DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
'KHÔNG THỂ TƯỞNG TƯỢNG CUỘC SỐNG MÀ KHÔNG CÓ VIỆT NAM'

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa bạn đọc VietNamNet, chúng ta đang sống trong những ngày hòa bình, nhưng vào những ngày của hơn 30 năm trước, chúng ta sống trong một cuộc chiến tranh giữa những người Mỹ và những người yêu hòa bình độc lập ở Việt Nam. Đến nay là đã trong 35 năm ngày cuộc chiến tàn khốc đó chấm dứt, cũng là 15 năm quan hệ Việt - Mỹ được bình thường hóa và đi những bước rất tốt đẹp về tương lai. Tất cả những ai quan tâm đến nội dung cuộc Bàn tròn này đều tin và mong muốn như vậy.


Nhân dịp này, khi tương lai mối quan hệ giữa hai dân tộc dường như đang mở ra mỗi lúc lại rộng và sâu sắc hơn cũng với sự hiểu biết, tôn trọng và hợp tác, trường ĐH Masachussetts thông qua Trung tâm William Joiner cùng ĐH Văn hóa Hà Nội đã có sáng kiến tổ chức hội thảo Văn học Việt Nam - Hoa kỳ sau chiến tranh. Các nhà văn Mỹ và Việt Nam sẽ cùng nhau một lần nữa khẳng đinh sứ mệnh của văn học nghệ tthuật trong sự hàn gắn vết thương chiến trang, hóa giải hận thù giữa hai dân tộc cũng như của mọi dân tộc trên thế giới, để một lần nữa cất lên thông điệp của hòa bình thật giản dị nhưng vĩnh hằng, mãi là giá trị vinh quang, tối thượng nhất của nhân loại.

Khách mời của Bàn tròn hôm nay, xin trân trọng giới thiệu nhà thơ, giáo sư văn chương Kevin Bowen, giám đốc Trung tâm William Joiner; giáo sư, nhà thơ Bruce Weigl nổi tiếng với bài thơ "Bài ca bom Napan"; giáo sư, nhà thơ Fred Marchant, người đã dịch rất nhiều thơ Việt Nam như thơ Hồ Chí Minh, Trần Đăng Khoa... sang tiếng Anh; nhà thơ người Mỹ gốc Việt nhưng tâm hồn vẫn chứa đựng trọn vẹn những gì thuộc về quê hương xứ sở, tiến sĩ Nguyễn Bá Chung, giám đốc điều hành của Trung tâm William Joiner; và một người rất đặc biệt, nổi tiếng, hầu hết người Việt Nam đều biết, nhà thơ Nguyễn Duy, ông có mặt như một nhân chứng cho quan hệ giữa các nhà văn Việt Nam và Mỹ. Nguyễn Duy đã cùng các nhà văn Mỹ yêu chuộng hòa bình, yêu văn hóa Việt, yêu đất nước con người Việt Nam, cất tiếng vì con đường hòa bình này.

Hôm nay chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề mà chúng ta muốn nhìn nhận một lần nữa cho tương lai: hình ảnh Việt Nam trong con mắt đổi thay của người Mỹ. Chúng ta đều biết trong quá khứ lịch sử đau buồn và bi thương ấy, hai dân tộc đã có ít nhiều cơ hội để bước đến gần nhau và trở thành bạn bè, nhưng đã bị bỏ qua. Và sau rất nhiều năm, với cái giá đắt phải trả bằng máu và cái chết của rất nhiều người của cả hai bên, hôm nay chúng ta đã có một mối bang giao, tình hữu nghị, có một bầu trời chung trong nền hòa bình với vẻ đẹp của thi ca, nghệ thuật và trái tim con người.

Với hơn 300 câu hỏi của độc giả gửi về cho Bàn tròn, dường như quan tâm chung của bạn đọc là hai dân tộc chúng ta sẽ đi trên con đường tiến tới hòa bình và chia sẻ với nhau và với các dân tộc khác như thế nào? Tôi nghĩ, thông qua những câu hỏi này, độc giả Việt Nam đã bày tỏ khát vọng hòa bình truyền thống của dân tộc mình, khát vọng nối nhịp cầu với tất cả các dân tộc trên thế giới.

Các nhà thơ Việt - Mỹ trò chuyện trong cuộc Bàn tròn trực tuyến. Ảnh: VNNTV

Việt Nam - có đến, có chứng kiến, có đọc mới hiểu đúng

Câu hỏi đầu tiên dành cho nhà thơ Kevin Bowen, từ Việt Nam đầu tiên vang lên trong đầu ông như thế nào, trong hoàn cảnh nào? Việt Nam lúc đó thực sự trong con mắt ông là cái gì?

Nhà thơ Kevin Bowen: Từ Việt Nam đầu tiên tôi biết là từ "đứng lại", đó là từ đầu tiên tôi được dạy trong lúc huấn luyện và do người Mỹ nói. Khi tôi đến Việt Nam với tư cách một người lính, trong những tháng đầu tiên, tôi gần như không giao tiếp gì với người Việt Nam, tôi chỉ nghe loáng thoáng họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Đó là một điều thật lạ, thật bí ẩn, và đối với những người lính, khiến họ tức tối.

Câu hỏi của anh khiến tôi nhớ lại điều đó với cảm giác buồn cười vì chỉ vài năm sau đó, tôi đã bắt đầu dịch thơ của Nguyễn Duy sang tiếng Anh.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Nhà thơ Fred Marchant, tôi chủ quan mà nghĩ rằng từ Việt Nam đầu tiên đến với ông không hề lãng mạn. Tôi nghĩ vậy không biết có đúng không?

Nhà thơ Fred Marchant: Từ Việt Nam đối với tôi có rất nhiều ý nghĩa đối với quãng đời của tôi từ lúc chiến trang cho đến những năm 1990 khi tôi gặp các nhà thơ Việt Nam lần đầu tiên. Khi tôi gặp họ và nghe các bài thơ Việt Nam ở Trung tâm William Joiner, từ Việt Nam trong tôi đã thay đổi rất nhiều về ý nghĩa. Vì thế tôi rất biết ơn mối lương duyên đó.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Còn nhà thơ Bruce Weigl, ông đã nghe từ Việt Nam lần đầu tiên trong đời mình như thế nào? Bạn đọc đều biết giờ ông rất yêu Việt Nam, nhưng đã có lúc nào đó trước kia, khi cuộc chiến của người Mỹ bắt đầu ở Việt Nam, khi truyền thông Mỹ gọi đây là một nước cộng sản, nơi có nguy cơ xâm lược nước Mỹ, thì từ Việt Nam vang lên với ông có đầy đe dọa không?

Nhà thơ Bruce Weigl: Khi còn là lính, tôi chẳng biết gì về Việt Nam cả. Lúc đó tôi mới 18 tuổi, có khi còn không biết địa lý của chính nước Mỹ. Vì vậy Việt Nam là một nơi xa xôi bí hiểm mà chúng tôi được cử đến vì một lý do mà tôi cũng chưa bao giờ thực sự hiểu: để bảo vệ nền dân chủ khỏi sự bịp bợm của những kẻ cộng sản đang tìm cách chiếm đoạt cuộc sống của nhân dân Việt Nam.

Nhưng khi tôi đến đó, có điều gì đó kỳ lạ đã xảy ra. Lúc đó sẽ chẳng có gì là nếu tôi nói tôi ghét Việt Nam, ghét Việt Cộng, tôi muốn giết họ vì họ đã giết đồng đội của tôi, nhưng tôi đã không cảm thấy như thế, đó không phải sự thật. Thực tế, càng biết nhiều về văn hóa Việt Nam, tôi càng thấy gần gũi với Việt Nam.

Đó không phải là cảm giác tôi có thể chia sẻ được với các đồng đội. Nhưng lúc đó tôi đã tự hứa với bản thân rằng một ngày nào đó tôi sẽ quay lại, như một người khách. Và tôi đã thực sự quay lại như một người khách không mời năm 1967.

Nhà thơ Bruce Weigl. Ảnh: VNNTV

Càng tìm hiểu về Việt Nam, càng gặp nhiều người Việt Nam, nhờ những việc làm của Kevin Bowen, người có lẽ là người Mỹ đầu tiên cố gắng đưa các nghệ sĩ Việt Nam đến Mỹ thời kỳ sau chiến tranh, điều đó vô cùng quan trọng và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của tôi và các nhà văn đó, tôi càng biết, càng hiểu, càng có thêm nhiều bạn bè và Việt Nam càng đầy lên trong tôi.

Tôi không thể tưởng tượng nếu không có chiến tranh, cuộc sống của tôi sẽ ra sao. Giờ tôi cũng không thể tưởng tượng nó sẽ ra sao nếu không có Việt Nam.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa nhà thơ Nguyễn Bá Chung, trong khi giữa hai đất nước đang xảy ra chiến tranh, tạo ra một hố sâu ngăn cách tưởng như không thể lấp lại, ông đã phải đứng ở ranh giới. Ông là người Việt Nam nhưng sống trên đất Mỹ. Chúng ta không thể nói chúng ta yêu dân tộc này, ghét dân tộc khác, chúng ta yêu vẻ đẹp của tất cả các dân tộc. Vậy lúc đó, ông nghe được gì từ hệ thống tuyên truyền chiến tranh của chính phủ Mỹ về Việt Nam, về cộng sản? Là người Việt Nam, ông đã mang cảm giác gì?

Nhà thơ Nguyễn Bá Chung: Bây giờ nhìn lại, tôi mới hiểu được sức mạnh của tuyên truyền. Tôi học xong trung học thì sang Mỹ du học, cả đoạn đời niên thiếu của mình, tôi cực kỳ thù ghét và sợ hãi cộng sản vì những hình ảnh tuyên truyền hồi xưa. Qua những tuyên truyền đó, tất cả những người cộng sản đều là những người phi nhân, để lại những dấu ấn rất sâu sắc trong thời thơ ấu của tôi.

Khi sang Mỹ du học, lần đầu tiên tôi có dịp tiếp xúc với các sách viết về lịch sử Việt Nam trong giai đoạn kháng Pháp rồi đến chiến tranh với Mỹ, tôi mới hiểu vấn đề không như mình nghĩ và tôi bắt đầu thay đổi. Vì thế tôi có tham gia một phần rất nhỏ trong phong trào phản chiến ở Mỹ. Qua những tiếp xúc như vậy, tôi rút ra bài học rằng chúng ta luôn phải tự tin vào mình và tự tìm hiểu để biết sự thật chứ không thể tin vào bất cứ nguồn nào. Hầu hết tất cả các nguồn tin trên thế giới đều có mục đích. Nếu chúng ta không tìm hiểu và xác định được giá trị đích thực của nó, chúng ta sẽ mãi mãi chỉ là trò chơi của người khác.

Sau khi tìm hiểu lịch sử, tôi hiểu rằng người Mỹ không nên tham chiến ở Việt Nam, vì đó không phải là vai trò của người Mỹ. Nếu những người Việt Nam không đồng ý với nhau thì họ sẽ giải quyết với nhau chứ không nên để một cường quốc bên ngoài hoàn toàn chủ động sử dụng sức mạnh khủng khiếp lớn nhất thế giới lúc đó để ủng hộ một bên và tiêu diệt bên kia.

Một kinh nghiệm nữa là khi còn ở Việt Nam, tôi không hề biết gì về các cuộc chiến ở miền quê, về sự đau khổ tột cùng của 70-80% người dân Việt Nam ở miền quê. Sống trong thành phố, cuộc sống thực sự êm ái và đầy đủ, mặc dù gia đình tôi không giàu có gì nhưng cuộc sống vẫn ổn. Chỉ đến khi sang Mỹ, tôi mới thấy trong khi mình sống tương đối an ổn ở thành phố thì người dân ở nông thôn đang chịu những cảnh tàn phá, chết chóc khủng khiếp, toàn bộ nông thôn miền Nam lúc đó bị băng hoại, tiêu diệt. Đến nỗi một nhà nghiên cứu nổi tiếng là Bernard Fall đã nghĩ nếu người Mỹ tiếp tục thì sẽ không còn văn hóa Việt Nam nữa.

Nhà thơ Nguyễn Bá Chung và nhà thơ Fred Marchant. Ảnh: VNNTV

Lính hay dân, chẳng ai muốn chiến tranh

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Đó là một quá khứ mà không chỉ nhà thơ Nguyễn Bá Chung mà rất nhiều người đã đi qua, những sự thật về chiến tranh. Rất nhiều người Mỹ cũng đã trải qua sự ngờ vực, mất lòng tin, hiểu lầm đó cho đến một ngày tất cả được khai mở.

Và thưa nhà thơ Nguyễn Duy, ông là một người lính và một nhà thơ trong những năm tháng chiến tranh. Giờ nhớ lại, ông đã có suy nghĩ về những người lính Mỹ, nước Mỹ lúc đó như thế nào?

Nhà thơ Nguyễn Duy: Thời tôi làm lính, có lần tôi ngồi lau khẩu sung AK47, một ông tướng chủ nhiệm chính trị Bộ tư lệnh thông tin đi qua và hỏi "Cậu thấy khẩu súng có đẹp không?" Tôi bảo "Không đẹp, đây chỉ là một dụng cụ bất đắc dĩ mà thôi". Ông ấy nói: "Câu này cậu chỉ được nói với tôi thôi nhé, không được nói với người khác".

Nhưng trong lòng tôi thực sự nghĩ như vậy, thế nên khi viết những bài thơ từ mặt trận, bao giờ tôi cũng viết về hòa bình. Tôi nghĩ thân phận của tất cả những người lính trên trái đất này có lẽ cũng như tôi, không ai muốn làm lính cả. Đó là một công việc bất đắc dĩ. Tham gia chiến tranh để bảo vệ đất nước cũng là một việc bất đắc dĩ vì mình cũng không bao giờ mong muốn nước mình rơi vào chiến tranh cả. Tất cả đều chỉ muốn thanh bình. Và tôi chỉ viết về khát vọng hòa bình trong thơ của mình.

Khi tôi qua Mỹ lần đầu tiên năm 1995, đúng dịp bình thường hóa quan hệ hai nước. Ngày 11/7/1995 bình thường hóa quan hệ thì ngày 12/7/1995, trên tờ Boston Globe Chủ nhật, một tờ báo chính trị mà in một bài thơ rất dài, bài thơ "Khúc hát hòa bình" của tôi do nhà thơ Kevin Bowen dịch. Tôi không hiểu ông ấy dịch lúc nào nữa. Trong đó có câu như thế này:

Người chiến binh tự tay vãi xương mình ngoài mặt trận
Họ chỉ là nạn nhân mà thôi
Thủ phạm chiến tranh còn sống hoặc chết rồi
Đều là cả giàu sang hoặc láu cá

Bài thơ này tôi viết trước khi sang Mỹ rất lâu. Đó cũng là cái nhìn của tôi với người lính nói chung và người lĩnh Mỹ nói riêng.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa nhà thơ Fred Marchant, ông đã nhận được những tuyên truyền như thế nào về Việt Nam. Lúc đó ông nghĩ thế nào về sứ mệnh của quân đội Mỹ ở Việt Nam mà người ta nói với ông?

Nhà thơ Fred Marchant: Thời điểm đó, mức độ hiểu biết của lính Mỹ và cả người dân Mỹ đều rất ít ỏi. Như Bruce nói, những người lính đều còn rất trẻ và máu me phiêu lưu. Chỉ thế thôi.

Nhưng trên truyền thông, một chiều hoàn toàn khác, chiều chính trị, dường như chiến tranh lạnh vẫn đang tiếp diễn gay gắt. Cộng sản là một kẻ thù, một kẻ thù trừu tượng. Người Mỹ không thích nghĩ xấu về bản thân mình, nhưng sẽ nghĩ như thế về các nước khác.

Truyền thông Mỹ biến sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam thành một sự nghiệp cao cả. Thực tế không ai lúc đó nghĩ rằng sự can thiệp đó có gì liên quan đến chủ nghĩa thực dân. Không một người Mỹ nào muốn nghĩ rằng mình đang tham gia vào một sự đô hộ thực dân. Nhưng đáng buồn thay, đó là sự thật, đó là những gì đã xảy ra trong suốt cuộc chiến tranh. Và nhiều người Mỹ dần nhận ra là mình đang tham gia vào một cuộc chiến xâm lược.

Nhà thơ Fred Marchant. Ảnh: VNNTV

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa nhà thơ Kevin Bowen, ngày đầu tiên ông bước lên máy bay để đến Việt Nam, ông hình dung mình sẽ làm gì trong ngày tiếp theo? Với bộ quân phục, súng và các trang bị khác, ông xác định mình sẽ làm gì, sẽ bắn giết, săn đuổi những người Việt Cộng, hay đơn giản là không biết mình sẽ làm gì?

Nhà thơ Kevin Bowen: Tôi đến Việt Nam vào mùa hè năm 1968, khoảng một tháng sau chiến dịch Phòng thủ từ xa. Tôi được huấn luyện bởi những người đã tham gia các trận chiến trước đó, những bài huấn luyện đó cơ bản là giúp chúng tôi đến Việt Nam, cố gắng sống sót trong một năm ở chiến trường để trở về nhà và tiếp tục đi học.

Tôi nghĩ là chẳng có người lính nào có thể chuẩn bị cho mình trước khi bước vào một cuộc chiến, và kể cả những cựu chiến binh từ Thế chiến thứ hai cũng nói với tôi như vậy. Chỉ là anh đến và cảm thấy choáng ngợp trước tất cả. Với bản thân tôi thì đó là những cuộc hành quân không ngừng, và tôi càng ngày càng lấn sâu vào cuộc chiến.

Một người chỉ huy đã nói một câu mà tôi rất nhớ về những gì một người lính phải làm trong cuộc chiến: "Anh hãy nhìn thật kỹ những người ở bên cạnh anh, bên trái, bên phải, bởi có khi anh sẽ không gặp lại họ đâu". Còn điều tôi quan tâm là đừng phải giết bất cứ ai chỉ để giữ mạng sống của mình.

Điều gì rất Việt Nam đã quyến rũ người Mỹ?

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Một bạn đọc hỏi các nhà thơ Mỹ rằng: Mỗi dân tộc, xứ sở, con người đều có vẻ đẹp, bí ẩn riêng. Vậy bí mật nào, vẻ đẹp nào của dân tộc Việt Nam là điều đầu tiên ông phát hiện ra, điều đã thay đổi cái nhìn, trái tim của ông đối với Việt Nam?

Nhà thơ Bruce Weigl: Tôi e rằng tôi không có đủ thời gian để trả lời hết câu hỏi này. Tôi nhớ nhất là điều mà tôi đã dần cảm nhận được trong thời gian chiến đấu cũng như sau này tôi quay lại Việt Nam: đó là cách người Việt Nam đối xử với nhau tốt bụng, ấm áp như thế nào, khi tôi nhìn thấy những bạn trẻ dắt tay những người già qua đường, dù họ không hề quen biết. Tôi không ngây thơ nghĩ rằng chỉ ở Việt Nam mới có những người tốt như thế, nước nào cũng vậy thôi, nhưng điều làm tôi xúc động là dường như có một sự chia sẻ, đồng cảm, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau tràn ngập trong cuộc sống. Đó là điều mà tôi biết sẽ lôi kéo tôi trở lại đất nước này, đó là nét văn hoá mà tôi không những muốn tìm hiểu mà còn muốn hoà nhập và trở thành một phần của nó.

Ở nhà tôi cũng tràn ngập không khí Việt Nam: âm nhạc, phim ảnh, truyền hình... Con gái nuôi của tôi, một cô bé Việt Nam, nó đang học đại học. Và ngôi nhà tôi cũng ngày càng đón nhiều bạn bè Việt Nam đến thăm.

Nhà thơ Bruce Weigl và nhà thơ Nguyễn Duy. Ảnh: VNNTV

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Và cũng câu hỏi này tôi muốn hỏi nhà thơ Fred Marchant. Ông đã khám phá vẻ đẹp nào của con người, đất nước Việt Nam đầu tiên?

Nhà thơ Fred Marchant: Tôi không ở Việt Nam trong thời gian chiến tranh, tôi đến Việt Nam sau đó. Tôi cảm thấy mình rất may mắn khi không phải tham gia cuộc chiến này. Thật sự là có một khoảng thời gian dài trong cuộc đời, tôi không biết gì về đất nước Việt Nam cả. Đối với nước Mỹ lúc đó, Việt Nam là chủ để mà người ta nói suốt ngày, về việc nước Mỹ đang chiến đấu ở Việt Nam, về việc đưa lính Mỹ về nhà, nhưng với tôi, chủ đề Việt Nam chỉ thực sự hấp dẫn và thu hút cho đến năm 1994.

Đó là khi cuốn sách thơ đâu tiên của tôi được xuất bản và tôi được mời đến Trung tâm William Joiner tham gia một hội thảo hè. Trong hội thảo đó, tôi đã gặp một số nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Quang Thiều, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa... và đó là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi được nghe những bài thơ bằng Tiếng Việt. Lúc đó tôi cảm thấy vô cùng bất ngờ, xúc động, ngạc nhiên và thú vị. Điều đó thật khó diễn tả, nhưng lúc đó, dường như tôi đã được nghe những gì tôi luôn muốn nghe, những giai điệu, lời thơ mà tôi đang tìm kiếm, dù tôi chẳng hiểu một lời nào.

Đó là điều đã khiến tôi ngay năm sau đó phải đến Việt Nam và ở đây tôi đã nhìn thấy, cảm nhận nền văn hoá nền tảng của Việt Nam, nền văn hoá đã nuôi dưỡng, bồi đắp cho những vần thơ, giai điệu ấy. Tôi có thể nói điều bí mật, vẻ đẹp đầu tiên của Việt Nam đến với tôi là qua đôi tai.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Chính tôi là người Việt Nam nhưng cũng rất bất ngờ trước vẻ đẹp, bí mật mà ông khám phá từ những bài thơ. Thi ca là nhân chứng tâm hồn. Thưa nhà thơ Nguyễn Bá Chung, nếu phải nói với người Mỹ những lời rất ngắn, nếu phải mang đến cho bất kì ai trên thế giới, một điều rất Việt Nam có thể quyến rũ trái tim họ, ông sẽ nói nói gì?

Nhà thơ Nguyễn Bá Chung: Đó là một câu hỏi hay. Tôi nghĩ mình như con cá, chỉ khi nào ra khỏi dòng nước mới thấy được giá trị của dòng nước. Khi ở Việt Nam, tôi hoàn toàn không nghĩ gì đến văn hoá Việt. Khi sang Mỹ năm 1971, bắt đầu sống và học tập ở đó, tự nhiên phải đối diện với một nền văn hoá hoàn toàn mới, với đầy đủ tiện nghi và sức ảnh hưởng to lớn, tôi mới ngày càng khám phá ra sức mạnh diệu kì của văn hoá Việt Nam.

Thứ nhất là nếu không nhờ đã thẩm thấu một phần đặc điểm Việt, một người Việt Nam bỏ nước ra đi, trước khó khăn sẽ rất cô đơn và sẽ tìm mọi cách để trốn chạy sự cô đơn. Tôi rất may mắn cảm thấy mình không cô đơn bởi tôi sống với điều gì đó có sẵn trong mình và cố gắng tổng hợp điều đó với nền văn hoá mới. Tôi nhận thấy đó là sức mạnh rất lớn của nền văn hóa Việt Nam, qua bao thế kỷ đương đầu với chiến tranh, có khả năng hoá giải những hận thù, khổ đau để tiếp tục hướng đến tương lai. Không có kinh nghiệm ông cha ta để lại từ hàng nghìn năm sau những cuộc chiến tranh, xã hội Việt Nam sẽ vô cùng khó khăn để tái lập lại sức mạnh của mình.

Thứ hai là sống trên đất Mỹ với nền văn hoá cực kỳ hiện đại, hấp dẫn, mình vẫn không cảm thấy thiếu thốn, thua kém vì mình vững tin vào chiều sâu văn hoá của đất nước mình. Càng sống trên đất Mỹ lâu, tôi càng cảm thấy sức mạnh của văn hoá Việt Nam là ở truyền thống hàng nghìn năm của nó. Điều đó không thể học được bằng vài cái bằng tiến sỹ, đọc vài cuốn sách và xem vài cuốn phim. Chính nhờ sức mạnh tâm linh tiềm ẩn đó mà trong quá khứ nước Việt Nam vẫn tồn tại qua nhiều cuộc chiến tranh khủng khiếp mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc.

Đúng như Bruce vừa nói là anh ấy nhận ra sự bao dung trong văn hóa Việt Nam, sự tương lân tương trợ rất lớn của người Việt. Có thể Việt Nam hiện giờ đang phải đối diện với một xã hội hiện đại, hậu hiện đại, hậu kỹ nghệ từ Tây phương tràn sang, phần nào xã hội Việt Nam đã mất đi đặc tính đó. Tôi nghĩ nếu không phục hồi được, thế hệ mới của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Nhà thơ Kevin Bowen. Ảnh: VNNTV

Quay lưng với trái tim mới là sự phản bội

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Nhiều bạn đọc tin rằng các nhà thơ, nhà văn Mỹ đã đem lòng yêu đất nước Việt Nam ngay cả trước khi hai nước bình thường hóa quan hệ. Vậy khi ông yêu đất nước kẻ thù của Mỹ, ông có phải là một kẻ phản bội đất nước mình không?

Nhà thơ Bruce Weigl: Thực sự sẽ có người nói tôi là kẻ phản bội và đúng là có người đã nói như thế rồi, đặc biệt là những cựu chiến binh. Tôi thì không có cách nào hiểu nổi tại sao lòng trắc ẩn, tình yêu và sự thấu hiểu lại bị cho là hành động phản bội. Tôi vẫn tiếp tục trở lại Việt Nam những tôi không hề có cảm giác mình đang phản bội bất cứ ai hay điều gì. Và thực ra, nếu tôi quay lưng lại với những suy nghĩ của mình, tôi mới là kẻ phản bội chính trái tim mình.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Cũng câu hỏi này với nhà thơ Fred Marchant. Ông đã từng cất tiếng trong trường học, thư viện, những nơi công cộng, để nói về văn hoá Việt Nam, đọc thơ của các nhà thơ Việt Nam. Ông chắc chắn đã từng bị quy là phản bội đất nước mình trong một ý nghĩa, một khoảnh khắc nào đó. Vậy ông nghĩ gì về điều đó?

Nhà thơ Fred Marchant: Những lúc như thế, tôi vẫn có lòng tin rằng những việc tôi đang làm là đúng đắn khi giới thiệu trước sinh viên, thính giả của mình tất cả những gì tôi biết về văn hoá, văn học và thơ ca Việt Nam. Dù sẽ có những người tôi là kẻ phản bội đất nước, nhưng tôi nghĩ từ này không thích hợp để nói về tôi với những việc làm như thế.

Người Mỹ đã muốn quên chủ đề Việt Nam, họ sẽ nói "hãy để vấn đề Việt Nam lại sau lưng, trong ý thức". Đúng lúc đó, Trung tâm William Joiner đem đến cho chúng tôi văn học và văn hoá Việt Nam. Lần đầu tiên nghe những giai điệu, lời thơ Việt Nam, tôi đã biết rằng những bài thơ đó có giá trị vô cùng quan trọng về mặt văn hoá. Các nhà thơ Mỹ khác sẽ thấy đó là những cảm giác hết sức kì lạ, không hẳn là do họ không cảm thấy những bài thơ đó có gì quan trọng, mà bởi trong một xã hội mang tính thương mại như Mỹ, thơ ca không có vai trò lớn lắm.

Nếu thơ ca có ý nghĩa gì đó thì đó là cách con người hiểu về môi trường, về thế giới xung quanh họ. Vì thế, thơ ca Việt và Mỹ đều sẽ gặp nhau ở điểm tương đồng đó. Đó không phải là sự phản bội, tôi nghĩ đó là điều hoàn toàn đúng đắn.

(còn nữa)

Nguồn: Vietnam.net

 

Các bài khác:
· CHUYỂN BIẾN NHẬN THỨC CỦA ĐỘI NGŨ NHÀ THƠ TRẺ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
· MỘT CHÚT VỀ TRẦN DẦN VÀ MỘT TẬP BẢN THẢO
· LƯU QUANG VŨ-CHỐN NƯƠNG NÁU ĐẦU TIÊN VÀ CUỐI CÙNG
· GIẤC MỘNG TÔI KỂ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT GIẤC MỘNG
· TRUNG TRUNG ĐỈNH- 'KHỔ SAI' CÙNG CHỮ NGHĨA
· NGHĨ VỀ SÁNG TẠO VÀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC HIỆN NAY
· TRẦN DUY PHIÊN - HAI QUÊ HƯƠNG MỘT NGÒI BÚT
· NHỮNG VẦN THƠ CỦA CÁC VỊ TIÊN
· LÁ TRÚC CHE NGANG MẶT CHỮ ĐIỀN:NHỮNG ĐIỀU CHƯA MẤY AI CHÚ Ý KĨ
· ĐÔI NÉT VỀ TRƯỜNG CA NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY-NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
· THƠ HOÀNG CẦM - MỘT DÒNG LẤP LÁNH...
· NHÀ THƠ LÊ XUÂN ĐỐ…KHÓC
· ĐIỂM DANH VĂN HỌC TRẺ
· HOÀNG TRẦN CƯƠNG TRÌNH DIỄN THƠ
· LƯU QUANG VŨ: NHỮNG SUY NGHĨ RỜI, KHỞI ĐI TỪ MỘT BÀI THƠ
· NGHĨ VỀ THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI
· GIỌNG ĐIỆU TRONG TRƯỜNG CA TRẦN ANH THÁI
· NGUYỄN DUY ĐI QUA CẦU KỲ, ĐẾN VỚI GIẢN DỊ
· THI SĨ PHẠM PHÚ HẢI - ÁM ẢNH HUYỀN NHIỆM
· NGUYỄN KHẮC PHỤC... ĐIÊN

 

  
Gia đình Bích Khê