DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
VỚI NHIỀU NGƯỜI, CHIẾN TRANH CHƯA KẾT THÚC

                                                                                                                        Phong Điệp

Câu chuyện sau 35 năm

“ Lần đầu tiên sau hai thập kỉ, bàn chân tôi có cảm giác kết nối với mặt đất, toàn bộ cơ thể tôi thức dậy, không phải trong bầu không khí cảnh giác cao độ của chiến tranh mà là sự công nhận và trân trọng đối với sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi khoảnh khắc.”

Nhà thơ, cựu binh Mỹ Kevin Bowen xúc động kể lại chuyến đi trở lại Việt nam lần đầu tiên của mình năm 1986.

Câu chuyện của Kevin Bowen khiến nhiều người nhớ lại năm 1975. Chiến tranh chấm dứt ở Việt Nam. Quân đội Mỹ cũng đã rút chân khỏi mảnh đất này từ trước đó. Song quan hệ giữa hai quốc gia lại bước sang một thời kỳ mới: thời kì cấm vận. Nhưng nỗ lực hàn gắn các vết thương chiến tranh, nỗ lực gắn kết lại hai nền văn hoá, hai dân tộc vẫn được nhiều tầng lớp nhân dân tiến hành một cách âm thầm và bền bỉ. Bởi lẽ, bên cạnh một nước Mỹ của những súng ống, bom đạn thì vẫn còn một nước Mỹ của những người dân yêu chuộng hoà bình, từng xuống đường tuần hành gây sức ép với Chính phủ đương nhiệm chấm dứt chiến tranh ở Việt nam. Và trong một những lực lượng tiên phong, thực hiện sứ mạng nối lại cây cầu của hoà bình  hữu nghị của hai quốc gia, đó chính là các văn nghệ sĩ.

Nhớ lại chặng đường suốt hơn 30 năm qua của văn học Việt - Mỹ, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội nhà văn Việt nam chia sẻ: Ngay từ năm 1982, một hội thảo văn học đã được tổ chức ở Mỹ , có sự tham dự của GS Hồ Huệ Tâm, GS Trần Văn Khê (đến từ Paris). Hai GS từ Việt nam sang là Hà Minh Đức và Phan Cự Đệ. Đây có thể xem như những cố gắng đầu tiên từ các trường ĐH nhằm đưa văn học Việt nam sang Mỹ. Sau đó, tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng được dịch và xuất bản tại Mỹ. Số đỏ đã được bạn đọc đón nhận và được đánh giá là một trong 50 tác phẩm nổi tiếng lúc đó của Mỹ. Thơ Hồ Xuân Hương cũng được dịch và xuất bản tại Mỹ với lượng phát hành lên tới  20.000 và đã bán hết trong vòng 2 năm. Ngoài ra còn có thể kể đến nhà văn Lady Boton, người đã dành cả cuộc đời mình cho Việt nam và rất nhiều người khác nữa đã nỗ lực đưa văn học VN ra nước ngòai.  Hơn hai mươi năm qua có nhiều nhà văn Mỹ đến và được chào đón ở Việt nam.

 

Trong bài phát biểu của mình tại Hội thảo văn học Việt - Mỹ sau chiến tranh, nhà thơ Hữu Thỉnh bày tỏ: Các bạn hiểu được chúng tôi cần ổn định, cần sự hòa bình lâu dài đến như thế nào để xây dựng đất nước sau chiến tranh. Cảnh những người bạn từng ở hai đầu chiến tuyến ngồi trong nhà của nhau như là một chuyện lạ của thế giới. Chúng ta đã học được một nghệ thuật biết vượt lên là nhìn về phía trước, đó là nghệ thuật sống.

Vượt qua những thử thách

Kể từ giai đoạn mở cửa, hàng loạt những tác giả và tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt nam được dịch và giới thiệu tại Mỹ: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Chí Minh,… và sau này là Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Lê Lựu, Bảo Ninh, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Thiều, Hồ Anh Thái, Tô Nhuận Vỹ…

Một tổ chức đã âm thầm, bền bỉ, nhẫn nại làm cây cầu nối văn học Việt - Mỹ trong suốt hai mươi năm qua, đó chính là Trung tâm William Joiner Center (WJC).

“Phải nói sự hình thành WJC là một sự kiện kì diệu vì nó chỉ có thể xảy ra ở thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts mà không thể xảy ra ở bất cứ tiểu bang nào khác trên nước Mỹ giai đoạn đó. Là một Trung tâm nghiên cứu trực thuộc Đại học công, nhận tiền tài trợ của ngân quỹ tiểu bang, nhưng nó lại mang mầu sắc phản chiến và tiến bộ”  (Dịch giả Nguyễn Bá Chung).

Chính các cựu binh Mỹ đã lập nên kỳ tích này. Để trung tâm được thành lập, hàng đoàn cựu chiến binh đã đội mưa đứng đợi trước cửa văn phòng Tổng thống. Các sinh viên, bạn bè của họ gọi điện và gửi thư tới trường đại học và tới các quan chức để tạo sức ép.

Với mục tiêu chuyên nghiên cứ hậu quả chiến tranh và xã hội thông qua những hoạt động văn hoá nghệ thuật, WJC đã dành ưu tiên cho đề tài cuộc chiến của Mỹ tại Việt nam. Năm 1986 trong không khí của công cuộc đổi mới, WJC có thiện ý làm việc với giới văn nghệ sĩ, trí thức Việt nam, nhằm tiến hành công cuộc hòa giải, hóa giải hận thù giữa hai đất nước. Đại sứ văn học đầu tiên của cây cầu hữu nghị này là nhà văn Lê Lựu.

 

Nhà thơ Kevin Bowen – giám đốc WJC bồi hồi kể lại không khí của những ngày tháng ấy: Chúng tôi đã phải đối mặt với những chống đối, những đe doạ, những phá phách nhằm triệt tiêu nguồn ngân quỹ của chúng tôi. Một thời các đại lý vé máy bay không tổ chức và không cho phép mua vé máy bay sang Việt Nam nếu không có giấy phép theo luật của Bộ ngân khố Mỹ. Hoàn toàn lúc đó không có điện thoại, máy fax và đường dây thư tín. Không có internet, không có điện thoại di động. Du khách bay từ Mỹ qua Bangkok chờ xin cấp visa vào Việt Nam và sau đó khi trở về nước họ bị tách khỏi liên hệ với phần còn lại của thế giới.

Thậm chí nhà thơ Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung từng bị kiện ra toà vì tội “đưa Việt cộng sang Mỹ để chống phá người Việt tại Mỹ”. Các nhà văn Việt Nam khi sang bị cũng bị vấp phải sự chống đối quyết liệt của các phần tử người Việt quá khích tại đây. Và cũng chính trong thời khắc nguy cấp ấy, chính các nhà văn - cựu binh Mỹ lại là người bảo vệ các nhà văn  Việt Nam.

Một kỉ niệm đáng nhớ với nhà thơ Nguyễn Duy, đó là ngày Việt nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Mỹ, cũng là lúc ông đang ở Mỹ. Lúc đó tờ Boston xuất bản một bài thơ của ông. Hôm sau có một bức thư gửi đến ông  nói rằng bài thơ này là một tác phẩm quan trọng nhất của họ trong suốt 20 năm qua.

Nhà thơ Nguyễn Duy bày tỏ: “Chúng ta hãy nghĩ rằng chúng ta đang nỗ lực thay đổi cách nghĩ và cách nhớ về lịch sử.”

Cùng chia sẻ về điều này, nhà văn Nguyên Ngọc bày tỏ: Trong chiến tranh hai đối phương nhìn nhau đều không thấy khuôn mặt con người, mà chỉ là một đối tượng vô hình, vô nhân tính. Vì thế sau chiến tranh một nhiệm vụ vô cùng quan trọng là khôi phục khuôn-mặt-người, một khuôn-mặt-người nhân văn, sâu sắc, con người theo cái nghĩa cơ bản nhất đã bị chiến tranh đánh mất. Chúng ta có thể tự hào nói rằng những người tú của hai quốc gia đã tìm ra con đường để khôi phục khuôn mặt ấy, một con đường thông minh, đó chính là văn học nghệ thuật . Các nhà văn hai phía đã nỗ lực làm được nhiều việc có ý nghĩa  trong những năm vừa qua. Công việc ấy, chính trị kinh tế không thể làm được, nói chính xác hơn là không thể làm được triệt để nếu không có văn học”.

Và những nhiệm vụ phía trước

Hội thảo văn học Việt - Mỹ sau chiến tranh được tổ chức đúng 35 năm sau ngày Việt Nam hoàn toàn giải phóng, và 15 năm bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia. Một chặng đường dài, ghi dấu những nỗ lực bền bỉ của hai bên trong việc nối lại những nhịp cầu hữu nghị, mà trong đó văn học - nghệ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng. Quãng thời gian ấy, những khó khăn đặt ra không ít, mà việc hoá giải được tâm ký hậu chiến, xoá bỏ những hận thù trong quá khứ giữa người Việt với người Mỹ và giữa người Việt với người Việt là một thử thách vừa khó khăn vừa nan giải.

“Chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm. Để hoá giải cho hết, nửa số năm của 35 năm đã đủ chưa? Hoặc ngần ấy năm nữa liệu đã đủ chưa? Câu hỏi này khó có thể trả lời chính xác được. Nhưng có một điều có thể trả lời được chắc chắn là : nếu tất cả văn nghệ sĩ, tất cả các trí thức của hai đất nước Việt Nam – Hoa Kỳ cùng biết xả thân vun trồng cho công cuộc hoá giải này tôi tin rằng chúng ta không mất nhiều thời gian nữa”. (Nhà phê bình Văn Giá )

“Với nhiều người chiến tranh chưa kết thúc -  đây là sự đúc kết hàm xúc và ý nghĩa của Kevin sau nhiều chuyến đi đến Việt  nam. Một những việc chưa kết thúc đó là di họa rất lớn của chất độc da cam ở Việt nam. Về phương diện này tôi có thể nói rằng nước mắt, nỗi đau chưa kết thúc. Và hàng ngày hàng giờ chúng ta vẫn nghe thấy tiếng gào thét của các nạn nhân. Là nhà văn chúng ta cần làm gì? Hiện nay, những người gây ra thảm họa này cố tình quay lưng lại. Với chức năng nghiên cứu hậu quả của chiến tranh, WJC có nhiều lợi thế để định hướng dư luận Mỹ nhìn nhận đúng đắn vấn đề chất độc da cam ở Việt nam. Chúng tôi trông chờ rất nhiều ở các bạn. Đây là một vấn đề ngòai văn học. Tình hình không thể chậm trễ hơn nữa. Các nhà văn Việt – Mỹ cần làm nhiều việc để giảm bớt nỗi đau của các nạn nhân dioxin. Tôi hy vọng điều tôi vừa nói không nằm ngòai sự quan tâm của tất cả chúng ta." (nhà thơ Hữu Thỉnh)

Sự  hợp tác hữu nghị giữa Việt nam – Hoa Kỳ , ở các lĩnh vực, trong đó không thể thiếu văn học - nghệ thuật còn rất nhiều việc cần đôi bên cùng chung sức, nỗ lực. Sự tham gia của các nhà văn trong công cuộc này vừa là một sứ mạng thiêng liêng  nhưng cũng đồng thời là trách nhiệm nặng nề.

 Nguồn: Văn nghệ trẻ

 

Các bài khác:
· NHÀ VĂN – CHIẾN SỸ NGUYỄN THI
· LẬT LẠI MỐI TÌNH 'TRIỆU ĐÓA BÔNG HỒNG'
· SỰ NGHIỆP TRƯỜNG CA CỦA THU BỒN
· TIỂU THUYẾT TRẺ- VẮNG BÓNG NHỮNG SUY TƯ LỚN
· 'SỢI TÓC HAI MÀU' CỦA VƯƠNG TRỌNG
· THI SĨ THIÊNG LIÊNG - POETA SACER
· NGUYỄN TRỌNG TẠO - YÊU VÀ GHÉT, ĐỐI LẬP VÀ SONG HÀNH
· LÊ CÁT TRỌNG LÝ THÈM ĐIÊN
· TRẦN ĐÌNH SỬ- NGƯỜI THỒ CHỮ
· SỰ TINH NGHỊCH CỦA CÁC NHÀ THƠ NỮ
· AI LÀ NGƯỜI VỢ TRONG BÀI THƠ “GỬI NGƯỜI VỢ MIỀN NAM” CỦA NGUYỄN BÍNH ?
· CON ĐƯỜNG CỦA CÁI ĐẸP VÀ THÁCH THỨC MỚI
· CHẤT ĐỘC HẠI TRONG HỒI KÝ CỦA NGUYỄN ĐĂNG MẠNH
· MỘT CHIỀU CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
· NGƯỜI CHĂM SÓC DI CẢO CHO LƯU QUANG VŨ
· VĂN HỌC LÀ CÁCH TỐT NHẤT ĐỂ HIỂU MỘT DÂN TỘC
· LỜI CỦA TÀN TRO (ĐỌC THƠ TRẦN TUẤN)
· NHÀ VĂN LÊ LỰU KỂ CHUYỆN 'ĐI SỨ' VĂN HỌC SANG MỸ
· ĐỖ TRUNG QUÂN- 'GIỮA GIỜ CHƠI MANG ĐẾN LẠI MANG VỀ'
· BÀ THẾ LỮ - MẸ CHỒNG TÔI

 

  
Gia đình Bích Khê