Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_r066qacrqkflak01i9dfh4t285, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI MIỀN TRUNG TRONG TIỂU THUYẾT "CHÂN TRỜI MÙA HẠ"

- HOÀNG THỤY ANH 

Chiến tranh đã đi qua nhưng những đau thương, mất mát như một vết sẹo ăn sâu vào da thịt, không thể xóa mờ. Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn là nguồn cảm hứng dồi dào, vô tận của người nghệ sĩ. Nếu trước năm 1975, mảng văn học về chiến tranh chủ yếu hướng đến cái anh dũng, kiên cường, cao cả, đề cao cái chung, vai trò, trách nhiệm của cá nhân đối với tập thể, cộng đồng thì sau năm 1975 đến nay, nó lại được nhìn nhận, khai triển ở nhiều góc cạnh. Ở đó, không chỉ có sự vinh quang, khốc liệt của chiến tranh mà còn có cả những bi kịch, thất bại, sai lầm, và có cả sự phản bội, tha hóa, biến chất… Nhờ vậy, mảng văn học viết về chiến tranh giai đoạn này chân thực, khách quan, gần gũi, khái quát được thực tế đời sống xã hội và số phận con người hơn. Những bí mật đằng sau hiện thực chiến tranh được mở ra, nhưng nó không làm chúng ta bị “shock”, ngược lại, chính sự tư duy, cách đánh giá thấu đáo, thực, mới đã giúp người tiếp nhận có cái nhìn sâu hơn về chiến tranh và cuộc sống của những người lính sau dư chấn chiến tranh. Mảng đề tài này, nhiều cây bút đã khẳng định được phong cách và tên tuổi của mình như: Bảo Ninh, Chu Lai, Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Dương Hướng, Phạm Thị Hoài,…

Hữu Phương là một trong số những cây bút văn xuôi kỳ cựu của miền Trung. Chân trời mùa hạ của Hữu Phương là một tiểu thuyết có giá trị về mặt tư liệu, mang chất tự sự của một giai đoạn lịch sử về văn học hiện thực đơn thuần, đơn tuyến; mặc dù bị thi pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa ràng buộc, chi phối nhưng nó vẫn phản ánh chân thực thân phận con người cũng như sự dẻo dai của người dân miền Trung trong những năm tháng bom đạn. Sự kiện Chân trời mùa hạ đạt giải B, giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam, năm 2011 và Cup Bông lúa vàng do Bộ NN&PTNT trao tặng đã chứng minh bút lực dồi dào của nhà văn Hữu Phương trong dòng chảy ấy.

1. Nói đến chiến tranh là nói đến cái chết. Chiến tranh đồng hành với cái chết. Cái chết do bom đạn thường đọng lại trong tâm khảm những dấu ấn đớn đau khôn nguôi. Đó là nỗi mất mát quá lớn, là cái giá phải trả rất đắt vì sự bình yên của đất nước. Chân trời mùa hạ viết nhiều về cái chết. Hầu hết là những cái chết vinh quang, cái chết anh dũng. Chuân chết trong lần đánh lạc hướng địch để giữ trạm bơm Phúc Tự. Phượng chết trong khi làm ở bộ phận đào kênh. Tuyến chết trong khi tay vẫn cầm cán vồ. Phong, chuyên gia tháo bom nổ chậm, cũng không thể thoát được sức mạnh của bom đạn. Giẫm phải mảnh gang gỉ vàng, Kháng chết trong đớn đau. Ông Thảo chết trong lần di chuyển bàn ghế học sinh ra khỏi lớp học. Khi chắn bom cho Quy, B trưởng Tường đã chết do bị chấn thương sọ não… Chiến tranh, bom đạn không chừa một ai, nếu không chết thì cũng phải mang những chấn thương trên cơ thể. Trạc, trưởng thôn Lai Khê, trong một lần xung phong, bị mảnh đạn đâm xuyên vào má khiến con mắt trái bị hỏng hẳn. Chiến tranh khiến cho Toản bị mảnh đạn móc-chê của giặc Pháp găm vào ngón tay trỏ (lúc còn nhỏ). Sau này, Toản không thể tham gia chiến đấu. Ông Duẩn bị thương, cháy bỏng toàn thân, 6 tháng sau mới bình phục, đi lại được. Khi làm B trưởng, trong một lần san lấp hố bom, Cẩm đã bị thương, việc đi lại trở nên khó khăn, không thể tham gia chiến đấu ngoài mặt đường, phải về nông trường Lệ Giang công tác. Tham gia chiến trường Trị-Thiên, Thiện bị thương nặng, giáp ranh với cái chết, anh không thể tham gia cuộc tổng tiến công… Những cái chết, những di chứng chiến tranh ấy đã phần nào thể hiện khá rõ sự tàn khốc của chiến tranh.

Chọn một không gian nhỏ của dải đất miền Trung, Hữu Phương càng có điều kiện nhấn mạnh, khai thác tối đa những gian khổ, đau thương do bom đạn gây ra. Nơi ấy “không đêm nào không có bom nổ, nhà cháy, chết người...” [248]. Bom đạn hủy diệt các cánh đồng lúa, kho lương thực, trâu bò, hệ thống kênh nước,... Khí hậu miền Trung khắc nghiệt, mưa, lụt, gió bấc, gió lào… liên tục cũng tác động không ít đến cuộc sống của người dân. Trước những khó khăn chồng chất như thế, người dân luôn kiên gan bảo vệ làng Đại Hòa đến cùng, vẫn đảm bảo quân và lương thực cho tiền tuyến. Mọi hoạt động của làng vẫn diễn ra bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Trên bầu trời miền Trung, bom đạn quần phá liên tục. Dưới mặt đất, nhà cháy thì chóng cháy. Hầm sập thì sửa lại. Những con đường giao liên vẫn “len lách, luồn lũi”. Hệ thống đường ô tô “thoắt ẩn thoắt hiện”. Phòng học nửa nổi nửa chìm. Mọi người cùng thức trắng đêm để làm đồng. Họ hết mình sống, cống hiến, lao động, sản xuất, giúp đỡ lẫn nhau, làm hậu phương vững chắc. Những khi túng thiếu, người dân nghĩ ra “trăm phương nghìn cách” để chóng đói: ăn lá khoai, lá sắn, vỏ sắn, rau sắn, chế biến đường từ hạt muồng, chế biến bột từ lúa non bị ngâm nước lụt, tận dụng cả các loại trái cây chín, xanh trên rừng,...

Chiến tranh hủy diệt biết bao sinh mạng, cơ sở vật chất nhưng không hủy diệt được niềm tin, hy vọng của người dân Quảng Bình. Trong gian lao, khó khăn, mất mát, người dân đất Quảng vẫn hiên ngang bất khuất. Họ, những con người luôn đặt sứ mệnh dân tộc lên vai mình, quyết tâm bằng mọi giá để tham gia, phục vụ chiến trường. Thằng Tiệng nằng nặc xin đi bộ đội lúc 15 tuổi. Phong mới lớn lên đã khát khao, đòi vào bộ đội. Gia đình đông người, không ai đỡ đần, lực lượng thanh niên có học trong làng vơi dần, nhưng Cẩm vẫn xin đi thanh niên xung phong cho bằng được. Khi được cử đi học ở Liên Xô, Cẩm cũng khước từ. Vì cô không thể yên lòng khi đất nước đang trong giai đoạn chiến tranh ác liệt, bạn bè, người thân, đồng đội đang phải gồng hết sức, đổ máu cho cuộc chiến này. Đấy là quyết định của một người có bản lĩnh, có trách nhiệm cao đối với đất nước.

2. Hữu Phương không chỉ tái hiện chân thực bước đi của lịch sử, tái hiện những năm tháng gian khổ, đau thương của người miền Trung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà ông còn phản ánh đời sống riêng tư của người dân, người lính làng Đại Hòa.

Những mối tình trong Chân trời mùa hạ nảy nở, song hành với bom đạn. Sống giữa khói lửa ngút trời, tình yêu chính là niềm tin để họ sống, lao động, chiến đấu, hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Tình yêu làm họ trở nên yêu đời hơn, quên đi gian nguy của hàng loạt bom đạn đang giăng bẫy khắp bầu trời. Chính Phong đã tâm sự, gửi gắm lòng mình trong thư với Cẩm trước khi anh hi sinh: “…anh muốn có được một người bạn gái hay một người em gái như Cẩm, để được nhớ được thương mỗi lần ra trận, được cỗ vũ động viên chiến thắng khi giáp mặt với tử thần” [117]. Tình cảm của B trưởng Tường là động lực để Tuân, người lính lái xe đường dài, ở xứ Nghệ, có thêm nghị lực. Những câu đối đáp gần gũi, thân mật, pha chút tinh nghịch, dí dỏm là niềm vui mà họ cần có trong thời kỳ bom đạn này: “Em đây! Em đây! Đừng còi to thế nữa”; “Tường ơi, anh đã về đây! Anh của em đã về đây” [289]. Đặc biệt, nhà văn còn đưa yếu tố sex vào tác phẩm, góp thêm cái nhìn mới về cuộc sống đời tư của người lính trong chiến tranh. Những ẩn ức tình dục, những cảnh làm tình được thể hiện một cách chân thực nhưng không kém phần táo bạo. Vì thế, các đoạn văn viết về sex tuy ngắn nhưng không hề gây cảm giác sống sượng mà rất tình, rất thực. Yếu tố sex ở đây không nhằm mục đích lạ hóa đề tài chiến tranh mà là cách nhà văn phản ánh đúng bản năng sống của con người, bổ sung những khoảng trống cho mảng văn học trước năm 1975. Ở đó, có cái vội vã, cuống quýt của sự khát thèm của tuổi trẻ, của nỗi nhớ (Thiện - Hòa; Loan - Kháng); có sự tính toán để thoả mãn cơn dục tính (Sơn - Hòa); có cả cơn sex trong vô thức (Thiện - Loan),…

Trong chiến tranh, người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi nhất. Họ phải gánh nhiều công việc. Vất vả vì chồng, vì con, vì gia đình, vì xóm làng, vì tiền tuyến. Họ không quản ngại bất kỳ công việc nào: “...người phụ nữ trong chiến tranh, gian khổ trăm bề so với đàn ông. Họ gánh vác công việc cũng như đàn ông, thậm chí họ làm những việc của đàn ông trong khi họ là đàn bà [163]. Không những thế, chiến tranh còn gây ra những tổn thương lớn. Chiến tranh đã đẩy Cẩm rơi vào bi kịch của tình yêu. Mặc dù Thiện là người yêu đầu tiên và là người mà Cẩm quyết định gửi gắm cả cuộc đời mình, nhưng cái chết của Phong đã làm Cẩm thay đổi. Cẩm tự neo vào mình nghĩa vụ của người vợ, nghĩa vụ của một cô con dâu đối với mẹ chồng. Hành động của Cẩm không phải vì cô “vong ơn bội nghĩa”, “thấy mới nới cũ” với Thiện, thực ra, cô chấp nhận nỗi đau, chấp nhận hi sinh tình riêng của mình để tỏ lòng trân trọng, tự hào trước sự hi sinh anh dũng của Phong. Thế nhưng, cuộc đời không cho cô được trọn nghĩa với mẹ Phong.

Có thể nói, trong số nhân vật nữ của Chân trời mùa hạ, Cẩm là người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi nhất. Cẩm đón nhận quá nhiều nỗi đau: dằn vặt khi Phong mất; vật vã đến nằm liệt giường khi Thiện cưới Hòa; hoảng loạn tột độ khi bị cưỡng ngay nghĩa địa Ba Nắng... và còn biết bao nỗi đau xé lòng khi mất người thân. Sau giải phóng, nỗi đau vẫn không dứt. Lúc làm việc tại nông trường bộ, Cẩm và Thiện cũng có gặp lại. Đây là cơ hội để họ có thể đến với nhau mà không phải chịu sự ràng buộc nào. Nhưng họ cũng không có được cơ hội đó. Cẩm đành lòng nuốt nỗi đau vào trong khi thấy Lý, em gái mình, bịn rịn, lưu luyến tiễn Thiện lên đường nhập học: “Cẩm gục đầu vào thành ghế, mắt nhắm lại, người như lịm đi. Lát sau, như không chịu nỗi những cảm xúc trái ngược, những suy nghĩ bấn loạn, những vui buồn giằng níu, chị ra hiệu cho người tài xế quay xe ra khỏi bến xe phố huyện…” [548].

Hòa không tham gia thanh niên xung phong như Cẩm. Cô không phải là người không có bi kịch. Nhưng bi kịch của cô khác Cẩm. Bi kịch của cô là bị kịch của một kẻ mang trong mình cái án “thất đức” của phận làm con, làm vợ. Cô ở nhà, góp sức mình cho công việc của làng Đại Hòa. Tuy có những khoảng thời gian cống hiến cho đất nước, là người tốt, nhưng sau này, cô nhanh chóng bị cạm bẫy tình đánh mất hết lý trí. Chuyện cô buộc tội cha chồng, người luôn tin tưởng cô, là một việc làm khó có thể dung tha. Cơ hội để cô khai báo, chuộc lỗi đến không ít lần nhưng lần nào cũng thể hiện sự tráo trở của cô (do Sơn bày mưu chỉ kế). Chỉ khi đối diện với  tấm lòng vị tha của Thiện, cô mới thực sự ân hận, nói ra sự thật. Nhưng sự việc quá muộn. Ông Duẩn đã tìm đến cái chết. Hòa là hiện thân của kiểu người nhẹ dạ, cả tin, đánh mất chính mình.

Rồi biết bao nỗi đau của những người phụ nữ khác như chuyện bà Thảo, bà Mày, Thắm, Loan,... Trong số các nhân vật ấy, nhân vật Loan cũng được tác giả khắc họa khá rõ nét. Loan lấy chồng lúc 18 tuổi. Chị tận hưởng hạnh phúc rất ngắn ngủi, chỉ trong vòng 7 ngày. Những giây phút ái ân trong 7 ngày chưa đủ để chị ghi dấu gương mặt của chồng. Sức sống tràn trề nội lực khiến chị biết bao phen lao đao. Chị vượt qua được cơn hoang dại của cơ thể với Kháng nhưng không vượt qua được những những mâu thuẫn trong lòng mình. Hoàn cảnh ấy buộc chị phải chịu đớn đau để kìm nén những dục vọng cá nhân của mình để giữ gìn danh tiết. Nhưng chiến tranh đã khiến chị mất dần niềm tin và hi vọng sự trở về của người chồng. Chị không chiến thắng được bản thân mình mà đã để cảm xúc bản năng lấn át, để nỗi khát khao có con của người đàn bà bủa vây, điều khiển. Chị tự nhủ: “Cuộc đời tươi đẹp của người đàn bà là cái gì, nếu không phải phấn đấu để có những phút giây kỳ diệu, tuyệt vời ấy? Liệu chồng chị có trở về, để chị khi còn trẻ được hưởng những ngày tươi đẹp? Nếu anh không trở về, hoặc trở về khi chị chỉ còn là sự nhăn nhúm của một bà già khô héo? Lúc đó chẳng phải đã phí cuộc đời tươi đẹp của một phụ nữ lúc tràn trề thanh xuân đó sao?” [167]. Suy nghĩ ấy không chỉ phản ánh thực tâm trạng của chị cũng như của bao người phụ nữ có chồng ra trận mà còn gián tiếp tố cáo những tàn khốc, mất mát do chiến tranh gây ra. Cho nên, dẫu đứa con mà chị có, được bắt đầu từ cuộc ân ái trong tư tưởng giữa Thiện với Diệu Hương nhưng đứa con ấy lại là niềm vui, là nguồn sống cuối cùng của chị. Nó giúp chị vượt qua những mất mát, tổn thương do chiến tranh để lại. Phút mềm lòng ấy, người đọc có thể cảm thông với nỗi đau của người phụ nữ sau khói lửa chiến tranh khi tuổi xuân đang trôi qua từng ngày, khi khát khao được làm mẹ trỗi dậy.

Nhưng Hữu Phương không chỉ trăn trở với những buồn đau, bi kịch tiềm ẩn bên trong của người phụ nữ mà còn trăn trở trước cách chọn cuộc sống của những người lính như Thiện, Sơn. Ông chọn thủ pháp tương phản, đối lập để làm rõ nhân cách cũng như quan niệm sống của Thiện và Sơn. Thiện càng tốt bao nhiêu thì Sơn càng xấu xa bấy nhiêu.

Thiện, tham gia đi bộ đội, hoạt động ở chiến trường B hơn 6 năm. Anh luôn sống trong hoàn cảnh “thần kinh luôn căng như dây đàn” [439]. Hoàn cảnh ấy đã rèn luyện anh từ “một người lính mới chưa hề nếm trải trận mạc, chưa nhiều kinh nghiệm thực tiễn” [440] trở thành người lính có trách nhiệm, kiên cường, không sợ cái chết khi trực tiếp tham gia chiến đấu tại chiến trường Trị-Thiên. Nếu trong thời kỳ chiến tranh, anh phải đau khổ, chấp nhận chia tay với Cẩm để đến với Hòa thì thời kỳ hậu chiến, cứ ngỡ một con người như anh sẽ được bù đắp sau những năm tháng gian khổ, cận kề cái chết, nhưng trớ trêu thay, đó lại là thời kỳ đau đớn nhất trong cuộc đời của anh. Vợ thì có con với kẻ khác. Cha thì bị đứa học trò phản nghịch, bị đứa con dâu vấy bẩn danh dự phải tìm đến cái chết. Chuyện tình yêu với Cẩm cũng không thể níu kéo. Đã vậy, trong cơn bấn loạn, Thiện đã không làm chủ được mình. Trước đây, chung hầm với Cẩm nhưng hoàn toàn trong sáng. Ở bên Diệu Hương cũng có chừng mực, dè chừng. Nhưng lần này, với Loan, Thiện đã không làm chủ được mình khi để rượu và cảm xúc với Diệu Hương lấn át, khiến anh ân ái với Loan mà tưởng đó là Diệu Hương. Kể lại lần ân ái trong vô thức này, Hữu Phương muốn nhấn mạnh hơn cái thực, cái bản năng trong tâm hồn con người có lúc không thể che đậy, cứ thế mà bột phát.

Cũng trên cơ sở cái nhìn chân thực ấy, nhân vật Sơn hiện lên rất sinh động. Trước khi tham gia chiến trường, Sơn luôn đố kỵ về chuyện tình cảm của Thiện. Nhiều hành động, việc làm đã hé lộ bản chất ích kỷ, nhỏ nhen, bỉ ổi, toan tính, cơ hội: rủ Thiện cùng chứng kiến chuyện Cẩm khấn vái trước mộ Phong; âm mưu chiếm đoạt Cẩm (do lão Vạc chỉ đường); chiếm đoạt thể xác Thắm; ăn cắp tờ chứng thương khống chỉ; tán tỉnh Suyền để có tờ chứng thương hợp lý; tìm mọi thủ đoạn để được ngồi vào cái ghế Bí thư Đảng ủy; tố cáo chuyện tình vụng trộm giữa ông Niệm và bà Thảo; trả đũa Loan bằng cách đẩy Loan xuống làm công việc trực giữ kho chuyên nghiệp; lừa Hòa đến có bầu rồi dụ dỗ cô tìm cách giấu nhẹm, thoái thác chuyện này sang cho ông Duẩn,… Sơn đúng "đứa liều và tham” [130]. Đó là bản chất mà Sơn bộc lộ trong suốt cả thiên truyện. Ngay cả cách nhìn nhận về chiến tranh của Sơn cũng rất khác với mọi người. Thiện tập trung hết mọi sức lực cho cuộc chiến, lo lắng khi mình không được tham gia cuộc tổng tiến công cuối cùng thì ngược lại, khi công tác tại binh trạm Mười Lăm, Sơn lại xem chiến tranh là nơi để mình thể hiện “một quái kiệt trong làng săn bắt đánh bẫy thú rừng và chim trời cá nước” [265], và tìm cơ hội thoát khỏi những khó khăn, gian khổ của cuộc chiến: “Với anh, chiến tranh là trò chơi của các bậc trên cao, của các đấng quyền uy. Chiến tranh mãi hao binh tổn tướng, chán, đến lúc cũng phải ngừng. Còn săn bắn, đánh bẫy thú rừng, đơm đó chim trời cá nước là trò chơi của anh, trò chơi không bao giờ biết chán!" [264-265]. Suy nghĩ của Sơn khác hẳn Thiện. Dẫu có lúc Thiện đã từng nghĩ: “Chiến tranh sẽ còn cướp đi bao nhiêu đầu xanh…” [126] nhưng đó cũng là nỗi lo lắng, băn khoăn của tất thảy mọi người. Bởi, chiến tranh đâu chỉ hoàn toàn vinh quang như sự phản ánh của văn học giai đoạn trước, mà ở đó còn có những đớn đau, dằn vặt, trách móc, mất mát,… Vì thế, sự nghi hoặc, lo lắng ấy của Thiện là hợp lý. Thiện tuy có băn khoăn về mục đích, cái giá phải trả của chiến tranh nhưng anh vẫn đứng về làng Đại Hòa, đứng về phía nhân dân. Anh hiểu và trân trọng sức mạnh của nhân dân, của làng Đại Hòa: “Giờ nhớ lại vẫn thấy rùng mình, không hiểu vì sao mình sống sót? Câu trả lời có lẽ là nhân dân. Chính nhân dân chứ không ai khác đã làm nên kỳ tích trong cuộc chiến tranh tàn khốc này” [440].

Ngoài các nhân vật trên, các nhân vật khác trong truyện cũng chạy theo hai tuyến rõ rệt. Ông Duẩn, ông Niệm, Xuyến, Phượng, Phong,... là mẫu người đại diện cho sức sống của con người ở vùng đất miền Trung. Mạnh mẽ, dứt khoát, kiên gan, hết mình vì cuộc chiến,... Ở họ, dẫu có lúc cái tình lấn át cái lý, âu đó cũng là bản năng tự nhiên của con người. Người đọc có thể cảm thông cho khát khao chảy bỏng của Loan, cho tình yêu chân thành của Bí thư Đảng ủy, đau với nỗi oan ức khôn nguôi của ông Duẩn,... Ngược lại với tuyến nhân vật trên, bên cạnh Sơn, nhân vật ông Vạc cũng được nhìn ở góc độ cái xấu, cái ác. Lão là kẻ cơ hội, tư lợi, “cày thưa bừa dối”, “con ma ăn đêm” “nhưng lão chỉ là gã ăn mãnh, chuyên ăn cắp của thiên nhiên trời đất, hoặc bươi cào vụng trộm của chung, của tập thể, chứ lão không gây tội ác.” [198].  Lão tuy vẫn có sự đắn đo, dằn vặt lương tâm khi gây tội cho người khác nhưng sự dằn vặt ấy cũng nhanh chóng thoảng qua bởi sự tự biện hộ, chống chế của lão.

Thủ pháp xây dựng nhân vật như trên mở ra nhiều góc nhìn về chiến tranh: sáng - tối, phải - trái, tốt - xấu… Nhờ đó, cuộc sống và con người dân làng Đại Hòa trở nên sinh động hơn. Họ hiện lên đầy đủ phẩm chất, tích cách như những con người bình thường: chiến công, vinh quang, niềm vui, nỗi buồn, thất bại, thánh thiện, bỉ ổi, thù hận, vị tha…

3. Trong giai đoạn này, khi chiến tranh đã lùi xa, nhà văn bây giờ không phải làm nhiệm vụ ghi chép lại lịch sử như giai đoạn trước năm 1975, do vậy, việc làm mới đề tài về chiến tranh và người lính, đưa đến cái nhìn chân thực, khách quan, nhà văn phải là người truy tìm sự thật chiến tranh, xoáy sâu vào những vùng tối mà trước đây, vì nhiều lý do, văn học còn để ngỏ, chưa mạnh dạn đề cập đến, còn né tránh. Có như thế, nhà văn mới thể hiện đầy đủ, toàn diện thế giới riêng của người lính, những mặt trái của đời sống hiện thực chiến tranh. Chân trời mùa hạ của Hữu Phương (như trên đã nói) hơi nặng về tính tư liệu, vì vậy, nhà văn mới chỉ nắm được bề ngoài, bề nổi của chiến tranh chứ chưa đi sâu vào phần chìm của nó. Thế giới nội tâm nhân vật chưa được bộc lộ rõ nét. Việc nhà văn thiên về ghi chép lại các sự kiện lịch sử ít nhiều làm giảm đi cái độc đáo, sự sáng tạo mà người đọc đang kỳ vọng hơn thế. Hơn nữa, chiến tranh không hoàn toàn chỉ có sự chiến thắng, vinh quang, ngợi ca. Hình tượng người lính cũng thế, họ hội tụ đủ những mặt tốt – xấu như bản năng của con người. Hữu Phương cũng nói về mặt tốt – xấu, trái – phải, cao thượng – thấp hèn, song còn giải quyết một chiều, rạch ròi. Cuộc sống và con người được tái hiện qua dòng hồi tưởng của Thiện, là điều kiện thuận lợi để nhà văn thu hẹp không gian chiến tranh, mở rộng không gian tâm trạng. Tuy nhiên, ông chưa đi đến cùng những mâu thuẫn éo le, sự giằng co, xung đột, biến đổi, hay nói cách khác, chưa điều khiển được những phức thể trong tâm lý và tính cách của nhân vật như cách xây dựng kiểu con người bi kịch trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu,…

Giai đoạn này, nhà văn cần có độ lùi nhất định để đánh giá, nhìn nhận lại chiến tranh. Bây giờ, không phải là thời kỳ chỉ để ngợi ca, vinh danh những anh hùng làm nên những chiến công hiển hách mà là thời kỳ biết khám phá thân phận con người, khám phá đời tư con người. Nghĩa là không chỉ nói nhiều về tính anh hùng ca nữa mà còn thiên về khai thác tính bi ca. Một khi quan niệm nghệ thuật về con người thay đổi cũng kéo theo sự thay đổi về thi pháp viết tiểu thuyết, chuyển từ “tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết” (Đỗ Ngọc Thạch). Sự “cởi trói” trên nhiều phương diện giúp nhà văn có cái nhìn đa chiều, sâu sắc hơn trong hành trình khám phá thân phận con người.  

Trong Chân trời mùa hạ, sự đối nghịch, thù hận giữa Sơn và Thiện được cởi bỏ bằng những cú đấm mạnh như trời giáng và cái chết của Sơn. Cách giải quyết, xử lý một người lính như Sơn của Hữu Phương chưa đắt. Cái chết ấy vô tình rơi vào quy luật quen thuộc, “ác giả ác báo”. Những gì Sơn gây nên quá lớn, phải để cho Sơn ngấm từng tí một nỗi đớn đau, ân hận thì mới tương xứng. Nhưng cái chết của Sơn lại diễn ra quá nhanh, khiến người đọc khá bất ngờ, hụt hẫng, còn thèm khát những cuộc tự vấn, day dứt trong tâm hồn anh ta, thèm khát một sự nhìn nhận mới, một cách lý giải khác của tác giả. Với Thiện, anh là một người lính mang đầy đủ những vẻ đẹp của người lính miền Trung nói riêng và cả nước nói chung. Hơn nữa, Thiện còn là nhân vật trung tâm của tác phẩm, thế nhưng, cách khai thác một chiều, giản đơn, ít có những biến cố, những mâu thuẫn, những bước ngoặt trong tâm hồn khiến nhân vật này còn nhạt, chưa nổi bật so với các nhân vật khác. Hệ lụy, sợi dây móc xích giữa Thiện, Cẩm, Sơn, Hòa chưa được trọn vẹn. Hữu Phương còn mở rộng không gian từ làng Đại Hòa đến Nghệ An, rồi trở ngược vào Trị-Thiên nhưng vẫn chưa đi sâu được vào bản thể của con người, vào thế giới bên trong của nhân vật. Sự nhẩn nha từ không gian này sang không gian khác, từ nhân vật này sang nhân vật khác (hoạt động giữa nhân vật chính và phụ đôi khi chênh nhau không đáng kể) vô tình làm mờ nhạt chủ đề của tác phẩm. Việc vận dụng kiểu thời gian dự thuật góp phần không nhỏ trong việc tăng sự tò mò, khơi gợi ở người đọc nhu cầu muốn biết, muốn phát hiện. Nhưng nếu lạm dụng dạng này quá nhiều cũng sẽ gây phản ứng ngược, nghĩa là, đánh mất tính tư duy, tính đồng sáng tạo ở người đọc. Vô tình nước cờ liên tục bị lộ. Chân trời mùa hạ rơi vào trường hợp này. Có thể lược một số đoạn lặp đi lặp lại như sau: “Nhưng họ cũng không hay rằng, một tổn thất nữa cũng đang chờ họ nay mai” [74]; “Nhưng chị đâu hay rằng, sự kiện này bốn năm sau đã đưa chị từ vị trí phó chủ tịch Hội phụ nữ xã, thành người giữ kho…” [100]; “Không ngờ, đó là những hình ảnh cuối cùng của anh mà nàng giữ được...” [113]; “Anh không ngờ, đó là nụ hôn định mệnh, nụ hôn làm tan nát gia đình anh sau này...” [136]; “Ông đâu hay rằng, sự nhanh nhẹn, tháo vát của con dâu ông, lại đem về cho gia đình ông một bi kịch hiếm thấy trên đời về sau...” [163]; “Cả ba không hay rằng đây là buổi đoàn tụ cuối cùng đông đủ của gia đình...” [233]; “Nàng không ngờ, đó là những ngày cuối cùng của mình ở đơn vị thanh niên xung phong...” [293]… Tiểu thuyết có độ rộng, dài cho việc xử lý không gian và thời gian nhưng nếu không cẩn trọng, chúng sẽ gây tác động ngược, tư tưởng tác phẩm bị loãng, khó định hình. Việc lặp như trên thường rơi vào cuối đoạn, cuối phần khi chuẩn bị chuyển cảnh, ít nhiều giảm đi sức hấp dẫn của thiên truyện.

Tuy vẫn còn một số hạn chế, chưa giải quyết triệt để, nhưng Chân trời mùa hạ vẫn là một trong số tiểu thuyết nổi bật khi viết về sức sống của vùng đất và con người Quảng Bình. Người kể chuyện (NKC) trong Chân trời mùa hạ thuộc kiểu NKC hàm ẩn, “tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể” (Trần Đình Sử), “mượn giọng nhân vật để kể” (Nguyễn Thị Thu Thủy). Vì thế, qua dòng hồi ức của Thiện, một người lính trở về sau giải phóng, người đọc được chứng kiến trực tiếp sức sống, tinh thần chiến đấu của người dân làng Đại Hòa; trực tiếp chứng kiến cảnh khói lửa bom đạn tàn phá khốc liệt; trực tiếp chứng kiến từng bước đi của lịch sử, từng thay đổi của biết bao thân phận con người… Ở đó, việc tái hiện sức sống, những hoạt động luân phiên ngày và đêm (tùy theo tần suất, thời điểm rải bom đạn) của người dân làng Đại Hòa, cho thấy khả năng thâu tóm, khái quát cuộc chiến hết sức kỹ lưỡng của Hữu Phương. Không chỉ vậy, nhà văn còn thể hiện là một người am hiểu các kiến thức về quân sự, trồng trọt,... Cách sử dụng ngôn ngữ “rặt” miền Trung (có chi mô, tổ mi, mô rứa, chừ ri, nỏ… cùng với điệu cười thoải mái, vô tư (cười nắc nẻ, cười giòn vang, cười khỏa khỏa khỏa, cười khoa khoa khoa,…) đã khái quát được sự chân thật của người dân miền Trung. Phẩm chất ấy đã ăn sâu vào máu thịt và trở thành nét riêng có của họ. Những đoạn văn độc thoại nội tâm cùng với kỹ thuật xử lý vấn đề tình yêu và tình dục một cách linh hoạt cũng góp phần bổ sung, đổi mới, hoàn thiện hơn kiểu con người suy tư trước giông tố cuộc đời.

Trong buổi Tọa đàm về Chân trời mùa hạ diễn ra ở Hà Nội, nhà văn Hữu Phương đã tâm sự: “Tôi viết Chân trời mùa hạ không phải để mô tả chiến tranh, mà qua chiến tranh để nói về những số phận trên mảnh đất quê tôi, về sức mạnh của hậu phương đối với tiền tuyến lớn”. Đúng thế! Chân trời mùa hạ hội tụ biết bao thân phận của con người. Mỗi số phận của con người là một dấu ấn nhói đau, xót đắng. Chân trời mùa hạ là một trong số những cuốn tiểu thuyết của văn học miền Trung viết về đề tài chiến tranh đáng có. Giá mà tác giả cao tay hơn, biết sử dụng bút pháp mới, linh hoạt hơn nữa, sẽ mang đến độc giả nhiều lý thú.

               Đồng Hới, 2017

H.T.A

Bài dùng được

-----------

(*). Chân trời mùa hạ, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011.

 

Các bài khác:
· NHẠC SĨ THẾ BẢO - NHÌN TỪ PHÍA TÔI
· THƠ CỦA MỘT NGƯỜI QUẢNG...
· THANH THẢO VÀ TRƯỜNG CA "HIỂN THÁNH NĂM 25 TUỔI"
· KIỂU NHÂN VẬT “NỔI LOẠN” TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
· HÀ ĐÔNG TRONG NỖI NIỀM CỦA MỘT NHÀ THƠ
· MỘ GIÓ – MỘ THIÊNG BẤT TỬ
· BÌNH THƠ "TIẾNG HÁT ĐỜI THƯỜNG" CỦA PHẠM NGỌC THÁI
· ĐÓNG GÓP VỀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VÀ VĂN HỌC CỦA GS HOÀNG XUÂN HÃN
· XUÂN QUỲNH - ĐẾN TẬN CÙNG ĐAU ĐỚN, ĐẾN TÌNH YÊU
· TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG
· MƯA DẦM THÁNG BẢY
· NHỮNG LỐI VÀO TRUYỆN NGẮN
· DIỄN NGÔN GIỚI NỮ QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU ĐỔI MỚI
· CÓ ĐIỀU NHƯ CHƯA NÓI VỚI SÔNG TRÀ
· LAI LỊCH MỘT BÀI THƠ
· TRANG THƠ TRẦN NHẬT LAM VÀ THANH TÙNG
· TAY VẪY PHIÊU BỒNG
· PHÂN BIỆT THƠ VÀ VĂN VẦN
· TRANG THƠ LÊ ÂN - NGUYỄN MINH PHÚC
· MỐI TÌNH CỦA XUÂN HƯƠNG

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_r066qacrqkflak01i9dfh4t285, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0