người nam nữ, nhưng khi nhỏ thường gọi nhau bằng mày-tao; lớn lên gọi nhau là cậu-tớ; lấy nhau rồi gọi nhau là anh-em, là nhà nó; có con rồi gọi nhau là bố nó - mẹ nó, ba nó - má nó; có cháu rồi gọi nhau là ông nó - bà nó. Còn nhớ, vào những năm 60, có một vị lãnh đạo từng kêu gọi mọi người dùng các đại từ tôi, nó trong giao tiếp, xưng hô như ở các ngôn ngữ khác cho giản tiện và dân chủ, thế nhưng truyền thống văn hóa vẫn mạnh hơn: không một người Việt Nam nào có thể xưng “tôi” với một người cao tuổi, một người bậc trên; cũng như không một người Việt Nam nào gọi một người cao tuổi, một người bậc trên là “nó”.

- Có tính xã hội hóa cao (tính cộng đồng). Hai người nói chuyện với nhau đấy, xưng hô với nhau đấy, nhưng thực ra vẫn luôn luôn kéo cả những người thứ ba, thứ tư… vào cuộc. Đó là những lối gọi nhau bằng tên con, tên cháu, tên vợ, tên chồng… Hai vợ chồng gọi nhau là bố nó - mẹ nó, ba nó - má nó, ông nó - bà nó… chẳng là đã lôi cả những người thứ ba là con mình, cháu mình vào cuộc đấy ư? Hai người nói chuyện với nhau đấy nhưng cũng chính là đang thông báo, đang tự giới thiệu cho những người ngoài ­ những người thứ tư ­ biết rằng mình đã có con, có cháu; đã lên bậc cha, bậc mẹ; lên bậc ông, bậc bà…, để những người này nếu muốn giao tiếp với mình thì còn biết đường mà xưng hô!

- Có tính đa nghĩa cao (tính tổng hợp). Cùng là hai người, nhưng cách xưng hô có thể đồng thời tổng hợp được các quan hệ khác nhau: Lối xưng hô ông-con, chú-con, bác-em… vừa thể hiện quan hệ “ông-cháu”, “chú-cháu”, “bác-cháu”, vừa thể hiện quan hệ “cha-con”, “anh-em”; vừa thể hiện được sự cách biệt về tuổi tác (gọi “ông” là cách biệt rất lớn, ngang tuổi ông mình; gọi “bác” là cách biệt nhiều, ngang tuổi anh bố mình; gọi “chú” là cách biệt ít hơn, ngang tuổi em bố mình), sự cách biệt về vai vế (“ông” bằng vai với ông mình, “chú”, “bác” bằng vai với bố mình), vừa thể hiện được sự gần gũi, thân mật như cha con, anh em. Cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai đều cùng xưng là em và đều cùng gọi nhau là chị ­ lối xưng hô ấy không có gì mâu thuẫn, bởi lẽ một người xưng là “em” vì ít tuổi hơn, còn người kia xưng “em” vì có vai vế thấp hơn. Những quan hệ phức tạp khác nhau trong cuộc sống đều được thể hiện rất tài tình trong hệ thống xưng hô của người Việt Nam.

- Có tính tôn ty, nhưng đồng thời lại vẫn rất dân chủ. Tôn ty đây là sự thể hiện đúng quan hệ tuổi tác, thứ bậc trong họ hàng, ngoài xã hội…, và vì thể hiện đúng, cho nên rất dân chủ, công bằng. Dân chủ cho nên mới có chuyện cả hai cùng là chị và cùng là em. Dân chủ cho nên mới có cách gọi theo tên chồng tên vợ: Trong khi ở phương Tây chỉ có cách gọi theo tên chồng thể hiện quyền sở hữu của người chồng, thì ở Việt Nam, bạn bè của chồng có thể gọi vợ là chị Thanh (vợ anh Thanh), bạn bè của vợ có thể gọi chồng là anh Nga (chồng chị Nga).

- Thể hiện tâm lý nhường nhịn, trọng sự hòa thuận (hiếu hòa). Người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn (tự xưng thì khiêm nhường còn gọi đối tượng giao tiếp với mình thì tôn kính). Tính khiêm nhường này gắn liền với tính xã hội hóa: khiêm nhường đến mức không có một đại từ ngôi thứ nhất chung chung mà có rất nhiều cách tự thể hiện mình khác nhau: với người ngang hàng thì xưng là tôi, tớ, tao, mình…, với người trên thì xưng là em, con, cháu…, với người dưới thì xưng là anh/chị, cô/chú, bác, ông/bà… Khiêm và tôn đến mức hai trong số các đại từ dùng để tự xưng với người ngang hàng là tôi  tớ vốn bắt nguồn từ hai danh từ tôi  tớ có nghĩa là kẻ hầu người hạ (so sánh các cách nói bầy tôi, kẻ tôi tớ này…). Việc tôn trọng, đề cao nhau dẫn đến tục kiêng tên riêng: tên riêng xưa kia không dùng để gọi nhau (trái với chức năng bẩm sinh của nó!); gọi đến tên riêng, nhất là tên riêng của bố mẹ nhau (tên cái), là một sự xúc phạm ghê gớm – người ta chỉ lôi tên cái ra để “réo” khi chửi nhau. Đặt tên con cần nhất là không được trùng với tên của những người bề trên trong họ hàng cũng như xung quanh hàng xóm. Cũng vì kiêng tên riêng mà người Việt Nam trước đây có tục nhập gia vấn húy: vào nhà ai, phải hỏi tên chủ nhà trước để khi nói chuyện nếu có dùng đến từ đó thì phải nói chệch đi (người phương Tây thì, ngược lại, gặp nhau phải hỏi tên nhau để còn dùng tên ấy mà gọi).

Một hệ thống xưng hô quá tinh tế và linh hoạt như vậy chỉ gặp trong tiếng Việt và một vài ngôn ngữ Đông Nam Á chứ không có trong các ngôn ngữ phương Tây, Trung Hoa, kể cả những ngôn ngữ mà sự kính trọng người trên đã được ngữ pháp hóa như tiếng Nhật Bản, Hàn Quốc.

2.  Đặng Thùy Trâm và sự ra đời những trang Nhật kí lịch sử

          Liệt sĩ- bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh trưởng trong một gia đình trí thức Hà Nội. Bố là bác sĩ ngoại khoa, mẹ là dược sĩ, giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội. Tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, chị tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam với tư cách là một bác sĩ quân y và được điều vào công tác ở Đức Phổ, chiến trường Quảng Ngãi trong chiến tranh Việt Nam. Đặng Thùy Trâm vào Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968. Ngày 22 tháng 6 năm 1970, bệnh xá Đức Phổ bị tập kích, chị đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Hài cốt chị được mai táng tại nơi hy sinh, sau thống nhất được đưa về nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường (H. Đức Phổ).

          Nhật kí Đặng Thùy Trâm được viết vào những ngày tác giả công tác trên chiến trường Quảng Ngãi, vào những năm từ 1968 đến 1970. Đây là những năm cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta đang bước vào giai đoạn gay go, ác liệt nhất. Theo chủ trương của Đảng, hàng nghìn sinh viên các trường đại học phải tạm ngừng việc học tập, bổ sung lực lượng chiến đấu cho quân đội. Còn những sinh viên đã tốt nghiệp ra trường thì không chỉ coi việc ra chiến trường là nghĩa vụ mà còn trách nhiệm thiêng liêng, là niềm vinh dự và niềm ao ước phải giành lấy cho bằng được. Nhật kí Đặng Thùy Trâm mang theo nét trầm lắng, linh thiêng của Hà Nội vào chiến trường với ngọn lửa nồng nàn, hừng hực sức nóng của hậu phương. Ngọn lửa từ tâm hồn nhân cách của chủ nhân cuốn nhật kí đã thôi thúc những người lính có lương tri phía đối phương thực hiện những hành động đầy tình người một cách đẹp đẽ. Cuốn nhật kí có một sức hút kì diệu, hóa giải mọi nỗi hận thù giữa các bên đối địch, một sức hút không chỉ chinh phục những người bên kia chiến tuyến mà sức hút ấy còn làm cho họ phải day dứt, phải mất nhiều thời gian, tâm sức lần théo dấu vết chủ nhân của nó sau hơn 35 năm cất giữ trân trọng, cuốn nhật kí trở về đúng địa chỉ cần tìm về. Nhật kí Đặng Thùy Trâm ra mắt bạn đọc vào năm 2005, khi đất nước ta kỉ niệm 30 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Qua cuốn nhật kí, thế hệ trẻ của dân tộc, những chiến sĩ - trí thức trên mặt trận chống Mĩ cứu nước của thời đại Hồ Chí Minh mãi mãi ghi dấu son sáng ngời trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Chính họ đã làm rạng danh non sông Việt Nam.

3. Các hình thức xưng hô của anh bộ đội cụ Hồ trong Nhật kí Đặng Thùy Trâm

          Được sinh ra, lớn lên và học tập tại Hà Nội dưới chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc, cũng như nhiều thanh niên yêu nước khác, Đặng Thùy Trâm lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc, rời xa vòng tay của gia đình để vào Đức Phổ, nơi chiến trường khốc liệt vào những năm tháng kháng chiến chống Mĩ, thực hiện nhiệm vụ “ Bác sĩ chiến trường” tại một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu là điều trị cho các thương bệnh binh, cho nên cách xưng hô của Đặng Thùy Trâm với các chiến sĩ bệnh binh mang vừa mang sự cứng rắn của người chiến sĩ cách mạng, của một bác sĩ, vừa lại mang sự mềm dẻo, tình cảm nhẹ nhàng, yêu thương như anh chị em trong gia đình của một cô gái đang tuổi thanh xuân phải tạm gác những ước mơ, hoài bão, rời xa những hạnh phúc đang có để đến miền đất xa lạ chiến đấu vì Tổ quốc.

3.1. Các hình thức hô/ gọi của các anh bộ đội cụ Hồ trong Nhật kí Đặng Thùy Trâm

          Trong tiếng Việt, xưng hô bằng các danh từ thân tộc là một trong những tác nhân quan trọng để vun đắp, duy trì mối quan hệ tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp dựa trên quan hệ huyết thống. Đồng thời thể hiện sự ràng buộc về mặt tình cảm – nét đẹp “trọng tình” trong nguyên tắc ứng xử của người Việt. Mặt khác, việc dùng các danh từ thân tộc trong giao tiếp xã hội còn thể hiện “chiến lược giao tiếp” của người Việt. Khi thực hiện chiến lược giao tiếp, nhân vật giao tiếp luôn có sự điều chỉnh, lựa chọn từ xưng hô sao cho phù hợp với ngữ cảnh, đối tượng giao tiếp nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.

          Và trong cuốn Nhật kí Đặng Thùy Trâm, điều đầu tiên phải nói đến trong cách gọi các chiến sĩ thương binh tại bệnh xá của Đặng Thùy Trâm đó là tính thân mật hóa trong cách xưng hô bằng cách sử dụng một số lượng lớn các danh từ thân tộc. Một chức năng của từ xưng hô thân tộc trong giao tiếp của người Việt là chức năng gia đình hóa, thân thuộc hóa. Chúng giúp cho nhân vật giao tiếp hòa nhập vào cộng đồng giao tiếp. Mục đích là làm cho quan hệ giũa chủ thể giao tiếp và chủ thể giao tiếp trở nên gắn bó mật thiết hơn. Đây là một nét đặc trưng văn hóa của người Việt, là sự phản ánh tâm lí trọng tình trong tính cách con người Việt Nam: luôn coi những người cùng một nước như anh em cùng một nhà. Tam lí thân mật và xu hướng hòa nhập cộng đồng là một nét đẹp trong cách ứng xử văn hóa của người Việt. Nét văn hóa này tác động đến cơ chế ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ cũng đã có vai trò tác động trở lại tích cực: đó là cung cấp các phương tiện để liên kết các thành viên trong cộng đồng. Hay nói cách khác, xu hướng xưng hô này là một trong những biểu hiện điển hình của giao thoa ngôn ngữ- văn hóa Việt. Nội dung ngôn ngữ học của hiện tượng này là việc sử dụng những từ ngũ xưng hô có nguồn gốc thân tộc hướng tới những người không có quan hệ ruột rà, thân tộc. Hay nói cách khác: đem từ chỉ quan hệ thân thuộc dùng rộng ra ngoià xã hội tức là lâm thời xem những “ người dưng” như họ hàng. Và trong cuốn Nhật kí, chúng ta có thể thấy chị Trâm luôn coi mọi người trong khu bệnh xá như những thành viên trong gia đình của mình, một đại gia đình lớn. Đầu tháng 4 năm 1967, nữ anh hùng liệt sĩ bác sĩ Thùy được phân công về làm việc tại bệnh xá, nhưng ngay trước khi cô đến thì bệnh xá vừa bị phá tan tành. Mùa hè thì nóng, mua thu và mùa đông thì lạnh buốt. Trong điều kiện hết sức khó khăn, cả ngày lẫn đêm chị phải chẩn đoán các ca bệnh và phẫu thuật dưới ánh đèn dầu và đèn pin. Các chiến sĩ từ các đơn vị bộ đội nằm lại một thời gian, rồi tiếp tục đi, chỉ có những người chết và hấp hối thì mới ở lại. Tuy trong thời gian ngắn ngủi được tiếp xúc với các anh bộ đội cụ Hồ nhưng giữa chị và các anh chiến sĩ, cả những người dân Đức Phổ giường như có mối tương giao, gắn bó ruột thịt. Họ cùng là những con người phải rời xa cuộc sống an nhàn đang có để xuôi về phương Nam đi theo tiếng gọi Tổ quốc. Cho nên, khát khao hạnh phúc gia đình luôn tiềm ẩn trong tận đáy lòng các chiến sĩ và cả Đặng Thùy Trâm. Điều này thể hiện rõ ràng trong cách xưng hô. Trong dòng tâm tưởng của mình, chị Thùy luôn gọi các chiến sĩ, các đồng chí của mình một cách thân mật như gọi những thành viên trong gia đình của mình. Các chiến sĩ, các anh thương binh đều là những người anh, người chị, người em ruột thịt của Đặng Thùy Trâm. Giữa họ không tồn tại khoảng cách giữa người Bắc và người Trung về văn hóa hay ngôn ngữ. Ngay trong cách xưng hô, chúng ta có thể cảm nhận tình cảm của chị bằng những cách chị gọi các chiến sĩ bằng những từ ngữ mà chúng ta vẫn hay dùng để xưng hô trong gia đình: “ các anh”, anh Tuấn, anh Kỳ, chị Phượng, anh Tân,... rồi có lúc bằng chính “tình thương cửa một người thầy thuốc trước bệnh nhân, tình thương của một người chị đối với đứa em đau ốm và tình thương ấy đặc biệt hơn đối với mọi người vì cộng thêm cả lòng mến phục”, như vậy chị đã gọi San bằng “ em” dù cho San bằng tuổi mình. Dù trong vai trò là một bác sĩ, là người nắm số mệnh sống chết của các chiến sĩ, nhưng Đặng Thùy Trâm không hề tỏ ra kiêu ngạo trong cả cách chữa bệnh và cả cách xưng hô. Chị Trâm luôn đặt mình ở vị trí là em, là con, là cháu của các chiến sĩ và bà con Đức Phổ. Chị đã gọi các đồng chí bằng những từ xưng gọi thân mật và khiêm nhường: anh Kỳ và chị Phượng, chú Công, em mình, anh Tân, chị Xuyến, hay cách gọi “những đứa em thân yêu dưới đồng bằng. Một người bạn đang xông vào tuyến lửa. Và một người thân đã yên nghĩ dưới nắm đất quê hương...”. Rồi cả tình cảm mà chị được nhận lại từ các chiến sĩ “Họ gọi mình bằng hai tiếng “Chị Hai”, họ xưng em mặc dù lớn tuổi hơn mình và họ vui đùa, làm nũng với mình nữa.” Khi bước vào mảnh đất Phổ Phong đầy xa lạ đối với một cô gái chỉ quen bút viết, nhưng điều đó không có gì là chướng ngại vật với Đặng Thùy Trâm cả. Vì trong hoàn cảnh gian khổ ấy, chị không hề lẻ loi, chị có cả những đứa em như Nghĩa, như Thuận, như Khiêm, có cả một đại gia đình lớn là những bà con trên đất Đức Phổ. Cho nên, chúng ta có thể thấy, trong hoàn cảnh sự sống và cái chết cận kề nhưng tình thương yêu giữa những người thân yêu, đồng chí, bạn bè luôn hiện lên một cách sống động và chân thực.

          Được sinh ra, lớn lên, và học tập tại Hà Nội dưới chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc, Đặng Thùy Trâm cũng như những người chiến sĩ cùng thời đại khác đã luôn tự ý thức cho mình là không bao giờ nói nhiều đến nỗi buồn. Có chăng cũng chỉ là nỗi buồn mất nước. Tuy nhiên đọc Nhật kí Đặng Thùy Trâm, chúng ta thấy rõ những cung bậc tình cảm phức tạp, lãng mạn của tầng lớp tiểu tư sản không bị giấu đi, không bị ràng buộc bởi bất cứ luật lệ nào, mà vẫn thấy được niềm tin chân thành vào lí tưởng nơi chị. Có thể nói, ngôn ngữ nữ công dân xuất thân từ tầng lớp tri thức tiểu tư sản thành phố đã thể hiện rõ rệt ngay trong cả cách dùng các từ ngữ để gọi các chiến sĩ thương binh. Chúng ta có thể thấy, một kết cấu được lặp đi lặp lại rất nhiều lần:

          “ Ơi + (những người thương binh/ những người bạn mến thương/ những người thân yêu,...)  + của tôi ơi!”

          Đó là những lời gọi không hề sáo rỗng hay hoa mĩ mà ngược lại người đọc cảm nhận được sự tinh tế, nhẹ nhàng của một cô gái trí thức tiểu tư sản, một cô gái Hà thành đang tuổi đôi mươi, lãng mạn, bay bổng với cuộc đời nhưng lại ở hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh. Hay những lời thốt lên từ đáy lòng “những người đồng chí thân yêu đã ngã xuống vì ngày mai thắng lợi. Và còn ai nữa ư? Phải chăng là những đứa em, những người đồng nghiệp trẻ mà bấy lâu nay vẫn quấn quýt bên mình hăng say học tập. Tất cả mọi người đã tạo nên một tình thương vĩ đại đối với tôi… Xa mọi người sao thấy nhớ đến da diết vô vàn.” Ngoài việc cảm nhận được giọng điệu hết sức nhẹ nhàng, giàu nữ tính, tràn cảm xúc, người đọc còn nhận thấy sự lãng mạn, sự yêu thương da diết của nữ liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm với các chiến sĩ, như yêu thương những bộ phận của cơ thể mình và yêu thương những người thân trong gia đình mình vậy. Với đặc trưng là một người thuộc tầng lớp tiểu tư sản trí thức, nên cách sử dụng từ ngữ xưng hô cũng được Đặng Thùy Trâm chọn lọc để cho phù hợp với từng đối tượng mà vẫn bộc lộ hết cảm xúc, tình cảm yêu thương đối với các chiến sĩ.

          Ngoài việc xưng hô bằng đại từ hoặc danh từ thân tộc, xưng hô bằng tên riêng cũng được sử dụng. Việc sử dụng cách hô gọi này cho chúng ta thấy được mối quan hệ giữa người nói và người nghe. Bởi vì, các nhân vật giao tiếp sử dụng tên riêng để xưng hô thì ít nhất giữa họ phải có sự quen biết từ trước. Hơn nữa, việc dùng tên riêng cũng thể hiện tính lịch sự trong giao tiếp. Ngoài xã hội, trong giao tiếp giữa những người cùng lứa tuổi, bằng vai thì cách xưng hô bằng tên riêng có thể rút ngắn khoảng cách giữa những người giao tiếp và đồng thời dễ tạo cảm giác bình đẳng, thân thiện giữa họ. Cách xưng hô này cũng được sử dụng nhiều trong cách giao tiếp hàng ngày của các anh bộ đội cụ Hồ. Chị Trâm vẫn gọi những người đồng chí của mình bằng những cái tên thân thuộc như: Khiêm, Thuận, Ninh, Bốn, Bình, San,...Họ là những con người gần như đã có duyên tiền định từ kiếp trước. Đó là “những người có trái tim yêu thương sôi nổi và thương nhau bằng một tình thương kì diệu” . Những con người từ nhiều nơi không hẹn mà gặp, những con người đó có chung một chí hướng, một con đường vì độc lập tự do của dân tộc.

          Trong hệ thống từ xưng hô của tiếng Việt, người ta còn dùng cả những danh từ chỉ chức vị, nghề nghiệp cũng được dùng làm từ xưng hô nét đặc biệt là các danh từ này chỉ dùng để hô chỉ ngôi thứ hai, chứ không được dùng để xưng. Trong cuốn Nhật kí cũng có rất nhiều chiến sĩ được chị Thùy Trâm gọi bằng những cái tên gắn liền với công việc của họ: “cậu liên lạc với má lúng đồng tiền, lúc nào cũng cười dù vết thương trên tay sưng và đau buốt”, “người cán bộ với sức chịu đựng kỳ lạ, đau đớn đã làm anh tràn nước mắt mà miệng vẫn cười, vẫn một câu trả lời: “Không sao đâu”, “người bộ đội có đôi mắt đen ngời”, mấy chàng trinh sát trẻ măng nước da trắng dưới lớp lông măng trên má, Có phải anh không hỡi những người giải phòng quân đã cùng tôi xuống đường đêm hôm trước? Những Lâm, những anh Đến… và bao nhiêu người khác nữa. Suốt một đêm không ngủ, lo âu, căm thù, nặng trĩu tâm tư. Với mỗi cách hô, bên cạnh dùng những danh từ thân tộc, chị còn quan tâm, nhớ đến cả những đặc điểm riêng biệt của họ.

          Ngoài ra, từ “đồng chí” cũng được chị Trâm dùng rất nhiều. Theo từ điển tiếng Việt, danh từ “đồng chí” chỉ những người có cùng chí hướng chính trị (quan hệ tình đồng chí); dùng để xưng gọi giữa những Đảng viên Đảng cộng sản. “Đồng chí” với từ “đồng” mang vần bằng, từ “chí” mang vần trắc, gắn kết tạo nên một âm cân đối, hài hòa, bền vững, rắn rỏi, khỏe khoắn, vui tươi mà mỗi khi chúng ta cất giọng gọi tên nhau đều cảm thấy thiêng liêng, cảm động, thủy chung, son sắt và gần gũi, không phân biệt giới tính, hay tuổi tác. Tình đồng chí, đồng đội của Đặng Thuỳ Trâm thể hiện rất rõ nét trong việc chị cứu chữa và chăm sóc thương binh. Chị tự dày vò bản thân khi có một ca thương binh nặng mà với khả năng và điều kiện của một bệnh xá tiền phương không thể cứu chữa nổi. Là người phụ trách bệnh xá nhưng chị vẫn tự tay giặt giũ, chăm sóc cho thương binh … Và biểu hiện cao nhất của Đặng Thuỳ Trâm về tình đồng đội là chị đã xả thân, chấp nhận hy sinh khi nổ súng vào kẻ thù để bảo vệ đồng đội của mình. Chị đau với những nỗi đau của “ những đồng chí thương binh vết thương còn đang nhức nhối cũng chịu cảnh như Th”, “Mười lăm đồng chí bộ đội hy sinh”, “đó là Liễn, đồng chí xã đội của Phổ Cường”,...

3.2. Các hình thức xưng gọi của anh bộ đội cụ Hồ trong Nhật kí Đặng Thùy Trâm

          Cùng với việc hô gọi các thương binh, bệnh binh bằng những từ ngữ hết sức gần gũi, thân mật, trong cuốn Nhật kí Đặng Thùy Trâm còn sử dụng những từ ngữ xưng gọi hết sức khiêm tốn, nhẹ nhàng.

          Đầu tiên là từ “Mình”. “Mình” được sử dụng với tư cách là đại từ nhân xưng trỏ ngôi thứ nhất, số ít trong cuốn nhật ký. Chị như vừa đối thoại với chính mình, nhưng cũng vừa bày tỏ những nỗi lòng của mình với các chiến sĩ: “Đứng ngoài này mình cố len lỏi đôi mắt nhìn qua những ngọn núi đề nhìn về cánh Nam và nhận ra chỗ núi lở của Phổ Cường. Nhớ thương vô cùng! Mình ra đi, đề lại ở nhà hàng trăm nghìn khó khăn. Trung chắc đã chết rồi, anh bộ đội bị hoại thư cánh tay chắc gì đã qua khỏi… Các anh chị ở nhà chắc vất vả trăm chiều. Thương vô cùng những anh Tự, anh Kỳ, những chị Lãnh, Liên…”.

          Với những đứa em, Đặng Thùy Trâm luôn là người chị dịu dàng, hết mực yêu thương, lo lắng trên mỗi bước đường của em: “Bốn giờ kém mười lăm mình và Thường khoác ba lô lên vai. Em mình tiễn mình đi cho đến tận chỗ tập trung. Giây phút chia tay mình nhìn em thấy trong đôi mắt đen ngời ấy một nỗi nhớ thương kỳ lạ – mình đã chia tay em như chia tay một người thân yêu ruột thịt. Bao giờ gặp lại em đây?”.

          Cũng như tình cảm của Thùy dành cho các chiến sĩ, ngược lại các chiến sĩ và toàn thể nhân dân Đức Phổ cũng dành cho chị một tình cảm đặc biệt. Họ xem chị là một người bạn, một người đồng chí, một người con, một người em của quê hương Quãng Ngãi ngoan cường. Đến với miền đất xa lạ, Đặng Thùy Trâm là một cô gái được các chị, các anh thương bệnh binh thương thương như em út trong nhà và chính bản thân chị cũng cảm thấy mình được bao bọc đó là những “người anh trai thân thiết, người đồng chí thân yêu đã dìu dắt tôi qua những chặng đường gian khổ. Mong ngày gặp anh, em sẽ nói anh nghe tâm tình của đứa em gái mà anh đã dành trọn tình thương duy nhất của một người anh cho nó.”

*

          Nữ anh hùng, liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã ra đi, nhưng ngọn lửa tuổi hai mươi mà chị truyền cho các thế hệ trẻ Việt Nam vẫn luôn cháy mãi. Những cách xưng hô của chị đã bổ sung vào hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt giữa những chiến sĩ bộ đội cụ Hồ. Hơn hết, những dòng Nhật kí Đặng Thùy Trâm đã để lại những bài học về sự gắn bó giữa quân và dân, bài học về tình đồng chí, về sự tận tụy và lương tâm của một bác sĩ cho mọi thế hệ thanh niên Việt Nam. “ Thời nào tuổi trẻ cũng đam mê và mạnh mẽ. Mỗi thế hệ gánh trên vai mình một sứ mệnh của thời mình sống. Bàn tay nào cũng để làm công việc của thời đó. Đặng Thùy Trâm và những người như chị, đã giơ thẳng cánh tay xung phong vào chiến trường, và bàn tay họ đã đem đến cho dân tộc chiến thắng của tự do và độc lập.” ( Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên).

-----------------------

         

          TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nhật kí Đặng Thùy Trâm, NXB Hội nhà văn, năm 2009

2. Ngôn ngữ học xã hội, Nguyễn Văn Khang, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 1999.

3. Ngữ dụng học, Đỗ Thị Kim Liên, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

4. Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc, Trương Thị Diễm, NXB Văn học, 2013.

NGUỒN : TẠP CHÍ SÔNG TRÀ SỐ 69-70

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ TẠP CHÍ SÔNG TRÀ SỐ 69&70
· BÍ ẨN CHUYỆN TÌNH HÀN MẶC TỬ - MỘNG CẦM
· THANH TÂM TUYỀN - VỠ VÀO CHUÔNG GIÁO ĐƯỜNG
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· CHÙM THƠ HỮU THỈNH
· BÚT TRE - 100 NĂM Ở MỘT LÀNG VÈ
· LẨY KIỀU TRONG THƠ BÁC
· HỒNG MÃO: MỖI GIỌT THƠ - MỘT GIỌT HỒNG
· CHÙM THƠ NGUYỄN MINH PHÚC
· NGHĨ TỪ THƠ TỰ DO
· CHÙM THƠ NHIỀU TÁC GIẢ
· LƯU QUANG VŨ - VẪN TIẾNG LÀNG, TIẾNG NƯỚC CỦA RIÊNG TA
· HÌNH TƯỢNG MA NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC VIẾT
· ĐỂ NGƯỜI TRẺ ĐỊNH VỊ MÌNH TRONG THI CA
· LÊ LỰU - HOÀI VỌNG VÀ CÔ ĐƠN
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· LỐI ĐI TÂM LINH TRONG THƠ HOÀNG CẦM
· LÊ THANH PHÁCH - "HỒN NEO ĐẬU BẾN SÔNG QUÊ"
· TÀI THÔI MIÊN CỦA NHÀ VĂN PHẠM CAO CỦNG
· CHÙM THƠ PHẠM CÔNG TRỨ

 

  
Gia đình Bích Khê