DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TẾT Ở RỪNG

                                                                                                                                       LÊ VĂN THẢO

Đúng ra phải gọi Tết trong chiến khu, không phải tất cả những năm tháng kháng chiến chúng tôi đều ở rừng, có khi còn về đồng bằng, thậm chí năm 68 Tết Mậu Thân còn về Sài Gòn.
Trong mỗi người Việt Nam, cái Tết là một mốc thời gian rất quan trọng, luôn đánh dấu cái gì đó. Như tôi giờ đây ở tuổi “tính sổ cuộc đời”, không tính đoạn đầu thời thơ ấu quí giá tôi muốn giữ cho riêng mình, còn lại đoạn giữa thời lớn lên đi kháng chiến mười bốn năm, và hòa bình đến nay gấp đôi thời gian ấy. Chính là đoạn giữa mười bốn năm ấy, mười bốn cái Tết trong rừng trong chiến khu, những năm tháng đầy ắp kỷ niệm, những cái Tết không thể nào quên. Tôi xin kể ngắt quảng một số cái Tết đáng nhớ hầu bạn đọc.

Năm 1962, từ trường Đại học khoa học tôi vào chiến khu, không được về thẳng cơ quan mà phải qua thời gian thử thách, nói thẳng là “cải tạo lao động”, về sống bà con nông dân ở địa phương. Cho tới giờ, già lão trong trường đời rồi, tôi thật sự không hiểu “cải tạo” là như thế nào, sao phải “cải tạo”? Học sinh sinh viên như tôi, được xếp vào lao động trí óc, cần phải “cải tạo” bằng lao động chân tay. Nhưng lao động trí óc không phải là lao động, thậm chí còn nặng nhọc hơn lao động chân tay hay sao? Tại sao phải chuyển từ lao động cấp cao sang lao động cấp thấp? Nhưng hồi đó tôi hăng lắm, tôi thấy như vậy là đúng, sống với bà con nông dân làm đủ chuyện cắt lúa nhổ cỏ, giả gạo , chèo ghe tát đìa bắt cá. Nhưng hóa ra người dân bình thường lại thấy điều đó là khôgn đúng, là “phí uổng”, anh chàng sinh viên đại học đi tôi giả gạo làm chi, đi dạy học có hơn không, trẻ con vùng quê nghèo nàn ven đồng Tháp Mười này rất cần được học. Vậy là tôi đi dạy học, đang học đại học khoa toán ởài Gòn, kiêm giáo viên cấp ba một trường tư thục ở thị xã Long An, tôi mở lớp dạy học vở lòng cho trẻ con năm bảy tuổi ở Hiệp Hòa, môt chữ bẻ đôi cũng không biết. Thật khổ sở trong việc rời những công thức toán học cao cấp, mày mò chỉ dạy đám trẻ cách ráp vần xuôi, vần ngược tôi đã quên hầu hết.

Nhà tôi ở cạnh một con rạch. Tết đến, trước ngày học trò nghỉ học, xuồng ba lá ghe tam bản nườm nượp đến bến rạch trước cửa nhà chở theo nào gạo nếp, gà vịt, cớm dẹp, chuối xanh, trứng gà trứng vịt, trái cây đủ loại… Đó là quà tặng của phụ huynh học sinh cho thầy giáo là tôi. Tôi thật cảm động thấy áy náy nhưng nhận tất cả. Tôi cũng đang cần lương thực để sống. Tôi không thể nào quên cái Tết năm ấy, những món quà gà vịt gạo nếp ấy, là ơn nghĩa và còn có ý nghĩa lớn hơn, thể hiện lòng hiếu học, chuộng chữ nghĩa của nhân dân ta. Hiện nay nhiều trường ghi câu trong các lớp học: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Tôi thấy còn có câu lớn hơn cần phải ghi ở cổng trường: “Nhân dân ta hiếu học”.
Tôi chỉ dạy ở đó hơn năm. Năm sau tôi lên rừng, quà tặng tôi nhận được hôm đó vượt quá công dạy của tôi, chưa kể không có người dạy tiếp, chỉ ít tháng đám trẻ đã quên hết, coi như tôi không dạy được gì. Nhưng hình ảnh huy hoàng bến sông nườm nượp xuồng ghe chở đầy quà tặng là kỷ niệm thật quí giá không thể nào quên trong đời tôi.
Cơ quan tôi những năm đó đóng ở vùng rừng phía Bắc tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới Căm-pu-chia, rừng hoang vu đầy cây cao bóng cả. Đó là những năm đầu kháng chiến, cũng là những năm đầu của nhiều anh em ở rừng, gần Tết mùa đông lạnh căm căm, cuộc sống thiếu thốn, nhớ nhà, anh em quây quần bên nhau, suốt đêm gần như không ngủ, đốt đống lửa lớn giăng võng chung quanh kể đủ thứ chuyện. Đó là những năm tôi nghe được nhiều chuyện nhứt, thu thập nhiều hiểu biết về con người cuộc sống những vùng quê đông bằng sông Cửu Long, thành phố Sài Gòn tới vùng núi Lâm Đồng, vùng khu Sáu khu Năm gian lao hiểm trở.

Một lần, đêm giao thừa chúng tôi nghe một người từ vùng khú Sáu về kể chuyện “Ông ba mươi”, tức chuyện cọp. Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận. Chúng tôi ngồi bao quanh, người kể chuyện ngồi chính giữa, cạnh đống lửa, không khí thật âm u rùng rợn. Và rùng rợn hơn chính người kể chuyện có cái trán trợt, không tóc, do bị cọp vồ nhiều năm trước!
Một lần nhóm năm bảy người chúng tôi đi tải gạo về không kịp Tết, ở lại giữa đường, cũng là rừng thôi, nhưng xa cơ quan nên có cảm giác ở “ngoài rừng”, đêm ba mươi đốt đống lửa thật lớn, ngâm gạo lấy ca i-nốc Mỹ đẻo khúc cây giả thành bột, vò viên nấu làm chè trôi nước, không có đường, ăn đứa vài ba viên cũng thấy bùi ngùi như đang ở nhà giữa khói nhang.
Một lần khác chúng tôi ăn Tết ở cơ quan nhưng chỉ có mấy người, các đoàn đi công tác không hiểu sao không thấy về. Chúng tôi đi săn lấy thịt kho mặn, ướp phơi khô, lẻn sang đất Miên mua gạo nếp gói nấu bánh tét chờ sẳn không thấy ai về, chỉ có mấy người ăn Tết với nhau giữa cơ quan rộng mênh mông, lại buồn như “ở giữa rừng”.
Có vài lần tôi ăn Tết cùng đơn vị bộ đội hành quân trên đường, hương vị Tết chỉ được thưởng thức qua âm thanh chiếc radio mang bên hông, tiếng pháo nổ và lời chúc Tết của Bác Hồ ở Hà Nội.
Nhiều lần khác tôi ăn Tết ở vùng quê tỉnh Long An, đêm ba mươi ở nhà này, mùng Một ở nhà khác, ba ngày Tết ở ba nhà ba làng khác nhau.
Một lần trên đường hành quân cùng đơn vị bộ đội, tôi bị bịnh tụt lại phía sau, đi lê lết, ngày ba mươi Tết tấp vào được kho gạo chỉ có người giữ kho. Đó là cái Tết vắng vẻ buồn bã nhứt trong đời tôi.
Chúng tôi thường đi công tác “thực tế” về vùng phía Bắc tỉnh Long An, không thể đi xa hơn nữa vì vướng lộ 4 và sông Vàm Cỏ. Qua lộ bạc tóc qua sông bạc đầu. Đường đi độ bốn năm ngày, có đoạn dài đồng trống đi hai ngày không qua hết, gọi là Đồng Chó Ngáp, theo giải thích của nhiều người, đó là cách nói ví von, đồng lớn quá chó đi qua cũng phải ngáp vì mệt. Đó là con đường độc nhất về đồng bằng, ngập nước quanh năm, có cụm rừng chồi khô ráo duy nhứt dân ta gọi là “Cồn Cỏ”, thật ra chỉ là những gò mối cây chồi mọc lúp xúp, các đoàn khách giao liên bộ đội hành quân đều ghé ngủ ở đó, không có chỗ nào khác, làm trạm dừng chân ban ngày chờ tối đến băng đồng đi tiếp. Trong những năm kháng chiến tôi đi qua đó không biết bao nhiêu lần, có lần “ăn Tết’ đón giao thừa ngay tại đó. Là do tôi bị bất ngờ, đang ở Ba Thu, một xóm nhỏ vùng biên giới phía bắc tỉnh Long An, lính Mỹ gọi là khu Mỏ Vẹt, tính ăn Tết ở đó với bà con trước khi về cơ quan, bỗng được tin báo sắp có càn lớn phải rời đi ngay. Đó là năm 1967, đoàn chúng tôi năm bảy người đến đó trúng ngay ngày ba mươi Tết, bốn bên đồng cỏ khô trống trơn, đón giao thừa bằng những loạt đạn lửa của đám lính đồn bót bao quanh.

Mười bốn năm ở rừng, cái Tết sâu đậm nhứt trong tôi, cũng như nhiều người thời ấy, là Tết Mậu Thân năm 68. Tôi dự suốt trận đánh ấy, từ giữa năm 67 đã được điều về khu Sài Gòn-Gia Định, dự các khóa tập huấn, tuy không được phổ biến cụ thể nhưng ai nấy đều cảm thấy sắp có trận đánh lớn có tính chất quyết định. Và lạ sao, như sau này được biết, bộ máy chiến tranh khổng lồ của quân Mỹ với dàn quân CIA thiện chiến không mảy may đánh hơi được chút nào về trận đánh, vậy mà người dân bình thường quanh thành phố đều cảm thấy được, từng cánh quân chúng tôi áp sát vào thành phố được người dân ở đây đón tiếp với thái độ chăm sóc đặc biệt khác thường.

Tôi không kể về trận đánh. Đó là chuyện khác, và là chuyện của các nhà quân sự. Tôi chỉ nói về không khí ngày Tết năm đó ở Sài Gòn, tấm lòng người dân ở đó. Chúng tôi ở cánh quân phía Tây Nam Sài Gòn, vùng cầu Ông Thìn, rạch Ông, đánh vào tới đường Hậu Giang rồi rút ra ém lại bên kia cầu chữ Y. Nhà cửa sụp đổ nhiều nơi, dân chúng tản cư hầu hết, nhưng một buổi sáng nhìn sang bờ bên kia thấy có một đám cưới đi qua. Thật không thể tưởng tượng được! Chúng tôi đánh vào chiếm từng con đường, từng dảy phố, đánh vô rồi bị đánh bật trở ra. Mỗi đêm chúng tôi ngủ một dảy phố, nhà nào cũng nhang đèn bánh trái bày trên bàn thờ, có bàn sẳn chén dĩa, chắc chuẩn bị cho bữa tiệc đêm giao thừa. Đồ ăn thức uống đầy ắp, gà trong chuồng, cá rộng trong lu. Chỉ không có người. Chúng tôi không đụng chút nào đến thức ăn đồ đạc trong nhà, theo đúng quân kỷ. Thật ra cũng không nở lòng nào. Chẳng thà ở trong rừng, đằng này ở nhà dân mà không có dân, còn ăn Tết cái gì!

Đó là cái Tết sâu đậm nhứt trong ký ức tôi. Tôi ở chiến trường đó suốt cả 8 tháng trời, rút ra theo những cánh quân cuối cùng, trải qua biết bao hiểm nguy gian khổ, mỗi ngày dự một trận đánh, tính ra số trận tham gia đến số trăm, số lần thoát chết cũng ngần ấy. Tôi tham gia bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, ở mỗi đêm một nhà, dân vùng giải phóng, dân phố chợ ven Sài Gòn, gia đình chiến sĩ cả gia đình quân lính Sài Gòn. Có lần ở một căn phố, giữa đêm một người lính biệt kích không hay gì cả, đi chơi khuya về mở cửa đi vào.

Một cái Tết, đơn giản là dấu mốc của những kỷ niệm.

1 - 2010

Nguồn: Lethieunhon

 

Các bài khác:
· PHAN TỨ… KỸ
· CÂU ĐỐI CỤ NGUYỄN KHUYẾN TẶNG NHỮNG NGƯỜI MỚI GIÀU
· ĐỖ CHU… NÓI
· NẰM MƠ PHỎNG VẤN BÙI XUÂN PHÁI
· CHUYỆN TU TỪ CỦA XUÂN DIỆU
· LÂM THỊ MỸ DẠ…HÁT
· ĐOÀN GIỎI…CHỌC
· NGUYỄN ĐÌNH THI - NHÌN LẠI TỪ HÔM NAY
· CÁI CHẾT CỦA CHỦ NGHĨA HẬU HIÊN ĐẠI VÀ... XA HƠN
· NĂM 2010 VÀ… TÔI
· NHÀ VĂN TRANG THẾ HY… CÂU
· NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI TRONG "CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ' VÀ 'HAI ĐỨA TRẺ'
· THI SĨ 'ĐIÊN' QUÁ CỐ ĐOẠT GIẢI THƠ 'BÁCH VIỆT'
· PHẠM HỔ… LÀNH
· CÁI TẾT BUỒN NHẤT CỦA NHÀ VĂN LÊ LỰU
· “ CÁI GỐC” CỦA NGUYỄN THÀNH LONG
· THƠ TÂN HÌNH THỨC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH
· CUỘC MƯU SINH LÂM LY CHỮ NGHĨA
· ĐÀO TRỌNG KHÁNH - THƠ VÀ ĐIỆN ẢNH
· HẤP LỰC ÂM DƯƠNG VÀ THUẦN PHONG MỸ TỤC TRONG VĂN CHƯƠNG

 

  
Gia đình Bích Khê