DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NỀN VĂN HỌC RA ĐỜI TRONG LỬA ĐẠN

                                                                                               Bảo Ninh

Trong giai đoạn phát triển ban đầu còn rất non trẻ mà vô cùng tài năng của văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nam Cao là một trong những nhà văn ưu tú nhất. Thế nhưng lúc sinh thời, nhất là vào trước năm 1945, tên tuổi Nam Cao chưa được đông đảo độc giả ngưỡng mộ như bây giờ. Bởi nỗi phải tới sau Cách Mạng, những truyện ngắn của ông trước đó đăng rải rác trên các báo mới được in thành tập. Hơn nữa, mảng sáng tác đặc biệt quan trọng, có thể nói quan trọng nhất của ông là tiểu thuyết thì đã hầu hết bị thất lạc bản thảo, chỉ còn lại duy nhất bản thảo Sống Mòn, và kể cả bản thảo ấy cũng phải mãi 5 năm sau ngày ông qua đời mới được xuất bản lần đầu. Vậy mà chỉ với Sống Mòn, cuốn tiểu thuyết duy nhất được xuất bản đó, Nam Cao cũng đã thực sự là tác giả hàng đầu của nền tiểu thuyết nước nhà, không chỉ cho giai đoạn trước 1945 mà cho suốt nửa cuối thế kỷ XX, có lẽ là cả đến tận bây giờ.

 
 
 

 

 

Một nhà văn xuất chúng như vậy, nhưng năm tháng cuộc đời và sự nghiệp thật ngắn ngủi. Ông hy sinh năm 1951, mới 34 tuổi và mới vừa tròn được 10 năm cầm bút. Nếu như Nam Cao không ngã xuống trong lần bị phục kích ấy, nếu như đời sáng tác của ông còn tiếp tục được thêm nhiều năm nữa thì văn xuôi Việt Nam đương đại, nhất là tiểu thuyết, rất có thể đã không chỉ dừng ở tầm mức của ngày hôm nay. Mỗi khi đọc tác phẩm, mỗi khi nghĩ về sự hy sinh bất ngờ và khốc liệt của nhà văn lớn Nam Cao, hầu như bất kỳ ai cũng sẽ có một giả định đầy tiếc nuối như vậy trong lòng. 

 

 

 

Sự kiện quân Pháp sát hại nhà văn Nam Cao là một tội ác điển hình dã man của kẻ thù xâm lược đối với nền văn hóa của dân tộc Việt Nam. Và sự kiện đó cũng khiến người ta cảm nhận một cách thấm thía những tổn thất nặng nề mà nền văn học của đất nước đã phải chịu đựng trong suốt ba chục năm trời chiến tranh. 

 

 

 

Nam Cao không phải là nhà văn duy nhất bỏ mình nơi trận mạc. Chỉ tính riêng trong số các nhà văn nhà thơ đã thực sự trở thành tác giả trên văn đàn cũng đã có tới ít nhất 15 liệt sĩ. Trần Đăng,  Trần Mai Ninh, Thâm Tâm, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ... Song, sự tổn thất về số lượng tác giả thật ra còn lớn hơn thế rất nhiều lần. Bởi vì trong số ngàn vạn liệt sĩ suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến có rất nhiều người là những nhà văn tương lai. Đấy là những tài năng văn học có thể chỉ mới viết tác phẩm đầu tay đăng trên báo sư đoàn, có thể chỉ mới sáng tác trong nhật ký, trên báo tường đại đội, tài năng văn học không kịp phát lộ đã bị lửa đạn chiến tranh dập tắt. Điều ấy là chắc chắn, bởi vì chỉ một phần rất ít thôi trong số các tác giả tiềm ẩn ấy trở về được sau chiến tranh mà đã đủ hình thành ra cả một thế hệ các nhà văn nhà thơ "viết về chiến tranh sau chiến tranh", một thế hệ văn chương tuấn kiệt làm nên dung mạo và tầm vóc, mang lại vinh quang cho nền văn học hôm nay.

 

 

 

Chiến tranh không chỉ gây ra cho văn học những tổn thất to lớn về con người. Có lẽ sự hy sinh lớn nhất của văn học nước nhà trong chiến tranh vẫn là việc các nhà văn quyết lòng hy sinh những khát vọng, những tín niệm, những dự định văn chương riêng tư nhất để dành tâm lực sáng tạo cho cuộc chiến đấu chung của toàn dân tộc. Có thể thấy rõ nhất sự hy sinh ấy ở lĩnh vực tiểu thuyết. Mặc dù từ 1945 tới 1975 đã có những tiểu thuyết rất thành công như: Vỡ bờ, Sóng gầm, Đất nước đứng lên, Đất lửa, Hòn đất, Dấu chân người lính... song vẫn có thể thấy rằng các tác giả đã không thể dồn hết sức mình cho lĩnh vực tiểu thuyết. Đặc biệt là hai nhà văn Nguyễn Thi và Nguyễn Minh Châu, hai tác giả rõ ràng là sinh ra để viết tiểu thuyết, thế nhưng hoàn cảnh chiến tranh đã không cho phép họ thực hiện thiên chức văn chương tầm cao ấy. Có thể nói rằng đối với sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam thì sự hy sinh của nhà văn Nguyễn Thi trong tấn công Mậu Thân là một tổn thất lớn, không kém gì khi đất nước mất đi nhà văn Nam Cao.

 

 

 

Các nhà văn nhà thơ không ngã xuống trên chiến địa thì cũng bị thương đổ máu, cũng bị gian lao chiến trường hút cạn sức lực. Trở về sau chiến tranh là những nhà văn thương tích đầy mình. Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, nhà văn Nguyễn Văn Bổng, nhà văn Phan Tứ... chính là tổn thất do chiến tranh gây ra cho nền văn học.          

 

 

 

Tuy nhiên, những tổn thất và thương đau ấy cũng đồng thời là áng vinh quang tô sáng số phận của nền văn học chiến sĩ, nền văn học ra đời trong lửa đạn. Dâng mình cho mọi thăng trầm và thành bại của cuộc chiến đấu trường kỳ, được nuôi dưỡng và trưởng thành lên bằng hiện thực chiến trường, nền văn học nhiều thương tích này đã góp phần làm ngời sáng vẻ đẹp tinh thần của cuộc kháng chiến. Và mặc dù phải chịu nhiều thương tổn, nền văn học của các chiến binh vẫn là nền văn học đầy sinh lực, không ngừng phát triển, không ngừng được tiếp bước.

 

Nguồn: QĐND

 

Các bài khác:
· NGƯỜI LÍNH-CÁCH NHÌN PHƯƠNG ĐÔNG VÀ DĂM BA NỤ CƯỜI U-MUA
· SÀI GÒN, THÁNG 5 - 1975
· NHÀ THƠ YẾN LAN…TRUNG ẨN
· BÀI THƠ MỚI VỀ ĐẶNG THÙY TRÂM
· BÙI GIÁNG… BÓI TOÁN
· TÁN NHẢM VỚI CÁC NHÀ VĂN Ở TÂY NGUYÊN
· ĐẠO VĂN CẠNH TRANH VÀ ĐẠO VĂN QUAN QUYỀN
· HỮU THỈNH VÀ... “TUYỂN TẬP ĐIẾU VĂN”
· THƠ TRẦN THẾ NHÂN
· 35 NĂM THƠ VĂN NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI (1975-2010)
· NHÀ THƠ VIỆT PHƯƠNG…TRẺ
· NHÀ VĂN NGUYỄN TRUNG ĐỨC…CƯỜI
· CHUYỆN LÍNH
· LỘI ĐỒNG MÀ BẮT ĐƯỢC… THƠ
· TÌNH YÊU VÀ CON TIM TRONG TÌNH SẦU CỦA TRỊNH
· TRUYỆN NGẮN TRẺ: VĂN CHƯƠNG SUỒNG SÃ CỦA ĐỜI
· THẾ BẢO CƯỜI NHƯ…THÁO BỂ
· ĐI TÌM NGUYỄN HUY THIỆP
· QUY ƯỚC DIỄN NGÔN VĂN CHƯƠNG GIAI ĐOẠN 1986-1991
· NHẠC SĨ NHẤT SINH…ĐỒNG QUÊ

 

  
Gia đình Bích Khê