DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CHIẾNCHIẾN TRANH VÀ THÂN PHẬN CON NGƯỜI: SỰ GẶP GỠ GIỮA LƯU QUANG VŨ VỚI TRỊNH CÔNG SƠN

MAI BÁ ẤN

Tâm hồn thơ trong sáng, những vần thơ hào hùng hòa trong giai điệu chung của thơ ca chống Mỹ của Lưu Quang Vũ đã được nhiều người đề cập đến. Và với bấy nhiêu đó, Lưu Quang Vũ cũng đã thực sự trở thành một trong những nhà thơ trẻ tiêu biểu của nền thơ chống Mỹ Việt Nam. Ở phạm vi tham luận này, tôi xin được đề cập đến một “góc khuất’, “góc tối” trong thơ anh mà khi chiến tranh đã qua, đất nước thống nhất, hòa bình đã gần nửa thế kỷ, ta mới chợt nhận ra, cái “góc khuất”, “góc tối” thơ kia, như những viên ngọc mà do những thiên kiến phủ lên một lớp bụi dày, ngày càng sáng lên và có sức chiếu rọi đến góc gách tâm hồn con người trong không khí hòa giải, hòa hợp của nền thơ ca đương đại. Không hiểu sao, đọc thơ Lưu Quang Vũ, đặc biệt là những bài thơ thuộc loại thơ không thể in được ở miền Bắc trong thời kỳ ấy, tôi cứ liên tưởng đến dòng nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn ở miền Nam. Với riêng tôi, nếu yêu tình ca của Trịnh mười lần thì tôi lại đam mê dòng nhạc phản chiến của người nhạc sĩ này đến gấp đôi hơn. Nó ma mị một cách mạnh mẽ, nó hàm chứa một triết lý cô đặc về chiến tranh, về thân phận bằng những giai điệu, ca từ giản dị đến thật thà.

Bằng một tinh thần khoa học, tạm gác qua bên vấn đề ý thức hệ, khi cảm nhận về chiến tranh, thân phận con người trong chiến tranh, ta dễ nhận ra đã có sự đồng điệu, gặp gỡ giữa hai tâm hồn nghệ sĩ lớn này, nhất là ở ý thức hòa giải, tinh thần hòa hợp được nẩy sinh từ rất sớm - ngay trong lúc cuộc chiến diễn ra khốc liệt nhất mà hai người đang đứng ở hai đầu của cuộc chiến tranh ấy.

Đọc những vần thơ chiến tranh của Lưu Quang Vũ, bằng rung cảm của thơ, tôi đã viết:

chiến  tranh trong anh ít tiếng reo hò

chỉ thấy buốt đau bạo tàn hủy diệt

Tang thương trùm khắp hiện tại - tương lai

một vệt đau dài - Lưu Quang Vũ…

                              (Và đó là… Lưu Quang Vũ).

Vâng, chiến tranh và thân phận con người trong thơ Lưu Quang Vũ, từ trong “góc khuất” kia dần dần hiển lộ ra một gương mặt rất khác so với thơ ca cùng thời ở miền Bắc.

1. Gương mặt chiến tranh

Việc đối sánh thơ ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ hào hùng của dân tộc ta giữa Lưu Quang Vũ và các nhà thơ thời chống Mỹ cũng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến. Ở đó, chúng ta đã nhìn nhận ra sự giống nhau và những khác biệt trong cách phản ánh về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta qua thơ Lưu Quang Vũ.

Đất nước đang chiến tranh và chính sự hào hùng của cuộc chiến tranh ấy đã tạo nên những “Dáng đứng Việt Nam” kỳ vĩ như những tượng đài. Lưu Quang Vũ cũng nhìn nhận tư thế của dân tộc mình như thế, nhưng dẫu sao, chiến tranh cũng đang tàn phá một đất nước nhỏ và nghèo, đang dày xéo một dân tộc vốn bao đời nay đã bị quá nhiều kẻ thù dày xéo. Vì thế, đất nước chìm trong nỗi đau:

Mấy mươi năm đã mấy lớp người

Chia lìa gục ngã

Đã tận cùng nỗi khổ

Người ta còn muốn gì Người nữa

Việt Nam ơi?

                      (Việt Nam ơi).

Đó là một “mảnh đất nghèo máu ứa”, một “Việt Nam khốn khổ”. Hàng chục triệu người Việt Nam chỉ có một Tổ quốc Việt Nam, nên dẫu có “rách nát”, khốn khổ” vẫn “là nơi tỏa bóng yên vui”, nơi ru “lòng ta yên tĩnh”. Quá yêu Người, nên khi nghĩ đến thân thể mẹ Việt Nam đang bị đạn bom dày xéo, người con Việt Lưu Quang Vũ yêu nước đến “xót xa”, nghĩ đến sự tang thương của Người là lòng anh “rách nát”. Anh đã dám nói thật lòng mình và mong mẹ Việt Nam “đừng trách giận”:

Người có triệu chúng tôi, tôi chỉ có một Người

Tất cả sẽ ra sao

Mảnh đất nghèo máu ứa?

Người sẽ đi đến đâu

Hả Việt Nam khốn khổ?

Tổ quốc là nơi toả bóng yên vui

Nơi nghĩ đến lòng ta yên tĩnh nhất

Nhưng nghĩ đến Người lòng tôi rách nát

Xin Người đừng trách giận, Việt Nam ơi

                                                        (Việt Nam ơi).

Ở đây, chúng ta chợt bắt gặp cơn “đau nặng” của một đất nước nhỏ và “điêu tàn” trong nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn ở miền Nam:

Ôi gian nan đời nước nhỏ.

Sao đau thương nhiều lắm thế.

Quê hương bây giờ những ngày điêu tàn còn đó.

Cùng ghi nhớ.

Những phố phường kia đã lên mộ bia.

Dân ta chết trong ngẩn ngơ

                                 (Quê hương đau nặng).

Gương mặt chiến tranh trong thơ Lưu Quang Vũ vì thế cũng tang thương, “hoảng hốt”, “tê dại” đến “kinh hoàng” với “đường tàu”, “những bàn ghế những lá thư, những cánh tay người” “gãy nát”, “mùi thịt cháy” trộn lẫn với “khói bom cay”:

Lửa cháy đỏ trời bốn phía ngoại ô

Tro lả tả xuống mặt gầy hoảng hốt

Bom ném lên cao những đường tàu gẫy nát

Những bàn ghế những lá thư những cánh tay người

Mùi thịt cháy rợn mình mùi khói cay

Ta đứng lặng trong tiếng gầm báo động

Dưới vầng trăng tê dại nỗi kinh hoàng

Bom xé trời, mặt đất chao nghiêng

Vụt mở hoác những vực sâu khủng khiếp

                                    (Ghi vội một đêm 1972).

Có thể nói, rất khó tìm trong thơ chống Mỹ thời ấy, những câu thơ vẽ nên nỗi thảm khốc, bạo tàn của chiến tranh một cách trần trụi như đoạn thơ trên của Lưu Quang Vũ. Và tất nhiên, dưới các loạt bom thù, người già, trẻ con bị giết hàng đêm:

B52 suốt đêm gầm rít

Bom giết cụ già và trẻ nhỏ suốt đêm

                                         (Ghi vội một đêm 1972).

Lại hiện về trong ta những lời hát trong Đại bác ru đêm của Trịnh Công Sơn:

Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng.

Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng…

…từng vùng thịt xương có mẹ có em

                                              (Đại bác ru đêm).

Vâng! Hai trận bom ném ở hai đầu đất nước (Ở miền Bắc của Lưu Quang Vũ chính là bom Mỹ năm 1972, còn ở các thành phố miền Nam của Trịnh Công Sơn thì không biết bom của ai?), nhưng nỗi đau thì vẫn chung, đối tượng hứng bom vẫn là chỉ một: Đất nước Việt Nam; người già, phụ nữ, trẻ em Việt Nam.

Miêu tả chiến tranh, trong thơ Lưu Quang Vũ còn có những trận chiến diễn ra “bên những ngọn đồi”, “bên kia núi đá, “những thương binh giập nát”, thắng thua “vật vã”,  lộn xộn không đầu không cuối “chập chờn sau khói đen”:

Mặt trận ầm ĩ bên kia núi đá

Người ta khiêng về

Những thương binh giập nát…

…Giữa vật vã thương vong và thắng trận

Chập chờn sau khói đen

Những hình ảnh không đầu không cuối

                                                          (Em (I)).

Để lột tả sự bạo tàn, hủy diệt của chiến tranh, Lưu Quang Vũ đã dùng ngòi bút tả thực với những cái chết kinh hoàng với nhiều tư thế chết và cách chết khác nhau:

những người chết trong đêm thân gãy nát

óc chảy ròng trên gạch

những người chết cháy đen

miệng há mắt mở trừng

những xác vùi đẫm máu dưới cầu thang

tay chân vặn vẹo thịt xương

lòng ruột mắc trên dây điện

phố Khâm Thiên ầm ầm đổ sụp

tiếng người la khủng khiếp xé đêm dài

                                                    (Khâm Thiên).

Và đây là những “xác người” trong thơ Lưu Quang Vũ:

xác người nằm ngổn ngang

báo đậy mặt, ruồi đậu bàn chân xám

ngẩng đầu ngơ ngác

bên xác anh xác chị xác mẹ cha

                                        (Khâm Thiên).

Đọc những dòng thơ này không thể không liên tưởng đến nhạc Trịnh Công Sơn. Có cảm giác, sự cảm nhận về những cái chết, xác chết trong chiến tranh của hai người nghệ sĩ này có những điểm trùng hợp khá đặc biệt:

Xác người nằm quanh đây,

trong mưa lạnh này.

Bên xác người già yếu,

có xác còn thơ ngây.

Xác nào là em tôi,

dưới hố hầm này.

Trong những vùng lửa cháy,

bên những vồng ngô khoai 

                         (Bài ca dành cho những xác người).

Bên cạnh Bài ca dành cho những xác người trên đây, Trịnh Công Sơn còn có bài Hát trên những xác người khá nổi tiếng:

Chiều đi lên đồi cao, hát trên những xác người

Tôi đã thấy, tôi đã thấy, trên con đường,

người cha già ôm con lạnh giá.

Chiều đi lên đồi cao, hát trên những xác người

Tôi đã thấy, tôi đã thấy, bên khu vườn,

một người mẹ ôm xác đứa con.

Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người

Tôi đã thấy, tôi đã thấy, những hố hầm

đã chôn vùi thân xác anh em

                       (Hát trên những xác người).

Không những thế, ta lại bắt gặp khá nhiều sự trùng hợp trong cách phản ánh về những cái chết trong chiến tranh giữa Trịnh Công Sơn và Lưu Quang Vũ bằng bút pháp tả thực. Nếu trong bài thơ Khâm Thiên, Lưu Quang Vũ viết:

mặt trời lên trên bãi thây người

mặt dập vỡ ngực trần thủng hoác

những đống tóc gân đầu mình lẫn lộn

những xác tím bầm lạnh buốt sương đêm

                                                    (Khâm Thiên)

thì trong bài Một buổi sáng mùa xuân, Trịnh Công Sơn cũng đã miêu tả rất cụ thể cái chết của một em bé:

Một buổi sáng mùa xuân

Một đứa bé ra đồng

Đạp trái mìn nổ chậm

Xác không còn đôi chân.

Một buổi sáng mùa xuân

Ngực đứa bé tan tành

Ngàn hoa đồng cỏ nội

Cúi xuống nhìn con tim

                                    (Buổi sáng mùa xuân).

Ở Miền Bắc, Lưu Quang Vũ viết:

Bạch Mai Yên Viên Vọng Láng An Dương

phố đầy khăn tang

đêm không đèn tối mịt

chúng tôi ngồi bên nhau chờ cái chết

người các ô lên nằm ngủ vườn hoa

                                       (Khâm Thiên).

Ở Miền Nam, Trịnh Công Sơn hát:

Từng mái gia đình, nay chỉ thấy khăn tang

đi về

Đêm đêm là lo sợ

                        (Lời ru đêm)

Ghế đá công viên dời ra đường phố

Người già co ro chiều thiu thiu ngủ

Người già co ro buồn nghe tiếng nổ

Em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi

                                (Người già em bé).

Cảnh chạy giặc ở Miền Bắc, Lưu Quang Vũ viết:

gió cuối mùa xót xa

thổi xõa tóc đoàn người chạy giặc

những dòng người kéo đi xé ruột

đội chiếu, ôm chăn, đeo làn, vác bọc

chút gia tài nghèo cực địu trên lưng

bao gia đinh dắt díu chị bồng em

những quần áo khói bom lấm rách

                                     (Khâm Thiên).

Cảnh chạy giặc ở Miền Nam, Trịnh Công Sơn hát:

Chiều đi lên đồi cao, hát trên những xác người.

Tôi đã thấy, tôi đã thấy,

trên con đường,

người ta bồng bế nhau chạy trốn

                                           (Hát trên những xác người).

Và cảnh mẹ già tản cư, gia tài không còn gì, chỉ mang theo trái bí sau vườn chạy để làm hành trang trong cơn loạn lạc:

Bí nằm bí ngủ đường xa

Trên vai mẹ già. Bao nhiêu vốn liếng

Nhớ tới một đời đã xới vun

Hôm nay bỏ vườn với xóm thôn

                                         (Bà mẹ Ô Lý).

Đã một thời, chúng ta gay gắt phê phán Trịnh Công Sơn coi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta là một cuộc “nội chiến”. Nhưng dù sao, Trịnh Công Sơn chỉ là một người trí thức yêu nước, nhạc của anh không đặt trên quan điểm của ý thức hệ. Điều lạ lùng không hề có trong thơ ca miền Bắc viết về cuộc chiến tranh này, là, chính Lưu Quang Vũ, dù biết rằng đây là cuộc “chiến tranh phá hoại” của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, nhưng xét trong phạm vi dân tộc, cũng đã ít nhất là hai lần thốt lên như vậy:

Biết nói gì nữa em, cô gái hoang

Của hải cảng tối

Của tấm chăn nghèo thời chiến tranh phá hoại

Của nỗi buồn nội chiến?

                                             (Chiều cuối).

Chúng ta không biết, lúc này, Lưu Quang Vũ đã nghe bài hát Gia tài của mẹ của Trịnh Công Sơn hay chưa, nhưng sự gặp gỡ này rõ ràng là một sự hiếm lạ trong thơ ca kháng chiến chống Mỹ ở miền Bắc thời ấy:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu,

một trăm năm đô hộ giặc Tây,

hai mươi năm nội chiến từng ngày

(Gia tài của mẹ).

2. Thân phận con người

Bình sinh, Trịnh Công Sơn từng tâm sự: Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn, tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào để nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá Đời. Nhà văn Bửu Ý - Một người bạn cùng thời với Trịnh Công Sơn đã từng viết: từ lâu lắm Trịnh Công Sơn đã được giới ái mộ trao tặng danh hiệu là kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận(1). Đó là thân phận của một trí thức miền Nam yêu nước, căm ghét chiến tranh, cũng là thân phận của cả một thế hệ thanh niên miền Nam lúc bấy giờ. Trong thơ ca cách mạng, đặc biệt là nền thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, con người Việt Nam, đặc biệt là những chiến sĩ Giải phóng quân được xây dựng thành nhân vật điển hình của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khó có thể tìm ra tiếng nói của thân phận con người. Nhưng Lưu Quang Vũ, bên cạnh con người Việt Nam anh hùng, anh còn suy nghĩ rất sâu về thân phận nhỏ bé của con người trước chiến tranh hủy diệt. Khi trong đêm tối chiến tranh ở miền Nam, Trịnh Công Sơn ước mơ:

Khi đất nước tôi không còn giết nhau,

trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường

                                                 (Tôi sẽ đi thăm).

thì ở miền Bắc, Lưu Quang Vũ cũng hướng về những lời đồng dao một thời “yên ấm”:

“Hoa lá quên giờ tàn

Mây trắng bay tìm đàn”

Ngày xưa yên ấm quá

Trẻ hát đồng dao trên phố

 (Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn).

Khi ở miền Nam, Trịnh Công Sơn hát:

Chúa đã bỏ loài người

Phật đã bỏ loài người

này em có nhớ cuộc đời.

Này em có biết loài người

                                 (Này em có nhớ)

thì ở miền Bắc, Lưu Quang Vũ viết:

Không phải nến thắp trên quan tài

Kẻ giết người ngủ yên trên giường đệm

Không phải nến bàn thờ

Mọi thần thánh đã trơ gỗ mọt

                                           (Những ngọn nến).

Chiến tranh đến, theo Lưu Quang vũ, Chúa cũng bị hủy diệt cùng kiếp con người nên chẳng còn ai cứu rỗi:

Chúa của tôi ngồi ở bên đường

Ngủ gục trên nắp hầm trú ẩn

Chúa của tôi bom thiêu cháy xém

Chúa của tôi hát xẩm trên tàu điện

Chúa của tôi bới gạch vụn tìm con

Chúa của tôi đêm nay lang thang

Không cửa không nhà vật vờ đói rét

Tôi lớn lên giữa thời bạo ngược

Biết trông đợi gì biết tin tưởng vào đâu

                                                       (Cầu nguyện).

Lưu Quang Vũ từng khẳng định “Nhân dân là lẽ sống của đời tôi”. Trong cuộc chiến tranh này, Chúa đã bất lực, cũng đã bị chiến tranh hủy diệt như thân phận nhỏ nhoi của kiếp con người. Và vì vậy, niềm tin cũng mai một. Từ nửa thế kỷ XIX, bàn về thân phận con người, nhà triết học Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844-1900) đã từng tuyên bố: Chúa đã chết! Do đó, con người phải tự gánh lấy xác và hồn của mình giữa cuộc trần ai. Dường như cả Lưu và Trịnh đều đã đọc Nietzsche và cùng cảm nhận sâu về thân phận con người với tất cả sự nhỏ nhoi và bất lực trước cuộc chiến hung tàn:

Lại sắp hết một năm

Đất nước chưa xong giặc

Bao nhiêu người chết

Tiếng súng đóng đinh trên ngực cuộc đời

                   (Lưu Quang Vũ - Lại sắp hết năm rồi).

Về hình tượng người lính trong chiến tranh, Lưu Quang Vũ cũng đã từng ca ngợi:

Máu ướt đẫm bàn tay khi tôi nâng xác bạn

Anh ấy chết cho Hà Nội của tôi

Cho mỗi ngôi nhà, cho mỗi niềm vui

                              (Viết lại một bài thơ Hà Nội).

Nhưng cũng chính anh, trong những phút giây bất lực trước sự tàn phá, cắt chia, hủy diệt của chiến tranh, đã bộc lộ cái cô đơn, “vui buồn nín lặng” của thân phận người lính nói riêng và cả thế hệ trẻ lúc bấy giờ nói chung:

Chúng ta ra đi chiến tranh mùa đông

Ta kịp biết gì đâu

Vừa hết trẻ con đã là người lính

Cô bạn gái cánh tay trần rám nắng

Ngực phập phồng thở mạnh đến lo âu

Đừng nói với ta những lời hào nhoáng về chiến tranh

Tuổi trẻ ta đã qua bạn bè ta đã chết

Ta đã vượt bao đèo cao chót vót

Bao điều nhà trường chẳng dạy cho ta

Nghĩ lại giễu cười những giấc mộng tuổi thơ

Giờ trong ta vui buồn đều nín lặng

Một thế hệ cứng đi như thỏi sắt

Nhưng xoáy ngầm vẫn cuộn ở lòng sông

                                (Những bông hoa không chết).

Kể cả người lính từ chiến trận trở về, cũng được anh lột tả về thân phận hơn là về tư thế hào hùng như ta thường thấy:

Người con giai đi tìm em mười năm

Hắn từ mặt trận trở về

Từ quán rượu từ phố đông huyên náo

Từ những câu thơ tuyệt vọng trở về

Bị lừa dối, bị lăng nhục

Rách rưởi, bờ phờ, cô độc

Hắn ngồi trước mặt em

              (Người con giai đến phòng em chiều thu).

Với Lưu Quang Vũ thì đó là người chiến sĩ mang chính bóng dáng cuộc đời anh, còn với Trịnh Công Sơn thì người lính này dường như để chỉ tuổi trẻ Việt Nam ở cả hai phía. Thế nhưng tâm trạng của Lưu và Trịnh vẫn cùng ngùi thương cho thân phận tuổi trẻ trong mối quan hệ với chiến tranh:

Anh lính ngồi chờ trên đồi hoang vu

Người tù ngồi chờ bóng tối mịt mù

Chờ đã bao đêm

Chờ đã bao đêm

Chờ đã bao đêm

 (Trịnh Công Sơn - Chờ nhìn quê hương sáng chói)

và:

 Ngày mai đây con sẽ về

dù thân xác thiệt thòi

                           (Trịnh Công Sơn - Hãy cố chờ).

Ở miền Nam, Trịnh đã thật sự rơi vào cô đơn và bế tắc muốn rời bỏ thế nhân:

Xin cho tôi yên ngủ một ngày

Xin cho đêm không có đạn bay

Xin cho chim góp nhạc về trời

Xin cho tôi là kiếp của  mây.

Xin cho tôi ra khỏi cuộc đời

Để bao giờ trời đất yên vui

Xin cho tôi xin lại cuộc đời

                                   (Xin cho tôi).

thì ở miền Bắc, chính Lưu Quang Vũ đã tự nhận mình là:

Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ

Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào

Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao

Giữa sự thông minh của đông vui bè bạn

Vứt sách xuống gầm bàn đi ra mặt trận

Tôi là người lính cô đơn ở giữa trung đoàn

Bao lâu rồi vẫn chỉ có thế thôi

Nỗi cô đơn hoàn toàn cô đơn khủng khiếp

Trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang sách

Những người lính ngồi hút thuốc

Mũ sắt mưa rào

Những người lính mặt đen má hóp

Hát gì nghêu ngao

                              (Em (I)).

Trong gia đình, Lưu Quang Vũ là một “đứa con cô đơn”, giữa lớp học là “thằng bé lẻ loi”, ra mặt trận lại là “người lính cô đơn”. Cả tuổi trẻ của Lưu là “Nỗi cô đơn hoàn toàn cô đơn khủng khiếp”. Cái tư thế “người lính ngồi hút thuốc” với hình hài “mặt đen má hóp” miệng “hát nghêu ngao” hoàn toàn khác với tư thế người chiến sĩ Giải phóng quân “xuôi ngược tung hoành, bước dài như sóng lay thành chuyển non” (Tố Hữu) trong thơ cùng thời. Thân phận người lính gắn liền với những thân phận nhỏ nhoi của những người thân trước sự sống chết của đạn bom, chia cắt:

ta cùng uống ấm chè trong ca sắt

rồi vội vã lên đường

đứa Nam Bộ Tây Nguyên

đứa ngã xuống ở Đông Hà Đường Chín

đứa nheo nhóc vợ con, đứa già nua trước tuổi

có gương mặt đã thành tro bụi

đã cứng khô như mảnh tôn gầy

                                   (Tuổi thơ).

 Với những “gương mặt đã thành tro bụi” của người lính chết trận “cứng khô như mảnh tôn gầy”, rõ ràng Lưu Quang Vũ đã gợi cho ta những thân phận người chết trong chiến trận, chứ hoàn toàn không đơn giản chỉ là sự hi sinh cao cả của người chiến sĩ quân giải phóng. Cũng trong cảm thức như vậy, Trịnh Công Sơn đã hát cho những người lính chết ở cả hai miền:

Tôi có người yêu  chết trận Asao

Tôi có người yêu nằm chết cong queo

Chết vào lòng đèo, chết cạnh gầm cầu

Chết nghẹn ngào mình không manh áo

Tôi có người yêu chết trận Ba Gia

 Tôi có người yêu vừa chết đêm qua

Chết thật tình cờ, chết chẳng hẹn hò

 Không hận thù nằm chết như mơ

                      (Tình ca người mất trí).

Và đọc những câu thơ dưới đây, lại càng gợi cho ta cảm giác, Lưu Quang Vũ đang nói chung về thân phận tuổi trẻ và quê hương ở cả hai miền đất nước:

Những năm nhà nào cũng thiếu người

làng mạc ruộng vườn vắng bặt con trai

chúng tôi đi

cơn bão dữ thổi hai đầu đất nước

tuổi trẻ, ước mong, những gì quý nhất

đều trôi qua trong bụi xám chiến hào

                                                         (Cơn bão).

Tất cả đều cùng một số phận “nhà nào cũng thiếu người”, “làng mạc ruộng vườn vắng bặt con trai” giữa “cơn bão dữ thổi hai đầu đất nước” cùng đánh mất tuổi thanh xuân trong “bụi xám chiến hào”. Đọc đến đây, lại nhắc nhớ ta những lời ca phản chiến như kinh nhật tụng phổ biến ở miền Nam thời ấy. Đó là những bà mẹ nguyện cầu hàng đêm cho con mình ra trận được bình an, vượt qua hoạn nạn:

Mẹ ngồi nguyện cầu hằng bao đêm

Lời kinh vọng xa thật êm đềm

Mẹ cầu cho con

Vượt qua ngày tròn

Mẹ cầu cho em

tuổi trẻ xanh còn nguyên đừng biến mất

                              (Trầm Tử Thiêng - Kinh khổ).

Và Trịnh Công Sơn:

Đêm mẹ ngồi cầu kinh

Tường trắng im lìm…

…Ngày tháng ưu phiền

Tóc mẹ trắng như bông

Đêm chờ

bom rung từng liếp cửa

                                 (Lời ru đêm).

Những năm chiến tranh ấy, trong thơ ca miền Nam xuất hiện rất nhiều thân phận của những “người điên”. Điên thật bởi thời cuộc và vì tâm trạng bế tắc trước cuộc chiến tranh, tao loạn có; điên giả để khỏi ra chiến trường cũng có. Đó là bản trường ca dài Ngụ ngôn của người đãng trí của một thủ lĩnh phong trào đấu tranh sinh viên - nhà thơ, liệt sĩ Ngô Kha. Đó là Trịnh Công Sơn với bài hát Tình ca của người mất trí, và:

Một người già trong công viên.

Một người điên trong thành phố

Một người nằm không hơi thở

Một người ngồi nghe bom nổ

                               (Ngày dài trên quê hương).

Và có cả những “người điên” trong cơn “vô thức tập thể” bế tắc và sự mâu thuẫn giữa cảnh chết chóc hàng ngày với khát vọng bình yên:

Mẹ vỗ tay reo mừng xác con  

Mẹ vỗ tay hoan hô hòa bình

Người vỗ tay cho thêm nhịp nhàng

Người vỗ tay cho đều gian nan

                          (Hát trên những xác người).

Và lạ thay, trong thơ Lưu Quang Vũ thời bấy giờ, ở miền Bắc, cũng xuất hiện rất nhiều những người điên có dáng dấp và hành vi “bí hiểm” như thế:

Như anh điên trước quán tóc bù xù

Cứ mỉn cười bí hiểm dõi nhìn ta

…Chỉ anh điên vẫn đứng sững ngoài đường

Thân tiều tụy ôm mặt cười lặng lẽ

                                         (Quán cà phê ngoại ô).

Không chỉ có một lần, tôi thử thống kê sơ bộ trong tập “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” đã có tới 18 lần có sự xuất hiện của những “người điên” cả nam và nữ, cả già và trẻ, mà hầu hết là những người điên vì thời cuộc. Đây cũng là một hiện tượng lạ trong thơ thời ấy.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, trở thành “lương tri của nhân loại”. Điều này ta bắt gặp nhiều trong dòng chính lưu của thơ ca chống Mỹ. Lưu Quang Vũ bên cạnh ca ngợi chủ nghĩa anh hùng và truyền thống vẻ vang của dân tộc, đứng trước cuộc chiến, anh còn cảm nhận được thân phận “người Việt da vàng” nhỏ nhoi trước sự uy hiếp chiến tranh của các nước lớn. Có lẽ, cho đến hiện nay, trong thơ ca chống Mỹ ở miền Bắc lúc bấy giờ, quan niệm “Người việt đói nghèo, cơ cực” và cụm từ “người Việt da vàng” chỉ có Lưu Quang Vũ sử dụng. Sử dụng không phải một lần mà còn lặp đi lặp lại:

Người Việt đói nghèo thân cơ cực

Đất hẹp trụi trần vạn khổ đau

Tối đen thành phố đêm lưu lạc

Máy bay giặc rít ở trên đầu

Ba đứa da vàng ngồi uống rượu

Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu

(Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn).

Đó còn là một “dân tộc bốn ngàn năm đói rách”, người Việt “đói khát vật vờ đi” cùng với “cái nỗi buồn bị đọa đày lăng nhục”:

Dân tộc tôi bốn ngàn năm đói rách

Những người chết đặc trong lòng đất

Những mặt vàng sốt rét

Những bộ xương đói khát vật vờ đi…

…Cái nỗi buồn dân tộc

Cái nỗi buồn bị đọa đày lăng nhục

Của người quét đường, xẩm chợ, đò ngang

                                             (Đất nước đàn bầu).

Trong khi đó, trong thơ ca miền Nam thời ấy thì những khái niệm, những cụm từ này được sử dụng rất phổ biến, đặc biệt là nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn. Đó là bài ca Người nô lệ da vàng nổi tiếng:

Người nô lệ da vàng

Ngủ quên, ngủ quên trong căn nhà nhỏ

Ðèn thắp thì mờ

Ngủ quên, quên nước quên non

Ngủ quên, quên đã bao năm

                                (Người nô lệ da vàng).

Và:

Một ngục tù nuôi da vàng

Người Việt nằm nhớ nước non

                                 (Ngày dài trên quê hương).

Đó còn là “gia tài để lại” cho con của người Mẹ Việt Nam:

Gia tài của mẹ để lại cho con

Gia tài của mẹ một nước Việt buồn

…Mẹ mong con chớ quên màu da

Ôi chớ quên màu da

Nước Việt xưa.

…Mẹ mong con lũ con đường xa

Ôi lũ con cùng cha

Quên hận thù.

                                 (Gia tài của mẹ).

Và cái “màu vàng trên da thơ”, “sắc vàng như hoa mặt” của màu da Việt đã được Trịnh Công Sơn và Lưu Quang Vũ nâng lên thành biểu tượng cho một dân tộc khổ nghèo:

Mẹ Việt nằm hai mươi năm, xương da mềm, đợi giờ sông núi thiêng.

Một màu vàng trên da thơm, nên giữ gìn màu lúa chín quê hương

                     (Trịnh Công Sơn - Ngày dài trên quê hương).

Và:

Sắc hoa vàng như hoa mặt chúng ta

Một chủng tộc đói nghèo bên biển cả

                   (Lưu Quang Vũ - Những đêm hoa vàng).

Và với quan điểm phản chiến phi giai cấp của Trịnh thì đàn con Việt là con chung của cả hai miền:

Đứa con của mẹ da vàng

Ru con ru đạn nhuộm hồng vết thương.

Hai mươi năm đàn con đi lính

Đi rồi không về

đứa con da vàng của mẹ.

Ngủ đi con

                          (Ngủ đi con).

hay:

Đại bác đêm đêm ru da thịt vàng

đại bác như kinh không mang lời nguyện

trẻ thơ chưa lớn để thấy quê hương

(Đại bác ru đêm).

và:

Người con gái Việt Nam da vàng

Yêu quê hương như yêu đồng lúa chín

                                (Người con gái Việt Nam)...

Đứng về phương diện cá nhân, ngay những năm tháng miền Nam điêu tàn ấy, Trịnh Công Sơn đã tự nhận mình “đứa con da vàng Lạc Hồng” thì ngay giữa ngày tháng hào hùng ở miền Bắc, Lưu Quang Vũ cũng tự nhận mình là “gã làm thơ da vàng” đầy thân phận:

Có một gã làm thơ da vàng

 Không đêm nào ngủ được

                                  (Liên tưởng tháng hai).

Điều khác nhau giữa Lưu và Trịnh là, khi ở đô thị miền Nam, Trịnh đã nhận thấy những người con da vàng rời thành phố đi về đồi hoang như một tín hiệu cách mạng lặp đi lặp lại:

Người nô lệ da vàng

bước đi, bước đi, đi về đồi hoang.

Người nô lệ da vàng

bước đi, bước đi, đi về đồi hoang

                                     (Người nô lệ da vàng).

thì ở miền Bắc, Lưu Quang Vũ nhận thấy dáng hình “bất khuất” của những người Việt da vàng trong cuộc kháng chiến không cân sức ấy:

Người nô lệ da vàng bất khuất

Vươn giữa trời thơm ngát tấm lòng son

                                             (Đất nước đàn bầu)…

Tóm lại, nếu trong thơ kháng chiến chống Mỹ của dòng văn học cách mạng, xuất hiện rất nhiều những hiện thực vĩ đại và hào hùng cùng những nhân vật điển hình của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thì riêng trong thơ Lưu Quang vũ lại có một mạch ngầm riêng trong cách phản ánh về chiến tranh và thân phận con người. Điều này, bây giờ, bình tĩnh nhìn lại, ta nhận ra được “tầm thơ” riêng vô cùng độc đáo của Lưu Quang Vũ.

 

3. Vĩ thanh

Khi tôi vừa hoàn thành bài tham luận này thì PGS.TS Lưu Khánh Thơ - người em gái của Lưu Quang Vũ gửi tặng cuốn Di cảo Lưu Quang Vũ vừa mới phát hành. Rất tiếc, Di cảo chỉ mới công bố Nhật ký của anh trong 3 năm (từ 1963 đến 1965) nên chưa thể biết những năm sau đó, Lưu Quang Vũ có nói gì về sự tiếp nhận nhạc Trịnh hay không. Nhưng may quá, sau phần nhật ký, Di cảo đã công bố tập thơ Những bông hoa không chết, trong đó có bài Những gương mặt. Bài thơ này, dưới nhan đề, Lưu Quang Vũ ghi: Tặng một người bạn Huế. Tất nhiên, thời điểm viết bài thơ, Lưu không thể ghi tặng trực tiếp cho Trịnh. Nhưng rõ ràng qua nội dung bài thơ, ta hiểu ngay là Trịnh, bởi ở đó, ngoài việc miêu tả hành tung của “người bạn” ấy, Lưu Quang Vũ còn trích lời hai đoạn nhạc phản chiến của Trịnh là Tình ca người mất trí và một bài khác (chưa tìm được tên bài). Ta thử đọc một đoạn, sẽ nhận ra ngay điều này:

anh thành kẻ cô đơn trong Tổ quốc của mình

kẻ tha thương ngay ở giữa quê hương

đêm đêm quân cảnh vây lùng

gác xép tối tăm ẩn núp…

… điệu blue nức nở

"tôi có người yêu chết trận Plâyme

tôi có người yêu, ở chiến khu Đ

chết trận Đồng Xoài...

chết không hẹn hò"…

… thành phố gặp nhau những buổi xuống đường

đốt lửa lên chiếu soi bè bạn

đốt lửa lên nhìn rõ mặt quân thù

lựu đạn cay, ma-trắc, lưỡi lê

Viện hoá đoạ, Tổng nha, Toà đại sứ

máu Lê Văn Ngọc, lửa Nhất Chi Mai

máu thiêng liêng liên kết triệu con người

Trần Quang Long, Tống Phước Thọ, Lê Văn Nuôi

những người đã khuất

còn lung linh trong tiếng hát dập dồn

"không bao giờ nô lệ trăm năm

không bao giờ nô lệ một năm

không bao giờ nô lệ một ngày"

                                   (Những gương mặt).

Như vậy, ta có thể kết luận, khi làm bài thơ này ở miền Bắc cũng như những bài thơ khác, Lưu Quang Vũ, qua báo đài đã nghe và nắm rất rõ về phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên ở miền Nam và bằng cách nào đó đã nghe rất nhiều nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn (Điều mà phần trên bài tham luận này, tôi còn nghi vấn), cũng tương tự như trí thức, sinh viên miền Nam đã từng nghe và hát nhạc đỏ của miền Bắc giữa lòng đô thị miền Nam. Có lẽ chính sự tìm hiểu về ý nghĩa của phong trào đấu tranh này đã đưa Lưu đến với nhạc phản chiến của Trịnh. Từ đó nẩy sinh trong Lưu Quang Vũ sự “tìm gặp nhau” để “đặt lại những câu hỏi về cuộc chiến tranh này” của tuổi trẻ hai miền:

Cô đào nổi loạn Giên Phôn-đô

trên đê Hải Dương vung nắm tay họp báo

người ta giết sinh viên Nguyễn Thái Bình

bằng năm viên đạn

tuổi trẻ chúng tôi tìm gặp nhau

đặt lại những câu hỏi

về cuộc chiến tranh này

về mọi giá trị trên đời

nguồn gốc những nguyên nhân

của chém giết và thù hằn

bất công và đói rét

                         (Hồ sơ mùa hạ 1972).

Câu hỏi đặt ra đó là: Tuổi trẻ hai miền “cần phải làm gì để có lý do mà hy vọng?”:

cần phải làm gì

Hải Phòng Thanh Hóa Nam Định

những thành phố bị hủy diệt

những vụ thảm sát khổng lồ

những thành phố điên

Huế Đà Nằng Sài Gòn

Quảng Trị An Lộc Đường 13

cần phải làm gì

                        (Hồ sơ mùa hạ 1972).

Trong khi đó, ở miền Nam, những đoàn sinh viên biểu tình đang hát to những lời nhạc Trịnh:

Chính chúng ta phải nói hòa bình

Khi đất này địa ngục dựng lên

Chính chúng ta dành lấy mọi quyền

Quyết chối từ chém giết anh em

Em đã thấy các anh lên đường

Những tay trần làm cơn bão lớn

Cùng đứng bên nhau

Triệu bước nôn nao

Biểu ngữ giăng cao

Ta hãy nói hãy kêu tung trời

Ta phải đến khắp nơi ta đòi

Ruộng cần bàn tay

Nhà cần người xây

Vũ khí xếp lại

                  (Chính chúng ta phải nói).

Sự gặp gỡ giữa thơ Lưu Quang Vũ lúc này và nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn, theo tôi, có lẽ bắt nguồn từ đó. Trịnh Công Sơn sinh năm 1939, Lưu Quang Vũ sinh năm 1948, cách nhau gần 10 tuổi. Giai đoạn Trịnh sáng tác mạnh mẽ dòng nhạc phản chiến để cổ vũ cho phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam cũng là giai đoạn cuộc chiến tranh diễn ra ngày càng khốc liệt (khoảng từ 1968 đến 1972). Đây cũng là giai đoạn Lưu Quang Vũ làm những bài thơ bày tỏ những “góc khuất”, “góc tối”, nỗi cô đơn trong lòng mình - những bài thơ không phải viết để in (vì không thể in) vào lúc đó. Nhưng anh phải viết ra bởi sứ mệnh của thơ ca, thiên năng của một thi sĩ. Khi đọc những bài thơ của giai đoạn sáng tác này của anh (tập thơ Cuốn sách xếp lầm trang), Vũ Quần Phương đã thảng thốt kêu lên: Tôi đọc và sửng sốt, đây là một Lưu Quang Vũ khác, một Lưu Quang Vũ bạn bè còn ít biết tới. Ở đây anh cô đơn hơn, cay đắng hơn và nhiều ý nghĩ của anh bế tắc quá. Nhưng cũng chính ở đây anh viết thực chân thành, trái tim trần trụi nhoi nhóp đập sau nét chữ mảnh mai như chữ con gái - chưa bao giờ tôi thấy Lưu Quang Vũ chân thành đến tàn nhẫn với chính mình như ở tập này(2). Đây là nỗi cô đơn rất Lưu Quang Vũ:

Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát

Nỗi cô độc đen ngòm như miệng vực

                                           (Lá thu).

Và cách nhìn nhận chiến tranh theo cảm nhận của riêng anh:

Cuộc chiến tranh tàn ác

Xô tháng ngày vỡ nát nối nhau trôi

Điều anh tin không có ở trên đời

Điều anh có không giúp gì ai được

Gương mặt em chỉ còn là kỉ niệm

Mối tình xưa anh cũng đã quên rồi

                                     (Quán cà phê ngoại ô)

và:

Trong buổi chiều phiêu bạt

Những chiếc xe bò đi vào thành phố

                                       (Chiều cuối).

Đọc hai câu thơ này của Lưu xui ta nhớ lời bài ca “Du mục” của Trịnh:

Đàn bò vào thành phố

Đêm buồn vắng buồn hơn

Đàn bò vào thành phố

Không còn ai hỏi thăm

Đàn bò tìm dòng sông

Nhưng dòng nước cạn khô

                               (Du mục).

Lưu Quang Vũ không những chỉ gặp gỡ Trịnh Công Sơn trong thơ viết về chiến tranh, thân phận và ý thức hòa giải, hòa hợp mà, ở mảng thơ tình của Lưu và nhạc tình của Trịnh vẫn có những gặp gỡ rất vô tình:

“Từ cát bụi sẽ lại về cát bụi”

Màu cỏ xanh ngàn năm

Tia nắng chiều trước biển mênh mông

Anh nắm bàn tay bé nhỏ

                            (Lưu Quang Vũ - Lời cuối);

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi,

để một mai tôi về làm cát bụi.

Ôi cát bụi phận này, vệt mực nào xóa bỏ không hay                 

                                (Trịnh Công Sơn - Cát bụi).

Đau đớn đến quằn quại trong thơ và thậm chí có lúc cả hai đều lâm vào bế tắc trước cuộc chiến kéo dài, nhưng Trịnh và Lưu vẫn có một điểm chung, đó là một niềm lạc quan như thể đó là thiên chức của người nghệ sĩ:

Cuộc sống anh không chấp nhận

 Mà thương đến xót xa lòng

(Lưu Quang Vũ - Vẫn thơ tình về một người đàn bà không có tên II);

Hãy cứ vui như mọi ngày,

dù chiều nay không ai qua đây,

hỏi thăm tôi một lời,

vẫn yên chờ đêm tới

(Trịnh Công Sơn - Hãy cứ vui như mọi ngày);

Dẫu đường dài xa ngái

Đừng phút nào mệt mỏi thơ ta ơi

                  (Lưu Quang Vũ - Nói với mình và các bạn);

Hãy yêu ngày tới, dù quá mệt kiếp người,

còn cuộc đời, ta cứ vui,

dù vắng bóng ai,

dù vắng bóng ai

                       (Trịnh Công Sơn - Để gió cuốn đi).

Sống ở hai miền trong thời đất nước cắt chia và chiến tranh tan tác, ý thức hệ của hai người thanh niên hai đầu chiến tuyến cũng đối lập nhau. Nhưng có lẽ cùng nuôi trong tim một tình yêu nước đến xót xa, cùng một thái độ phản đối và căm ghét chiến tranh hủy diệt đối với “người Việt da vàng”, đau đớn khôn nguôi trước những cái chết của tuổi trẻ hai miền và khát vọng hòa bình, cộng với phẩm chất bao dung, tính nhân bản của những tâm hồn người nghệ sĩ lớn đã dẫn Trịnh Công Sơn và Lưu Quang Vũ đến những gặp gỡ rất thú vị này. Trịnh được xem là người giữ vị trí số một trong dòng nhạc phản chiến ở miền Nam và Lưu cũng được xem như hiện tượng số một trong nền thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc lúc bấy giờ.

                                          

Xóm Chòi Dầu, tháng 5/ 2018

(Báo cáo tham luận trình bày tại Hội thảo khoa học Cuộc đời và sự nghiệp văn học Lưu Quang Vũ nhân kỷ niệm 70 năm ngày sinh và 30 năm ngày mất của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ do Viện Văn học  và Trường Đại học Duy Tân Đà Nẵng tổ chức ngày 29/8/2018. Được trích đăng trong Tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện Văn học, số tháng 8/2018).

 

Ghi chú:

- Hầu hết thơ Lưu Quang Vũ sử dụng trong bài được trích từ: Lưu Quang Vũ - Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (Nxb Hội Nhà văn, 2010) và một vài đoạn trích bổ sung trong Di cảo Lưu Quang Vũ (Nxb Trẻ, 2018).

- Nhạc Trịnh Công Sơn được trích dẫn qua trí nhớ tác giả và kiểm định qua băng, đĩa, các trang mạng vì hầu hết những bản nhạc trong dòng nhạc phản chiến của Trịnh chưa được in thành tập.

 

 

 

 

 

 

PHỤ LỤC

HAI  BÀI THƠ VỀ TRỊNH CÔNG SƠN

VÀ LƯU QUANG VŨ CỦA TÁC GIẢ MAI BÁ ẤN

 

VÔ THƯỜNG CÕI TRỊNH

Trong tưởng tượng của riêng em, Sơn cứ thoáng hiện mơ hồ như mây khói! Không phải đến bây giờ (khi Sơn đã thực sự đặt dấu chân trên cõi địa đàng) mà ngay chính lúc Sơn đang còn sống. Sơn mỏng manh siêu thoát ngay ở cõi trần ai. Sơn trinh trắng thật lòng đến trong veo như lòng suối

 Em đã từng thờ phượng trong cõi suy tư chính mình những trở trăn Sơn từng nếm trải, mỗi chuỗi nhạc ngân như từng hồi chuông nguyện. Nhạc thành Kinh trong sâu thẳm tâm hồn

Vườn địa đàng nơi loài sâu hát khúc ưu phiền của Sơn em đã hơn một lần ưu phiền ngồi hát, giờ Sơn về nơi ấy bỏ lại đây hoang sơ như rong rêu tiền sử cho hình hài trổ nhánh hoang vu. Em ngồi khóc trong hương hoa vô thường tịch lặng

 Không khí chùa chiền, âm vang những khúc Kinh cầu như thấm đẫm vào từng khuôn nhạc của Sơn. Nhạc Sơn có cái u ẩn bí mật linh thiêng của Phật hoà trong cái day dứt quá vãng kinh thành một cõi Huế xưa. Lại cũng rộn ràng, đơn giản trong tiết tấu song vẫn lại cứ thâm trầm dòng chảy suy tư một bề sâu triết luận trải theo giọng hò trên sóng nước Hương giang

Dù ta đang ở đâu

Oa sinh tơn hiện đại xa xôi hay Pari gụi gần huyền thoại, dù đang tê buốt trong mênh mông Đà Lạt sương mù hoặc mòn gót trên những con đường Sài Gòn hoa lệ, nhạc Sơn cất lên là lập tức du hồn ta về cõi thiên thai mơ hồ lẩn khuất u huyền trong sương khói chùa chiền và rong rêu thành cổ

Bình sinh Sơn yêu nhiều và chính tình yêu đã cho Sơn sức mạnh, nhưng hạnh phúc thì lại quá vợi xa, mỏng manh dễ dàng tan biến. Chính vì thế, Sơn tự cô độc lấy chính mình để thoát khỏi vòng luân hồi những oan tình quả báo

Nói nhạc Sơn u trầm như cổ kính chùa chiền là nói ở góc nhìn theo con mắt huyễn vi đạo học. Thật ra chảy trong dòng thác âm thanh của Sơn còn có âm hưởng quý phái cao vời của những Thánh kinh. Có cái vút nhọn dứt khoát như nóc chuông giáo đường quyện trong những mái cong nhà vòm phố cổ

 Trang trọng, thoát tục, quý phái, đẹp và sang

Trụi trần, bùn lầy, quyện nước mắt, máu xương

 Nhạc Sơn cứ réo rắt cùng năm tháng. Réo rắt trong anh trong em từng giọt từng giọt thanh cao như vừa từ đôi tay thon thả của Sơn buông dây tơ trong cõi vô thường.     

                                                          Quảng Ngãi, 25/9/2005

 

 

 

 

VÀ ĐÓ LÀ… LƯU QUANG VŨ

 

 

anh gom gió - gió trời thổi lộng

bão lòng anh lộng thổi bốn phương trời

câu chữ đơn sơ tâm trạng bùi ngùi

hiện thực rối bời…

Lưu Quang Vũ…

 

hồn anh gom mây - mây bay trắng trời

khi tụ về lòng màu mây thôi trắng

nghe chừng ảm đạm trời sắp mưa tuôn

nằng nặng giọt buồn…

Lưu Quang Vũ…

 

thơ là mây trắng nên hồn lang thang

vẫn dành riêng em “trái tim trong ngực”

một tình thủy chung, một tình dở dang

“tha thứ cho cha”, ôi tình cha con

Lưu Quang Vũ…

 

chiến  tranh trong anh ít tiếng reo hò

chỉ thấy buốt đau bạo tàn hủy diệt

tang thương trùm khắp hiện tại - tương lai

một vệt đau dài…

Lưu Quang Vũ…

 

quê hương trong anh “mảnh vườn”, “thửa ruộng”

vườn đong đưa mấy trái xoài vàng

câu hát vút lên trên đồng trên bãi

“quả bầu khô là tâm sự của vườn”

Lưu Quang Vũ…

 

thành phố trong anh chẳng chút phồn hoa

đơn sơ phố nghèo ngoại ô xa vắng

người lao động sống thấp thoáng người điên

tiếng trẻ huyên thuyên

Lưu Quang Vũ…

 

nhân dân trong anh hi sinh chịu đựng

âm thâm “mài mực”, lặng lẽ rèn gươm

hòa bình cày ruộng, giặc đến lên đường

“lẽ sống đời anh”

Lưu Quang Vũ…

Tổ quốc trong anh bên cạnh huy hoàng

lắm nỗi gian nan quá nhiều cay đắng

nặng lòng với nước yêu đến xót xa

tiếng Việt ngân nga…

Lưu Quang Vũ…

 

ngấm hết bi hài anh làm ra kịch

sân khấu cuộc đời bao chuyện buồn vui

phẫn nộ - xót xa - tin tưởng - ngậm ngùi

triết luận cuộc đời…

Lưu Quang Vũ…

 

anh không thích những câu thơ “thánh thót”

lúc đọc lên ai cũng thấy ‘vui lòng”

thơ “chống lại bóng đen trì trệ”

bài thơ hay là “chống lại chính tôi”

Lưu Quang Vũ…

 

                                Đà Nẵng, tháng  4 - 2018.

 

 

 

 

 

---------------------------------

*Những cụm từ trong ngoặc là thơ Lưu Quang Vũ.



(1)  Theo Giang Nguyễn, Thân phận trong thơ Trịnh, VNExpress, 21/8/2010.

(2) Lưu Quang Vũ, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Nxb Hội Nhà vawn2010, tr.356

 

Các bài khác:
· NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG- TÀI NĂNG VÀ NHÂN CÁCH
· NGUYỄN KHOA ĐIỀM- CHỈ CÓ THƠ LÀM LẼ PHẢI THẦM LẶNG
· ĐỌC “TÌNH NHÂN ƠI” CỦA TRẦN HẠ VI
· THỜI TA ĐI HỌC
· NHỮNG CÂU CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG ĐIỀU CỐT LÕI (DIỄN TỪ VỀ NGUYỄN NGỌC TƯ)
· VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC ĐẠI CHÚNG: ĐAM MĨ TIỂU THUYẾT VÀ FANFICTION
· VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ TRẦN MAI NGÂN
· NHỮNG NGHỊCH LÝ VÀ TƯƠNG PHẢN TRONG THƠ BẠCH CƯ DỊ
· THƠ SAU CHỮ LÀ…
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· XEM MƠ, NHỮNG MIỀN MÊ DỤ
· ĐỪNG ĐI
· TRÚC THANH VỚI BẢN TÌNH CA XÔ-NÁT
· XEM MƠ CÙNG HỒ THẾ HÀ
· KHI NÀNG THƠ THAY ÁO
· TÂM HỒN ANH SỐNG LẠI THÀNH TRẺ THƠ
· ĐỌC “QUÊ TRONG PHỐ” CỦA NGUYỄN XUÂN MÔN
· CHÙM THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ
· VÂN ĐÀI –TIẾNG THƠ NGỦ QUÊN GẦN BA PHẦN TƯ THẾ KỶ
· VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ VĂN THÙY "DỊ NHÂN"

 

  
Gia đình Bích Khê