DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TIỂU THUYẾT TRẺ- VẮNG BÓNG NHỮNG SUY TƯ LỚN

                                                               Phùng Gia Thế

Kì 1

NHÀ VĂN TRONG CÕI “HƯ THỰC”

 

1. M. Kundera viết: “Tiểu thuyết không phải là một lời tự thú của tác giả mà là một cuộc thăm dò cuộc sống của con người trong cái thế giới đã trở thành cạm bẫy” (1).

 

Hư thực có khác một chút: nó không chỉ là “cuộc thăm dò cuộc sống của con người trong cái thế giới đã trở thành cạm bẫy” mà còn là “một lời tự thú của tác giả”.

 

Có lẽ, việc không chia chương mục và bản thân nhan đề tiểu thuyết cũng đã là một “lời tự thú”: nó gợi chút gì về cái mơ hồ, mông lung vô thường và cái miên man của sự viết. Cái sự viết trong thời điểm tiểu thuyết ở ta gần đây đang thưa vắng những suy tư lớn và có phần ít đi những bàn tay khéo léo tinh vi.

Người viết tiểu thuyết đôi khi cũng giống kẻ khăn gói đi buôn bán nơi xa, có lúc tiêu xoẻn cả lãi lẫn vốn.

 

Bế tắc trong tiểu thuyết không chỉ là thực trạng của một nhà văn, mà của nhiều người cầm bút, thậm chí của cả một thời kì văn học.

Nỗ lực của Phùng Văn Khai, với Hư thực, từ hiện trạng ấy, trước hết là một nỗ lực đáng trân trọng.

Hư thực là tiểu thuyết đầu tiên của Phùng Văn Khai, gồm 236 trang.

 

2. Đọc Hư thực, thấy thêm một lần, kiểu “nhân vật nhà văn” được đào bới. Và có lẽ đây cũng là điểm nhấn đáng chú ý nhất của tác phẩm. Ta không lạ kiểu “nhân vật nhà văn” trong văn chương hiện đại. Áo cơm và những khát vọng bị nghiền nát vẫn còn nguyên ám ảnh trong sáng tác của Nam Cao. Sự run rẩy, mong manh và cái bạc bẽo của kẻ cầm bút trong văn Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Việt Hà mổ xẻ chính quá trình sáng tạo của nhà văn để giải ảo khả năng của tiểu thuyết. Và nhiều nữa. Ở đây, trong Hư thực, với kiểu nhân vật nhà văn, Phùng Văn Khai tập trung khai thác các vấn đề thân xác và sự tự do của người viết, những ý tưởng sáng tạo, các chủ đề ám ảnh (đặc biệt là ám ảnh thân phận) đối với nhà văn đương đại.

 

Như thế, trên mảnh đất đã có kẻ khẩn hoang, nhà văn trẻ tiếp tục đào sâu cuốc bẫm để gieo trồng thêm những cây giống mới. Hư thực là cuộc trình diễn của tâm tư. Nhân vật hầu như không có đối thoại. Chính xác hơn, họ chỉ có những đối thoại nội tâm kiểu người câm. Theo đây, toàn bộ cấu trúc và ý nghĩa của tiểu thuyết được kiến lập dựa theo dòng suy tưởng đứt nối, những ý nghĩ lan man, những giấc mơ và ám ảnh không đầu cuối của Y và họ Đào.

 

Chọn kiểu điểm nhìn này, nhà văn tự tạo cho mình một áp lực.

Và Phùng Văn Khai, bằng khả năng diễn giải tâm lí và trí tưởng tượng của mình, đã vượt thoát khá thành công khỏi cái áp lực đó.

Khước từ bối cảnh xã hội lịch sử, nghĩa là khước từ cơ quan, đoàn thể, gia đình, vô tuyến, điện thoại di động…, “nhân vật nhà văn” được đặt vào một không – thời gian khác, một bối cảnh khác.

 

Hư thực có sự xoắn vặn của hai kiểu hiện thực: hiện thực xã hội và hiện thực tâm tư. Hiện thực xã hội chỉ xuất hiện gián tiếp nhưng lại là căn cớ trực tiếp để nhà văn đào bới hiện thực tâm tư. Đến lượt mình, hiện thực tâm tư trong không gian huyễn ảo thoạt tưởng vô vi kia lại “phản chiếu”, lại được dùng để “nói lên” những sự thật chua chát, khốc liệt của xã hội và cái vô cảm vô nhân của con người. Cũng phải thấy kiểu không gian hư thực đã tạo tự do tối đa trong trần thuật, đặc biệt là lối trần thuật phi tuyến.

 

Nhà văn là ai trong cõi người?

Nhà văn không là thánh nhân. Hắn là một loại người. Hơn thế, hắn còn là loại người đáng thương, thậm chí, rất đáng thương.

Chút ngạo ngôn kiêu bạc kia nào có che giấu được sự cô độc, nhếch nhác, đáng thương.

Sống chết mong manh như thân cỏ hèn mọc đầy núi non(2).

Nhà văn tìm tự do ở đâu?

Tự do có thể tìm được chăng ở nơi rừng thẳm?

Hư thực cho ta thấy chút thoáng xót xa của kẻ cầm bút.

Chút bóng dáng của chủ nghĩa hư vô.

 

Nhà văn rốt cuộc là ai? Là kẻ bất lực. Anh ta khát khao sáng tạo, nhưng lại hoang mang cõi văn, hoang mang cõi người. Không ai bảo chứng cho lời anh ta. Không ai đặt cược cho sáng tác của anh ta. “Cứu ai? Ai cứu ai?”. Cứu mình? “Bất lực và cứt chó” (tr. 141). Khắc khoải nhân quần, khắc khoải thân phận, số kiếp, nhưng nhà văn không cứu được chính mình. Anh ta gần như chẳng có gì ngoài chút lòng trắc ẩn đáng thương và những ý tưởng sáng tác ngổn ngang chưa thành.

Trong Hư thực, Phùng Văn Khai chủ tâm khai thác những nhân vật bên lề, những kẻ dễ (và thực ra đã) bị xã hội lãng quên, chối bỏ, chống lại. Hư thực do thế bề bộn những suy tư, ám ảnh về chị điên, ả điếm, cô gái người rừng nửa người nửa ngợm, cặp vợ chồng già có căn nhà “cứ mối năm lại lún xuống một cấp”,… Họ Đào trong Hư thực còn đinh ninh khẳng định: con chó trong văn học cũng là một đề tài lớn, nhân vật lớn (tr. 113). Thì chính Y, họ Đào, tức các nhà văn cũng là những kẻ bên lề, một kiểu “abnormal” trong xã hội đương đại đấy thôi. Khi “cuộc đời này không dành cho Y và gã” (tr. 66) thì kiếm đâu ra chân trời tự do cho sáng tác, cho tài năng văn chương nảy nở?

 

3. Phải thừa nhận văn phong của Phùng Văn Khai trong Hư thực lôi cuốn, mềm mại, nhiều chỗ tinh tế.

 

Đọc Hư thực, thoạt tiên ta tưởng tác giả định đưa tiểu thuyết phiêu dạt khỏi những sứ mệnh bản nguyên của nó. Nhưng không phải. Hư thực trước sau vẫn là sự tiếp nối những suy ngẫm của tiểu thuyết truyền thống về xã hội, con người, về nhà văn và văn chương.

 

Tác giả Hư thực đã dụng tâm nghiền ngẫm cõi nhân tâm thế sự để đặt vấn đề. Tiếc là các vấn đề trong Hư thực chưa được đào sâu viết kĩ ở mức cần thiết để có thể gây những hiệu ứng thẩm mĩ mạnh mẽ cho người đọc. Hẳn ai cũng biết, trong văn chương, việc nói được, nói hay trong tác phẩm, bằng tiếng nói cá nhân cái “câu chuyện tâm thức” của con người thời đại, nói theo N. G. Shernysevski là cái “vấn đề mọi người cùng quan tâm trong đời sống”, trên nền tảng của những suy tư lớn, quan trọng đến thế nào.

 

Bởi thế, đọc Hư thực, cái miên man của sự viết là một cảm nhận khó tránh. Hiển nhiên, ai cũng biết, trong bối cảnh hiện nay thì “viết về cái sự viết” cũng là một chủ đề.

 

Thế bí về nội dung của tiểu thuyết gần đây hẳn không phải câu chuyện của riêng ai.

 

Vẫn biết là, dù ở cõi nào, nhà văn cũng phải viết. Và, bất luận dưới áp lực gì, anh ta vẫn viết. Định mệnh đã chọn anh ta làm thế. Tiểu thuyết của người trẻ gần đây xuất hiện nhiều. Những cái tên ấn tượng có thể kể đến hàng chục. Tuy nhiên, sự xuất hiện của nhiều tác giả tiểu thuyết vẫn chưa thể tạo ra sự xuất hiện của một tiểu thuyết “để đời”. Tác phẩm gây ấn tượng khác với tác phẩm lớn. Sau các buổi tọa đàm, giới thiệu, quảng cáo…, tiểu thuyết sẽ được tái diễn sự sống. Nhưng sức sống của tiểu thuyết là sức sống tự bản thân nó, một sức sống nội tại. PR chỉ giúp bán sách. Lối phê bình thù tạc, ve vãn chỉ khiến nhà văn, kẻ vốn dễ bị tổn thương (bởi các lời chê) thêm phần kiêu hãnh (họ luôn/thường cho/lo cộng đồng người đọc không hiểu mình). Độc giả hãy hiểu cho nhà văn, ghi nhận nỗ lực của họ. Và, cũng đừng lạ vì nhiều tiểu thuyết, chỉ vài tháng sau tọa đàm, quay phim, chụp ảnh, “mỗi tuần một cuốn sách”,… nó gần như không còn được ai nhắc tới. Nó đã chết thực sự. Còn bạn đọc, nếu không muốn đọc tác phẩm của họ thì chỉ có cách đọc của “người ngoài”, hay bật tivi lên mà xem, hoặc tự mình viết lấy mà đọc thôi…

 

4. Hư thực là một cuộc vượt thoát. Chủ ý tạo cái mới của tác giả rất rõ. Tuy nhiên, các quan hệ trong đây như: hư - thực, âm - dương, thiện - ác, ước mơ - hiện thực, cao cả - thấp hèn,… suy cho cùng vẫn là những phạm trù thuộc về cổ điển. Ngay việc qua để nói thực cũng đã rõ cái tứ của tiểu thuyết từ nhan đề đó thôi. Những đoạn viết về người điên (cái nghĩ của người điên, ngôn ngữ và hành vi của người điên,…), về sex, những trang văn miên man phi đối thoại, bút pháp hiện thực kì ảo chưa tạo đột phá so với Nguyễn Bình Phương. Việc sử dụng chi tiết con mắt thứ ba đôi chỗ chưa thật tự nhiên. Những đoạn về “quân xanh quân vàng” thì có thể ví như việc người ta đang dùng sơn lại quét ve. Câu chuyện làng Bái và những bí ẩn đen tối cũng chưa tạo ra một ngôi làng riêng cho nhà văn bởi nó còn mang hơi hướm của một số ngôi làng khác trong văn chương nghệ thuật gần đây, như làng Nhô, làng Kình, làng Đồng,… chẳng hạn

 

5. Mọi nghệ thuật là sự tìm tòi. Bản thân cuốn tiểu thuyết của Phùng Văn Khai cũng đã nói lên điều đó. Tác giả Đêm trăng thiêng, sau mấy tập truyện ngắn và thơ, đã chuyển qua thử sức mình trong lĩnh vực tiểu thuyết. Thành công bước đầu của Hư thực có thể xem là đáng kể. Nhưng theo tôi, Hư thực “thu hút” mà chưa “thuyết phục”. Với Hư thực, ta có thêm một giọng văn tinh, một bàn tay khéo, và cả một tấm lòng nữa. Nhưng Hư thực còn hơi vụn vẽ bởi thiếu một chiều sâu suy tưởng xuyên suốt. Và với Hư thực, ta có thêm một bằng chứng để khẳng định một thực tế: tiểu thuyết ở ta gần đây nhiều cách tân kĩ thuật nhưng vẫn còn thiếu vắng những suy tư lớn. Đặc biệt những nhà văn trẻ từ những cây bút truyện ngắn nhảy sang địa hạt tiểu thuyết, họ có thừa những kinh nghiệm, hay kỹ thuật nhưng dường như người đọc vẫn còn cảm thấy một cái gì đấy thiêu thiếu, vẫn thấy chưa như mong muốn.

 

(1) Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch, Nxb. Đà Nẵng, 1998, tr. 31.

(2) Lời một bài hát của Trịnh Công Sơn.


Nguồn: Văn nghệ trẻ

 

Các bài khác:
· 'SỢI TÓC HAI MÀU' CỦA VƯƠNG TRỌNG
· THI SĨ THIÊNG LIÊNG - POETA SACER
· NGUYỄN TRỌNG TẠO - YÊU VÀ GHÉT, ĐỐI LẬP VÀ SONG HÀNH
· LÊ CÁT TRỌNG LÝ THÈM ĐIÊN
· TRẦN ĐÌNH SỬ- NGƯỜI THỒ CHỮ
· SỰ TINH NGHỊCH CỦA CÁC NHÀ THƠ NỮ
· AI LÀ NGƯỜI VỢ TRONG BÀI THƠ “GỬI NGƯỜI VỢ MIỀN NAM” CỦA NGUYỄN BÍNH ?
· CON ĐƯỜNG CỦA CÁI ĐẸP VÀ THÁCH THỨC MỚI
· CHẤT ĐỘC HẠI TRONG HỒI KÝ CỦA NGUYỄN ĐĂNG MẠNH
· MỘT CHIỀU CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
· NGƯỜI CHĂM SÓC DI CẢO CHO LƯU QUANG VŨ
· VĂN HỌC LÀ CÁCH TỐT NHẤT ĐỂ HIỂU MỘT DÂN TỘC
· LỜI CỦA TÀN TRO (ĐỌC THƠ TRẦN TUẤN)
· NHÀ VĂN LÊ LỰU KỂ CHUYỆN 'ĐI SỨ' VĂN HỌC SANG MỸ
· ĐỖ TRUNG QUÂN- 'GIỮA GIỜ CHƠI MANG ĐẾN LẠI MANG VỀ'
· BÀ THẾ LỮ - MẸ CHỒNG TÔI
· 'KHÔNG THỂ TƯỞNG TƯỢNG CUỘC SỐNG MÀ KHÔNG CÓ VIỆT NAM'
· CHUYỂN BIẾN NHẬN THỨC CỦA ĐỘI NGŨ NHÀ THƠ TRẺ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
· MỘT CHÚT VỀ TRẦN DẦN VÀ MỘT TẬP BẢN THẢO
· LƯU QUANG VŨ-CHỐN NƯƠNG NÁU ĐẦU TIÊN VÀ CUỐI CÙNG

 

  
Gia đình Bích Khê