DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
SÀI GÒN, THÁNG 5 - 1975

                                                                                                                                  LÊ VĂN THẢO

Tuần lễ thứ hai sau ngày 30 – 4, tôi đã có mặt tại Sài Gòn. Một số nhà văn ở Hội văn nghệ giải phóng “cơ quan B2” chúng tôi bay từ Hà Nội vào, đó là chuyện lạ. Là do trước đó vài tháng  chúng tôi vượt Trường Sơn ra Bắc, tới Hà Nội đầu tháng 4, non tháng trước ngày giải phóng. Chúng tôi không có vinh dự được “từ trong rừng ra”, nhưng biết được đường “Trường Sơn hùng vĩ”, một kỳ tích của cuộc chiến tranh.

Chúng tôi về ở đường Nam Kỳ khởi nghĩa, một chung cư của sĩ quan Mỹ, sân thượng là sân bay trực thăng còn dấu vết cuộc bốc đi của chúng ra hạm đội Bảy trước đó không lâu . Trong mấy ngày đầu chúng tôi gặp hầu hết các nhà văn nổi tiếng ở Hà Nội: Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên… và các nhà văn ở Sài Gòn: Sơn Nam, Lưu Nghi, Nguyễn Nguyên, Thế Nguyên… Anh Sơn Nam vừa mới trong Chí Hòa ra, còn “nồng nặc mùi tù”. Anh bị tù Chí Hòa ba lần, lần cuối cùng là hôm 30-4 quân giải phóng vào phá khám. Những người kháng chiến cũ ở Sài Gòn đi tù như cơm bứa, thấy tình hình không yên chúng lùa anh em vô tù “cho yên tâm”. Anh kể đi làm báo hằng ngày đến tòa soạn luôn đem sẳn túi đồ đạc, vài bộ quần áo thuốc men kem đánh răng, có thể bị bắt bất cứ lúc nào vô tù có cái mà dùng.

Có một chuyện người vô ở Chí Hòa sau hôm 30-4, người ở cơ quan tôi từ trong rừng ra. Anh là cán bộ lâu năm, có chức vị, trong lúc đi săn vô ý bắn chết người. Chuyện không may thôi, nhưng giết người là bị tù. Ở rừng không có trại giam, anh cũng không trốn đi đâu, ở tù cũng ở trong rừng thôi, chỉ có không được làm việc, không đi đâu, chỉ có hàng ngày đào hầm đốn củi. Rồi tới ngày 30 – 4, mọi người chuẩn bị về thành phố. Anh hỏi: “Còn tôi thì sao?”. Người ta đáp anh về Sài Gòn ở tù tiếp chớ sao, chưa hết hạn tù mà, tự đi về Sài Gòn dọn phòng trong khám Chí Hòa mà ở. Anh bị án 8 năm, đã ở trong rừng ba năm, về ở Chí Hòa 5 năm nữa. Tuổi đã lớn, sức yếu, chẳng phải tội trạng nặng nề gì người ta cho anh đi lại tự do trong khuôn viên nhà tù. Anh dọ thấy dưới cống có rất nhiều lươn, kêu người dưới quê gởi ống trúm lên, đặt ống bắt lươn nuôi mình và cả trại tù. Cần phải giữ sức khỏe để ra tù còn sức làm việc, bù lại những năm rủi ro bỏ phí. Anh là người có khuyết điểm, nhưng nghị lực của anh thật cũng đáng khâm phục.

Tôi sanh ra ở Sài Gòn, dưới dốc cầu Thi Nghè, nhiều năm sống ở đây, mọi ngõ ngách đều thông thuộc. Ba tôi học Tây làm quan chức cho Tây, có nhà cửa khang trang, khởi nghĩa năm 45 theo thanh niên tiền phong đi kháng chiến, đem cả gia đình vào chiến khu Đồng Tháp Mười. Tôi còn nhớ cảnh ra đi năm ấy, tôi sáu tuổi nhưng trí nhớ trẻ con rất tốt, nhớ rõ căn phố trong hẻm, năm 45 bom nổ, thanh niên tiền phong cờ đỏ tầm vong vạt nhọn, Tây đầm bị đẩy lên xe chở đi.
Vài giờ sau về Sài Gòn tôi đã có chiếc hông-đa chạy rong quanh thành phố. Đây là chuyến về Sài Gòn thứ hai của tôi sau mười mấy năm đi kháng chiến. Chuyến thứ nhứt là chiến dịch Tết Mậu Thân năm 68, một chuyến trở về không thành tôi sẽ kể sau.

Suốt mấy tháng trời tôi chỉ tốn nhiều tiền xăng xách xe chạy rong quanh thành phố. Đi thăm thú, và cũng để bù trừ mười mấy năm toàn lội bộ. Vẫn những con đường ấy, phố xá ấy, hàng me hàng sao ấy, nhưng tôi không nhìn ra cái gì quen thân. Tôi đi không chừa chỗ nào, trường học, nhà trọ, công viên Tao Đàn nơi thuở tôi ghé qua ngồi nghi trưa, giống đứa nhỏ trong truyện của A. France. Rạp hát ở đường Lê Lợi. Lê Thánh Tôn dành cho sinh viên tôi ngồi thường xuyên, có phim mới là chun vào. Tất cả đều thấy lạ lẩm. Cuộc chiến tranh mười lăm năm quá dài, quá khốc liệt, đã quét sạch tất cả, hiện thực cuộc sống tuổi thơ của tôi.

Những ngày đầu giải phóng chúng tôi không viết được gì. Cảm giác ngỡ ngàng dai dẳng, đi trên đường phố cứ như trong mơ, tuy cũng biết rằng không có “mơ” gì cả, đây là sự thực, phải có chiến đấu gian khổ mới có được, chiến thắng là điều đã tính trước. Tôi ra đi chỉ là một học sinh, trở về là một chiến sĩ dày dạn. Đoạn giữa là cả một cuộc chiến tranh. Tôi cần có thời gian lấp khoảng trống ấy. Những ngày đầu chúng tôi có rủng rẻng tiền nhuận bút sách in từ miền Bắc, tranh thủ đi ăn uống mua sắm, “người Sài Gòn” là tôi giới thiệu mấy anh phở 79 Võ Tánh, mì “cây nhản” Đinh Tiên Hoàng, cốt tìm lại không khí xưa. Quen sinh hoạt ở rừng, đi đâu chúng tôi cũng kéo cả nhóm không thiếu một ai. Hôm đến ăn phở ở đường Pasteur, cũng ăn bận như mọi người, bộ dạng không đến nổi “năm bảy đứa đeo cọng đu đủ không gảy” như Nguyễn Văn Thiệu dè biểu. Vậy mà mọi người đều nhìn ra ngay chúng tôi là “Việt Cộng”. Một người từ bàn bên nhìn chúng tôi hồi lâu rồi đi đến nói: “Tôi là sĩ quan ông Thiệu. Giờ tính sao với tụi tôi?”. Chúng tôi đâu biết sao, nhà văn nhà báo đâu được phổ biến gì. Chúng tôi cố lấy giọng vui vui nói: “Đâu có sao, về nhà ở với vợ con thôi”. Nhưng sự việc đâu đơn giản như chúng tôi nghĩ, còn khó khăn nặng nề hơn nhiều!

Sau chuyện ăn là chuyện mua sắm. Ở rừng thiếu thốn thấy chợ trời bày bán đủ thứ không cưởng được, ngày nào chúng tôi cũng đi rảo, mua thì ít ngắm nhìn thì nhiều. Và toàn mua đồ đạc đùng trong chiến tranh mới là lạ. Chúng tôi mua vải dù dây dù, poncho, võng ni lông, hăng-gô muỗng nĩa i-nốc, quấn áo đồ đạc gọn nhẹ. Thành tật của người mười mấy năm rong ruỗi trên đường rôi. Đến giờ tôi lúc nào cũng có sẳn chiếc túi xách đầy đủ đồ dùng cá nhân, sẳn sàng cho chuyến đi đâu đó.
Chúng tôi chăm chút nhứt là chiếc xe gắn máy. Đi bộ mười mấy năm rồi, giờ phải biết “tốc độ” một chút. Chúng tôi tìm mua loại xe không giấy của lính bỏ lại cho vừa túi tiền. Một anh nhà văn trong chúng tôi vốn là sĩ quan phản chiến, lái trực thăng HU1A. Hôm đó anh lái chiếc xe giép đưa chúng tôi đi đây đó, một đám thanh niên cao bồi lượn xe qua lại trước xe chúng tôi để chọc phá. Anh nhà văn phản chiến tức giận lái ép một chiếc xe chúng vào lề đường, xuống xe đi đến chỉ mặt chúng nói: “Đám cao bồi rày tụi bây giỏi lắm ccũng chỉ lượn xe theo kiểu này (anh ra dấu theo chiều ngang) tao hồi xưa lượn máy bay theo chiều này (anh ra dấu theo chiều dọc).

Tôi có ít bạn học ở thành phố, số đông thành sĩ quan đã di tản hôm 30 – 4, còn lại biệt tăm tích, tôi không tìm được người nào. Bà con ở Sài Gòn rất đông, tìm được người này chỉ thêm người kia, cả mấy tháng trời tôi đi thăm không hết được. Không chỉ là thăm thú. Nhà nào cũng có người làm sĩ quan, người mất việc, trẻ con cần đi học, tôi đi kháng chiến lâu năm chắc làm quan lớn lắm, có thể bảo lảnh nói dùm một tiếng cho người này người này không. Nhưng nhà văn như tôi nói tới đâu, chưa chắc qua khỏi người gác cổng. Nhưng vẫn phải hứa, được rồi được rồi, cũng may thời đó chưa có điện thoại di động không thể réo gọi bất cứ lúc nào. Nhiều nhà tôi đến thăm thấy người già vẫn vậy, chỉ có trẻ con là lớn lên, nhiều bé gái hồi tôi ra đi tóc cột đuôi gà, giờ đã nách con trên tay. Những người trạc tuổi thường lại già hơn chúng tôi. Hóa ra chuyện sinh sống cơm áo gạo tiền nhọc nhằn hơn bom đạn, nằm hầm ngủ bụi. Giờ đây những người ở rừng lại đang già mau, lại cũng đang lăn vào bươn chải với đồng tiền, nhà cửa xe cộ.

Lần đầu gặp nhau thăm hỏi vui vẻ, lần thứ hai thêm chuyện mần ăn sinh sống thấy bớt vui một chút. Tiền trong ngân hàng không lãnh ra được, tiệm quán đóng cửa không biết mua sắm ở đâu, nghe nói cộng sản cấm mua bán, coi mua bán là bốc lột, hàng hóa tự cung tự cấp. Ngày giải phóng, không đơn giản là ngày tay bắt mặt mừng. Tôi có về Sài Gòn lần trước đó, năm 68, trong chiến dịch Tết Mậu Thân. Đó là lần về không thành, chúng tôi chỉ vô được tới ven thành, quận 8, quận 5, rồi rút trở ra, thiệt hại nặng nề. Ngày 30-4 thắng lợi vẻ vang, còn lần Tết Mậu Thân năm 68 cực kỳ đau thương mất mát. Nhưng tôi nhớ nhứt lần ấy. Niềm vui qua đi, nỗi buồn đọng lại, con người vốn vậy.

Năm 1975 rồi trôi qua, rồi nhiều năm sau kế tiếp, con người trở về với cuộc sống đời thường, làm ăn kinh tế xây dựng đất nước, chuyện cơm áo gạo tiền là vấn đề muôn thuở. Cũng không dễ dàng gì, dành chính quyền là khó, giữ chính quyền càng khó hơn.

Đã ba mươi lăm năm kể từ ngày ấy, bao nhiêu thăng trầm, điều hay điều dở, cái được cái mất, qua đó con người lớn lên, xã hội lớn lên, điều tự hào là những gì ta làm được, bằng trái tim khối óc của mình.


Nguồn: Lethieunhon
 

Các bài khác:
· NHÀ THƠ YẾN LAN…TRUNG ẨN
· BÀI THƠ MỚI VỀ ĐẶNG THÙY TRÂM
· BÙI GIÁNG… BÓI TOÁN
· TÁN NHẢM VỚI CÁC NHÀ VĂN Ở TÂY NGUYÊN
· ĐẠO VĂN CẠNH TRANH VÀ ĐẠO VĂN QUAN QUYỀN
· HỮU THỈNH VÀ... “TUYỂN TẬP ĐIẾU VĂN”
· THƠ TRẦN THẾ NHÂN
· 35 NĂM THƠ VĂN NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI (1975-2010)
· NHÀ THƠ VIỆT PHƯƠNG…TRẺ
· NHÀ VĂN NGUYỄN TRUNG ĐỨC…CƯỜI
· CHUYỆN LÍNH
· LỘI ĐỒNG MÀ BẮT ĐƯỢC… THƠ
· TÌNH YÊU VÀ CON TIM TRONG TÌNH SẦU CỦA TRỊNH
· TRUYỆN NGẮN TRẺ: VĂN CHƯƠNG SUỒNG SÃ CỦA ĐỜI
· THẾ BẢO CƯỜI NHƯ…THÁO BỂ
· ĐI TÌM NGUYỄN HUY THIỆP
· QUY ƯỚC DIỄN NGÔN VĂN CHƯƠNG GIAI ĐOẠN 1986-1991
· NHẠC SĨ NHẤT SINH…ĐỒNG QUÊ
· HỮU LOAN: NẾU CHIỀU MƯA MỘT CÂY ĐÀN GHI-TA
· TÔN THẤT LẬP... DỊU DÀNG

 

  
Gia đình Bích Khê