DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGƯỜI LÍNH-CÁCH NHÌN PHƯƠNG ĐÔNG VÀ DĂM BA NỤ CƯỜI U-MUA

                                                                 HOÀNG NGỌC HIẾN

 

Đọc hai tập hồi ký-tản văn của tác giả, tôi nhặt được một hình ảnh lẫm liệt anh bộ đội, một cách nhìn phương Đông và dăm ba nụ cười u-mua.

* Đọc 2 tập hồi ký- tản văn "Những hòn cuội nhặt dọc đường... của Lê Trí Dũng


Tiểu thuyết về chiến tranh thì Bảo Ninh là tác giả được Lê Trí Dũng mến mộ nhất. Còn tản văn (hoặc tạp văn) về chiến tranh,  tôi vẫn cho rằng Lê Trí Dũng là  hơn cả.

Tiêu biểu là áng tản văn bài 17,  tập I. Quan điểm mỹ học của tác giả hết sức đơn giản: "Tác phẩm văn chương. tác phẩm hôi họa, đã là tác phẩm nghệ thuật, muốn hay,... phải 'xuất được cái thần'" (I, 101). Cái thần của bài tản văn  được bộc lộ tập trung trong mươi dòng cảm hứng triết luận về  chiến tranh.

Trong những ngày và đêm chiến tranh khốc liệt nhất thì trời đất vẫn vô tình "Mặt trời vẫn hừng lên vô tình như từ thuở hồng hoang không có chiến tranh" Bom đạn cũng vô tình: "Xa xa, tiếng bom pháo vẫn rền nổ vô tình như mọi ngày từ thời chiến tranh bùng nổ".

Đằng sau dáng vẻ vô tình của chiến tranh là "sự tính toán không vô tình chút nào của Bộ chỉ huy tối cao cả hai bên". Trong tương quan éo le này giữa con người và trời đất hiện lên hình ảnh lẫm liêt những người lính. "Chúng tôi lầm lũi đi trong bình minh giữa rừng cây trụi lá. Bóng in sẫm trên nền trời đỏ hực như vô vọng" Hình ảnh rỡ ràng "áo chàng đỏ tựa ráng pha" người chinh phu của Đoàn Thị Điểm có cơ bị lu mờ trước hình ảnh lẫm liệt những người lính của Lê Trí Dũng.

Kết thúc đoạn cảm hứng triết luận này là lòng cảm thương vô hạn của tác giả với "số phận" ngàn vạn người đã hy sinh trong chiến tranh. "Ở đó,  mỗi dân tộc, mỗi đất nước,  mỗi cuộc chiến,... đều có số phận riêng, mà trong đó "số phận" mỗi người lính chúng tôi mỏng manh nhỏ bé xiết bao.

Thậm chí chả còn ai thèm để ý đến nó, đếm xỉa đến nó, như những nấm mộ vô danh lô nhô tôi gặp trên suốt chặng đường hành quân dằng dặc dọc chiều dài quê hương tôi". Thời hậu chiến, cảm hứng triết luận về chiến tranh của tác giả vẫn "lớn tiếng".

"Cuộc bươn trải đời thường giống như trận cuồng phong khổng lồ chôn vùi tất cả, chiến tranh thì như một con ngựa hoang trong trận cuồng phong ấy, thỉnh thoảng cất lên một tiếng hý vang trời nhắc nhở mọi người đừng quên" (II, 179).

Triết luận dễ đi vào tư biện. Lê Trí Dũng triết luận bằng những câu văn hình ảnh,  những mạch  cảm nghĩ  không thật xác định nhưng lại có sức khơi gợi sâu và xa...

Trong các bạn văn, có một người nữa được Lê Trí Dũng  mến mộ là Phùng Quán. Một tính cách "lẫm liệt". "Lẫm liệt" yêu và lẫm liệt "ghét". Lê Trí Dũng ghét cay ghét đắng  những kẻ chỉ tìm cách che đậy con người thật của mính,  lúc nào cũng "diễn", "cả đời chỉ đóng kịch", những kẻ ra rả chửi đời nhưng hễ có cơ hội là đổi giọng "nịnh đời", những kẻ "lúc nào cũng đạo mạo mô phạm, ... không bao giờ mất lòng ai, nói một câu nghĩ nửa ngày" nhưng mấy chục năm trời, không tiêu chuẩn nào ông bỏ qua,... được phân nhà mấy lần..",  "tóm lại là chả miếng nào ông "đớp" trượt" (ii.31).

Cái ghét của Lê Trí Dũng sẽ đi đến đâu? Có một quá trình khác diễn ra trong sự trưởng thành của ý thức tác giả: anh ngày càng nhận rõ cái lẽ tương đối ở đời.

"Trong cái thế giới bề bộn này, tất cả chỉ là tương đối" (I, 235)

"Trong cõi hồng trần này, cái gì cũng tương đối thôi." (II, 294)

"...quy luật muôn đời là thuyết tương đối" (II, 371)

Phương Tây (mà văn hóa bắt nguồn từ cái nôi văn minh Hy lạp cổ đại ) và Phương Đông (mà gốc là văn hóa Trung Quốc cổ đại) trong sự tư duy đều xuất phát từ những trái ngược: từ nóng và lạnh, từ sống và chết,  từ Âm và Dương... Theo François Jullien,  tư duy phương Tây về cơ bản khác với tư duy phương Đông ở chỗ này:

Tư duy phương Tây "dựng những trái ngược lên thành những "vật tự nó", biến những "vật tự nó" này thành những bản chất loại trừ nhau".[1] Cách tư duy này chi phối cách nhìn những trai ngược, chỉ thấy quan hệ đối lập giữa cái này cái kia,  tuyệt đối hóa quan hệ đối lập này,  thành ra giữa cái này cái kia, chỉ có quan hê cái này loại trừ cái kia, chẳng còn quan hệ nào khác nữa.

Tư duy phương Đông "đã không trừu xuất những trái ngược khỏi dòng chảy của những quá trình;nó đã duy trì chúng trong một thứ liên can với nhau"[2] ngăn ngừa mọi "sự cắt đứt và  sự loại trừ" thường thấy có trong tư duy phương Tây, từ đó sinh ra cách nhìn: ngay trong quan hệ đối lập giữa cái này cái kia vẫn thấy những quan hệ khác: quan hệ dung hợp, bổ sung, nâng đỡ, tương tùy,  tương hỗ... giữa cái này, cái kia.

Vấn đề đối lập giữa nghệ thuât và thương mại đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Cách nhìn của Lê Trí Dũng về vấn đề này hết sức đơn giản: "... nghệ thuật và thương mại là hai phạm trù vừa đối kháng vừa nâng đỡ nhau" "...bán được tranh ai cũng thích, không thì lấy gì tiếp tục vẽ?"...  "Nhưng nếu vẽ chỉ để bán, thì tôi còn biết nói gì giữa ngày xuân rộn rã đang đến nhỉ?" (xem I, 26)

Trong hội họa, nét vẽ "khôn ngoan đến thượng thặng" đối lập với nét vẽ "ngây ngô như trẻ nhỏ". Tư duy bằng  ngôn ngữ "cắt đứt" và "loại trừ" thì đã khôn ngoan đến thượng thặng" không thể nào "ngây ngô như trẻ nhỏ", hai lối hành nét này "loại trừ" nhau.

Xem lối hành nét của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm Lê Trí Dũng đã "đọc" thấy ở đây "sự khôn ngoan đến thượng thặng mà vẫn ngây ngô như trẻ nhỏ". Cũng vậy,  anh thấy qua những nét vẽ  người họa sĩ bậc thầy này "nửa như vận khí,  nửa như vô thức", "cái gì cũng biết mà dường như không biết gì" (I, 22)

Một lần nữa, cái này và cái kia đối lập nhau mà vẫn "dung hợp"với nhau. Không có cách nhìn phương Đông, liệu Lê Trí Dũng có nhận ra được lối hành nét của người thầy của mình?

Cũng với cách nhìn này tác giả hình dung chân dung người lính. "Tôi thấy chân dung anh... nó vừa cô đơn, vừa hào hùng, vừa có một cái gì nghĩa cả lại vừa tủi phận, nó vừa là sứ mệnh vừa là số phận..."(I, 69)

Từ cách nhìn này có thể rút  ra nhiều bài học trong viêc xây dựng nhân vật trong mọi ngành văn học nghệ thuật.và cả trong cách tiêp cận con người bao giờ cũng phức tạp,  không hề dơn giản như chúng ta tưởng.

Cuối cùng,  phải nói đến phương Đông trong quan niệm mỹ học của tác giả. Mỹ học phương Đông truyền thống đăc biệt coi trọng việc "xuất được cái thần" của nhân vật,  cảnh vật. Còn trong mỹ hoc phương Tây việc hiển lộ cái đẹp đã trở thành một yêu cầu phổ quát.

Quan điểm mỹ học của Lê Trí Dũng: "...đã là tác phẩm nghệ thuật, muốn hay, ...phải 'xuất được cái thần'"; trong nghệ thuật,  "cũng giống như phép xem tướng,  nếu chỉ đạt "Hình tướng" mà không đạt đến "Thần tướng",  là không được."(I, 102)

Trong hai tập tản văn, đặc biệt phần nói về thế thái nhân tình và những nghịch cảnh thời hậu chiến,  có những trang khá "căng". Lác đác những nụ cười u-mua làm dịu đi sự căng thẳng.

Tác giả nói đến những người "được đăng báo một đôi bài thì đem khoe cả họ"(II, 338). Ai cũng có thể viết một câu văn như vậy, nhưng chêm vào cuối câu mấy chữ "(chủ yếu họ đằng vợ)" thì đấy là nụ cười u-mua của Lê Trí Dũng.

Tác giả kế chuyện "một ông họa sĩ vốn hay chửi": "Lần triển lãm nào ông cũng dự thi và lần nào ông cũng chửi Hội đồng Nghệ thuật là ngu. Bỗng năm ấy không thấy ông chửi,  gạn hỏi mãi, ông mới ghé vào tai tôi,  thì thào: "Hội đồng Nghệ thuật lần này được đấy!" .Tìm hiểu,  té ra năm ấy ông được giải..." U-mua nhẹ nhàng thôi,  hầu như không có châm, chọc.

"Rồi xếp đặt,  rồi trình diễn...vì nước Nam không thể thiếu những người đi tiên phong trong nghệ thuật" (ii, 7). Tác giả cứ như tỉnh bơ, lời lẽ nghiêm trang. Nụ cười u-mua quá kín đáo, nhưng càng ngẫm càng đau.

Tác giả kể chuyện duyên nợ  thơ ca của một người cháu:

"... mới hết cấp 2 đã nổi tiếng thần đồng, ... lên cấp 3 dã có thơ đăng trên báo tỉnh.Thế rổi cu cậu thành nhà thơ thật, cả nhà tràn trề hy vọng...Đùng một cái cu cậu bệ rạc hẳn ra, uống rượu như điên...Gặp tôi, cu cậu bảo: "Chú ạ, cháu bất hạnh làm sao lại rúc đầu làm "thi sĩ" thế này... Thơ phú nước mình toàn thơ con cóc,  ngợi ca sáo rỗng,  rẻ tiền... Kiếp sau thà đi cày ruộng thì hơn!" Bất đồ, một ngày nọ,  thấy cu cậu trên Diễn đàn Văn nghệ VTV1 đang thao thao bất tuyệt về nền thơ Việt đang trên đà khởi sắc... Hỏi mấy bạn thơ,  té ra cu cậu vừa nhận được cái giải kèm theo ít tiền. Vội đến chúc mừng,  ghé qua rèm cửa,  thấy cu cậu đang rung đùi ngâm nga: " Kiếp sau xin lại được làm... nhà thơ..." (II, 252). Những sự gia công của tác giả vào câu chuyện được kể chứng tỏ u-mua của Lê Trí Dũng có nghệ thuật và nghệ thuật khá cao.

Dọc đường hành quân, rong ruổi trên đường dời, đường nghệ thuật,  Lê Trí Dũng nhặt được không biết bao nhiêu hòn cuội. Đọc hai tập hổi ký-tản văn của tác giả,  tôi nhặt được một hình ảnh lẫm liệt anh bộ đội, một cách nhìn phương Đông và dăm ba nụ cười u-mua. Hơi bị ít. Phan Cẩm Thượng, người viết lời giới thiệu cho tậpI,  tập II,  thẩm văn tinh tế,  lại am hiểu hội họa, anh nhặt được nhiều hơn.


 Tập I, "Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân" N.x.b. Mỹ thuật. 2006. Tập II, "Những hòn cuội nhặt dọc đường" NXB Tri thức, 2008. Những số trang được dẫn trong bài là sô trang tập I (I...) hoặc tập II ( II...)

(1) Hoàng Ngọc Hiến. F.Jullien và nghiên cứu so sánh Đông Tây NXB Lao động .2009. tr.68

(2) Như trên

 

Nguồn: Tuần Việt Nam

 

Các bài khác:
· SÀI GÒN, THÁNG 5 - 1975
· NHÀ THƠ YẾN LAN…TRUNG ẨN
· BÀI THƠ MỚI VỀ ĐẶNG THÙY TRÂM
· BÙI GIÁNG… BÓI TOÁN
· TÁN NHẢM VỚI CÁC NHÀ VĂN Ở TÂY NGUYÊN
· ĐẠO VĂN CẠNH TRANH VÀ ĐẠO VĂN QUAN QUYỀN
· HỮU THỈNH VÀ... “TUYỂN TẬP ĐIẾU VĂN”
· THƠ TRẦN THẾ NHÂN
· 35 NĂM THƠ VĂN NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI (1975-2010)
· NHÀ THƠ VIỆT PHƯƠNG…TRẺ
· NHÀ VĂN NGUYỄN TRUNG ĐỨC…CƯỜI
· CHUYỆN LÍNH
· LỘI ĐỒNG MÀ BẮT ĐƯỢC… THƠ
· TÌNH YÊU VÀ CON TIM TRONG TÌNH SẦU CỦA TRỊNH
· TRUYỆN NGẮN TRẺ: VĂN CHƯƠNG SUỒNG SÃ CỦA ĐỜI
· THẾ BẢO CƯỜI NHƯ…THÁO BỂ
· ĐI TÌM NGUYỄN HUY THIỆP
· QUY ƯỚC DIỄN NGÔN VĂN CHƯƠNG GIAI ĐOẠN 1986-1991
· NHẠC SĨ NHẤT SINH…ĐỒNG QUÊ
· HỮU LOAN: NẾU CHIỀU MƯA MỘT CÂY ĐÀN GHI-TA

 

  
Gia đình Bích Khê