THÔNG TIN
 
CON ĐƯỜNG KÝ ỨC CỦA MỘT PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG

                          HUỲNH PHAN - LAM PHONG - HOÀI NAM

Sau lễ tưởng niệm cho 37 phóng viên quốc tế đã chết ở Campuchia, trong giai đoạn 1970 – 1975, Carl Robinson, cựu phóng viên chiến trường Việt Nam và người đồng tổ chức buổi lễ này đã nói với chúng tôi: “Tôi nghĩ đây là sự giải phóng cho những cảm xúc bị dồn nén đã bao năm. Tuy mỗi người trong chúng tôi thể hiện cảm xúc của mình theo một cách riêng”.

LTS: Còn hơn một tuần nữa là kỷ niệm 36 năm ngày kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng người ta đã cảm thấy không khí của ngày này. Và không chỉ ở Việt Nam.

Hơn hàng trăm phóng viên chiến trường đã tham gia đưa tin về cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Campuchia. Những bài tường thuật, những dòng tin nóng hổi đã từ những chiến địa đẫm máu đó lan truyền đi khắp thế giới, giúp công luận quốc tế nhìn rõ tính chất thảm khốc và vô nghĩa của cuộc chiến tranh ở bán đảo Đông Dương xa xôi này.

Đúng vào ngày này năm ngoái đã diễn ra lễ cầu siêu cho 37 phóng viên chiến trường làm cho các hãng phương Tây đã hy sinh trong khi tác nghiệp ở chiến trường Campuchia trong giai đoạn 1970-1975.

Sự kiện này cũng bắt đầu cho cuộc hội ngộ lần thứ tư, và có lẽ là lần cuối cùng, của nhóm các phóng viên chiến trường phương Tây trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2. Khác với những lần trước, cuộc hội ngộ này không chỉ diễn ra ở Sài Gòn, và không chỉ là sự chia sẻ kỷ niệm giữa những đồng nghiệp một thời. Trong dịp kỷ niệm 35 năm ngày kết thúc chiến tranh ở Đông Dương, chính họ, chứ không phải lễ kỷ niệm, mới là sự kiện truyền thông nổi bật nhất.

Từ hôm nay, Tuần Việt Nam sẽ lần lượt giới thiệu những ghi chép của phóng viên Huỳnh Phan - người lúc đó đã cùng nhóm Truyền hình Sài Gòn Tiếp Thị đi theo bước chân của nhóm phóng viên chiến trường đó suốt 10 ngày cuối cùng của tháng 4.2010.

Và xin được bắt đầu bằng việc đăng lại bài tường thuật lễ cầu siêu ở WAt Po, đã được đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị cách đây một năm, để nối tiếp cho một sự gián đoạn, vì một lý do nào đó, của loạt ghi chép này.

Bài 1: Tìm lại đồng nghiệp đã ngã xuống

Bà goá phụ Yoko Ishiyama đã không kìm nổi nước mắt và những tiếng nấc khi lễ cầu siêu bắt đầu. Nhất là khi bà thay mặt cho những người tham dự thắp nhang cho những người đã khuất, trong đó có chồng bà - Koki Ishiyama.

Mới chiều hôm trước, khi chúng tôi hỏi về những cảm xúc của bà khi đón nhận câu chuyện bất hạnh này, bà đã bắt đầu bằng một giọng nhỏ nhẹ, đều đều: "Ờ, chuyện cũng lâu quá rồi..."

Koki Ishiyama là phóng viên của hãng thông tấn Kyodo, bị Khmer Đỏ bắt và bị giết vào đầu năm 1974. Nhưng Wat Po - nơi diễn ra lễ cầu siêu - không phải là nơi ông bị giết. Đó là nơi 9 phóng viên chiến trường khác của hai hãng truyền hình Mỹ là CBS và NBC - những nạn nhân gần như đầu tiên của Khmer Đỏ trong cuộc chiến tranh kéo dài 5 năm ở Campuchia - từ giã cõi đời.

Bà quả phụ Kiko Ishiyama (áo sọc ngang) trong lễ cầu siêu.

"Ngày máu đổ" của truyền hình Mỹ

Ngày 31.5.1970, ba chiếc xe chở họ bị phục kích trên Quốc lộ 3, đoạn gần Wat Po - cách Phnom Penh chừng 70 cây số về phía tây nam. Bốn người bị trúng rốc két tắt thở ngay tại chỗ, còn 5 người còn lại bị bắt làm tù binh.

Nhưng phải một năm sau, người ta mới khẳng định rằng bên con sông nhỏ, nơi diễn ra lễ tưởng niệm, họ đã bị hành quyết sau đó một ngày. Và chỉ đến năm 1992, gia đình của bốn trong số năm phóng viên xấu số đó mới được nhận hài cốt của họ. Vì thế, ngày 31.5.1970 được gọi là "Ngày máu đổ" trong lịch sử truyền hình Mỹ.

Khúc sông nơi người ta tìm thấy hài cốt của 4 phóng viên bị giết ngày 1.6.1970.

Atsuo Kaneko, nguyên trưởng đại diện Kyodo tại Sài Gòn trong thời gian đó và cũng là người từng tham gia đưa tin chiến sự ở Campuchia, đã nhận xét: "Tại chiến trường Campuchia vào giai đoạn 1970 - 1975, phóng viên đã phải tác nghiệp gần như độc lập. Chỉ cần có một sơ suất nhỏ, do thiếu kinh nghiệm, bạn sẽ phải trả giá bằng chính mạng sống. Có hơn mười phóng viên đồng hương của tôi đã ngã xuống tại đây."

Còn Chhang Song, nguyên phát ngôn viên quân sự, rồi bộ trưởng thông tin của chính quyền Lol Nol, bổ sung thêm: "Ở Campuchia, vì cuộc chiến có thể diễn ra bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu, không lường trước được, nên linh cảm của phóng viên quan trọng hơn bất cứ sự bảo vệ nào."

Ông còn cho biết rằng sở dĩ những phóng viên nước ngoài bị hành quyết ngay sau khi bị bắt, vì Khmer Đỏ, bất cần phân giải, cứ nhất quyết cho họ là người của CIA.

Lãn công để đi tìm đồng nghiệp

Xác định năm phóng viên bị bắt ở Wat Po vào 31.5.1970 đã bị giết, và góp phần tìm ra hài cốt của họ, cũng cũng do một cựu phóng viên chiến trường - Kurt Volkert của CBS Tokyo. Hai tuần sau khi ba phóng viên của CBS (và hai của NBC) được coi là bị quân Khmer Đỏ bắt, Volkert bắt đầu đi tìm kiếm tung tích họ. Thời gian quá ngắn ngủi lần đó đã không giúp Volkert phát hiện ra điều gì, và ông lại phải quay trở lại Tokyo.

Nhưng nhìn sự trông ngóng đến vô vọng của gia đình hai đồng nghiệp người Nhật là Tomoharu Iishi và Kojiro Sakai về số phận của họ, gần một năm sau Kurt đã quyết định "lãn công" để đi tìm tung tích họ một lần nữa. "Thế là đủ rồi. Tôi sẽ không làm gì nữa cho đến khi xác định được thông tin chính xác về số phận của họ. Chúng ta đang mắc nợ các đồng nghiệp của mình, cũng như gia đình họ", Volkert nhắc lại những điều mà ông đã nói với lãnh đạo CBS ở New York.

Ảnh một số phóng viên bị giết trên chiến trường Campuchia

Volkert giải thích rằng trước sức ép của tổng hãng CBS ở New York muốn có những câu chuyện khốc liệt hơn về chiến tranh, trưởng nhóm CBS lúc đó là George Syvertsen đã phớt lờ mọi dấu hiệu nguy hiểm, kể cả những cảnh báo từ những người lính Lon Nol tại những chốt gác là không nên đi tiếp nữa.

"Lẽ ra, tôi cũng cùng chung số phận với họ, nếu tới phút chót không được giao một nhiệm vụ khác", Volkert nói trong tiếng thở dài. Ông cho biết thêm tại chính chỗ chúng tôi đang ngồi bên cạnh bể bơi của Khách sạn Le Royale, Volkert đã có cuộc trò chuyện ngắn ngủi cuối cùng, trước khi Syvertsen ra đi.

Trở lại Phnom Penh, Volkert đã một mình lần mò theo các mối, để tiếp cận với những người mà ông cho rằng có thể biết gì đó về số phận của năm phóng viên mất tích. Bất kể đó là ai, từ sĩ quan và binh sĩ quân đội chính phủ, đến nông dân, sư sãi, hoặc linh mục.

Nỗ lực và sự bất chấp hiểm nguy vì đồng nghiệp của Volkurt đã được đền đáp. Sau một tháng, Volkert đã có đủ một mớ những thông tin lẻ, để sau đó liên kết lại với nhau, ông đã đi đến một kết luận chắc chắn: "Họ đã bị hành quyết vào ngày hôm sau, 1.6.1970!"

Năm 1992, khi việc tìm kiếm người Mỹ mất tích (MIA) trong chiến tranh ở Đông Dương được bật đèn xanh do sự cải thiện quan hệ của Mỹ với những cựu thù này, Volkert đã trình toàn bộ hồ sơ mà ông thu thập được kể từ năm 1971, cả tấm bản đồ vẽ hành trình của những cựu phóng viên cho đến khi họ bị phục kích, cho Joint Task Force for MIA/KIA ở Hawaii.

"Họ đã chấp nhận đến Wat Po khai quật, bởi trong số những phóng viên bị coi là mất tích có một người mang quốc tịch Mỹ. Còn lại là một người Pháp và ba người Nhật", Volkert giải thích.

Họ đã hợp tác với với quân đội Campuchia và người dân ở khu vực Wat Po tiến hành khai quật trong vòng một tháng trời. "Chúng tôi ngăn 70 mét chiều dài sông ở đoạn đã được xác định, rộng khoảng bốn mét, bằng những bao cát, bơm cạn nước, và đào sâu hai mét. Chúng tôi đãi kỹ từng inch khối đất, như đãi vàng, và cuối cùng đã tìm ra bốn bộ hài cốt hầu như còn nguyên vẹn", Volkert kể lại.

Volkert cho biết thêm rằng ông đã rùng mình khi thấy trên mỗi hộp sọ, tại phần trán, đều có một lỗ tròn to. "Dường như họ đã bị bổ vào trán bằng cuốc chim", ông khẽ rùng mình.

Sau khi bốn bộ hài cốt được gửi đi Hawaii để xác định tên tuổi những người đã chết, Volkert đã được thông báo rằng Iishi, người đồng nghiệp Nhật của ông, không có trong số đó. Volkert bèn bốc một ít đất tại nơi khai quật, bỏ vào một chiếc hộp nhỏ bằng bạc và mang về Tokyo đưa cho vợ của Iishi.

"Đây không phải là hộp đựng tro của anh ấy. Nhưng một nhúm đất ở cái nơi mà người ta vẫn tin rằng anh ấy đã ngã xuống cũng gợi nên một điều gì đó, chị ạ", Volkert kể lại những lời ông đã nói với bà quả phụ Iishi.

Trẻ mãi như cây bồ đề trên Đất Phật

Nhiều cựu phóng viên chiến trường khác có mặt ở Wat Po sáng hôm qua cũng bốc lấy một nhúm đất. Có điều, họ không bỏ vào những chiếc hộp bạc, mà thả vào chỗ cây bồ đề vừa được trồng sau lễ tưởng niệm, bên bờ con sông lịch sử ấy.

Ông Chhang Song (đeo kính đen) cùng các cựu phóng viên chiến trường bỏ một nhúm đất vào gốc cây bồ đề.

"Thay vì xây đài tưởng niệm kiểu Á Đông, xây một bức tường, hay một sàn xi măng phẳng, để ghi tên họ, theo kiểu phương Tây, chúng tôi đã chọn cách trồng một cái cây bồ đề. Để họ trẻ mãi như cây bồ đề trên đất Phật", Chhang Song, nay là cố vấn Chính phủ Hoàng gia Campuchia và là người đồng tổ chức cuộc Hội ngộ Phnom Penh, nói.

Trên đường về, hướng dẫn viên người Campuchia, rất thạo tiếng Việt, đã giải thích cho chúng tôi rằng Wat Po có nghĩa là Chùa Bồ Đề.

Bài 2: Con đường ký ức

Con số phóng viên quốc tế và bản địa bị giết ở trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 trên đất Campuchia có thể đã lên tới 40, nếu ba phóng viên đầu tiên không may mắn rơi vào tay bộ đội Bắc Việt, vào những ngày đầu tiên của cuộc chiến. Một trong số họ đã có mặt trong lễ cầu siêu ở Wat Po. Đó là Mike Morow - người cho đến bây giờ vẫn bị trói buộc với Việt Nam bởi nhiều ký ức vui buồn khác nhau.

Kết thúc cuộc Hội ngộ Phnom Penh, vào sáng 24.4.2010 Mike Morrow cùng với ba đồng nghiệp khác lên chiếc xe buýt của hãng Caravan về TP. HCM để gặp gỡ với một nhóm phóng viên khác trong cuộc Hội ngộ Sài Gòn. Chốc chốc, ông lại ngó ra bên ngoài cửa kính xe, vẻ mặt đầy ưu tư.

Mike Morow cho biết sở dĩ ông đều từ chối lời mời tham dự những lần hội ngộ trước đó của các cựu phóng viên chiến trường ở Sài Gòn (1995, 2000 và 2005), do bị ám ảnh bởi quá khứ quá nặng nề. Năm 1990, ông đã bị trục xuất khỏi Việt Nam, trong khi đang nỗ lực đóng góp vào việc cải thiện quan hệ, không chỉ về kinh tế, giữa hai cựu thù. Cho tới bây giờ, Mike vẫn chưa biết đích xác tại sao ông lại bị cư xử như vậy. (Tuần Việt Nam sẽ kể lại câu chuyện này trong một số tới.)

"Nhưng lần này, tôi đã không từ chối Carl Robinson nữa. Bởi cuộc hội ngộ lại bắt đầu ở Campuchia - mảnh đất có một hấp lực đặc biệt với tôi, hay, nói cách khác, đối với tôi điều kỳ diệu đã xảy ra", Mike nói.

"Tôi là một trong những phóng viên đầu tiên bị bắt ở Campuchia, trong cuộc chiến kéo dài năm năm này", Mike nói. Hai người còn lại là Richard Dudman của St Louis Post-Dispatch và Elizabeth Pond của Christian Science Monitor.

Mike Morrow hồi tưởng lại kỷ niệm với bộ đội Bắc Việt cách đây 4 thập kỷ tại một quán ăn ở Bà Vẹt.

Vào một ngày cuối tháng 3.1970, khi đang lái chiếc xe hiệu International Harvest Scout - một chiếc xe địa hình (SUV) đời đầu - trên Quốc lộ 1, từ Phnom Penh đến Bà Vẹt, biên giới với Việt Nam, với hy vọng tìm thấy một đơn vị quân đội Mỹ đang tác chiến ở khu vực này, Mike cùng hai đồng nghiệp nói trên đã rơi vào tay bộ đội Bắc Việt.

"Đơn vị này đã gặp phải sự chống trả của đối phương và đã rút mất trước khi chúng tôi tới đó. Còn chúng tôi đã chạy vượt quá đường ranh giới để chạy sang vùng do Khmer Đỏ kiểm soát", Mike kể lại.

Sống sót nhờ rơi vào tay bộ đội Bắc Việt

"Tôi đã may mắn sống sót nhờ rơi vào tay bộ đội Việt Nam, chứ không phải Khmer Đỏ, và tôi chịu ơn họ vì điều này", Mike nói.

Tuy nhiên, trước đó, Mike đã bị du kích Khmer Đỏ và dân làng gần đó đánh cho gần chết. Người chỉ huy đơn vị bộ đội Việt Nam có nói với Mike rằng ông ta đã kỷ luật người cấp dưỡng, vì mặc dù có mặt ở hiện trường mà anh ta lại không can thiệp, khi các phóng viên bị đánh.

"Tôi cho rằng đây là một biểu hiện của tính chuyên nghiệp của bộ đội Bắc Việt, khi họ tôn trọng những nguyên tắc đối xử với tù binh trong chiến tranh. Bởi lúc đó họ coi chúng tôi có thể là những kẻ do thám", Mike buột lời khen những người Việt đã bắt ông.

Cùng các phóng viên chiến trường hội ngội tại Campuchia

Tuy nhiên, Mike và hai đồng nghiệp của mình vẫn bị giải đi hết chỗ này đến chỗ khác, và bị thẩm vấn khá nhiều.

"Họ giải thích rằng làm thế là để tránh những cuộc đột kích nhằm giải cứu tù binh của quân đội Mỹ", Mike - người trở thành người phiên dịch bất đắc dĩ cho các đồng nghiệp của mình, bởi vốn liếng tiếng Việt tươm tất của mình sau 3 năm sống ở Chợ Lớn - kể lại.

Mike cùng hai đồng nghiệp Mỹ được thả sau 40 ngày.

Họ chỉ quyết định trả tự do cho chúng tôi, khi đã thật sự tin rằng chúng tôi chỉ là những phóng viên đưa tin chiến sự thuần tuý", Mike nói.

Cánh tay ngoại giao và vai trò của Phạm Xuân Ẩn?

Về lý do tại sao được thả , Mike không biết thật đích xác. Khi được chúng tôi hỏi liệu có bàn tay của người đồng nghiệp Phạm Xuân Ẩn từ Tạp chí Time hay không, Mike chỉ khẽ nhún vai.

"Tôi không chắc lắm. Trước đó, tôi đã có lần gặp Phạm Xuân Ẩn tại văn phòng của Time ở Sài Gòn, nhưng ông  không hề để ý đến một phóng viên trẻ như tôi", Mike nói.

Nhưng có hai điều Mike biết rõ.

Thứ nhất, trợ lý người Việt của Elezabeth Pond sau đó kể lại với Pond rằng, khi anh ta đang uống cà phê sáng tại Givral, có một người đến ngồi cùng bàn với anh ta, và tự giới thiệu là người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. "Ông ta hỏi rất nhiều về Sếp và hai đồng nghiệp", người trợ lý này kể lại.

"Tức là người ta đang thẩm tra về mục đích chuyến đi của chúng tôi", Mike suy luận.

Thứ hai, Richard Dudman nguyên là một phóng viên khá tên tuổi ở Washington DC, chuyên theo dõi Nhà Trắng, và có quan hệ rất tốt với Đại sứ Liên Xô và Đại sứ Nam Tư tại Mỹ.

"Và điều đầu tiên vợ ông ta làm khi chúng tôi bị bắt là đến gặp hai vị đại sứ nói trên để nhờ họ giúp, và nhận được lời hứa sẽ làm hết sức từ họ", Mike kể tiếp.

"Nếu như có bàn tay của giới ngoại giao Nga và Nam Tư trong vụ này, tôi nghĩ có thể có cả sự can dự của Phạm Xuân Ẩn", Mike tiếp tục dòng suy tưởng của mình. Ông cho biết thêm trong thời gian họ bị bắt có một chiếc xe Honda chở một nhân vật "bí ẩn" từ Sài Gòn sang, và nói chuyện rất lâu với những người giam giữ họ.

Tình bạn với những người canh giữ

"Khi được tự do, điều khiến tôi lo lắng nhất là liệu hai quân nhân, một Việt Nam và một Campuchia, có nhiệm vụ áp giải chúng tôi suốt thời gian đó, có sống sót được không, bởi cuộc chiến quá khốc liệt", Mike nói giọng ngậm ngùi.

Mike còn kể rằng ngay trước khi bị bắt ông đã chứng kiến khá nhiều xác chết của bộ đội Việt Nam, và thậm chí có cả một cái xác đang cháy.

Mike với hai người áp giải mình, nhất là viên sĩ quan Việt Nam, sinh ở Phnom Penh, đã kịp trở thành những người bạn. Thậm chí, trước khi Mike được thả một tuần, khi đang di chuyển trên đường, quân đội Mỹ không hiểu vì sao đã cử trực thăng đến giải cứu.

Mike kể: "Viên sĩ quan Việt Nam đưa cho tôi chiếc khăn tay (để vẫy trực thăng), và bảo tôi chạy nhanh về phía cánh đồng lúa. Còn anh ta và người đồng đội Campuchia giương súng bắn lên trời, để rồi sẽ rút đi theo hướng ngược lại."

Có điều, sau vài loạt đạn nổ, chiếc trực thăng vọt lên cao, rồi quay đầu chuồn thẳng. Thế là là họ lại tiếp tục hành trình của mình như cũ.

Sự biết ơn của Mike về cách ứng xử của các sĩ quan Việt Nam đã được thể hiện trong bài viết đầu tiên, trong loạt 7 bài viết,  sau khi ông trở lại Sài Gòn. "Nhận xét này của tôi đã không được chính quyền Sài Gòn đánh giá cao. Và, có lẽ, đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến tôi bị họ trục xuất khỏi miền Nam Việt Nam cuối năm đó", Mike khẽ nhún vai.

Một nguyên nhân khác, theo Mike, là mối quan hệ của ông với phong trào đấu tranh vì hoà bình ở Sài Gòn lúc đó. "Còn cái cớ mà nhà cầm quyền Sài Gòn đã sử dụng để trục xuất tôi  là việc tôi phanh phui ra một vụ tham nhũng của bà vợ một viên tướng, thông qua một vụ buôn bán sắt phế liệu", Mike nhếch mép cười.

Sau này, hễ có dịp, nhất là vào nửa sau những năm '80, khi trở lại Việt Nam với tư cách một thành viên Amcham ở Hồng Công để thúc đẩy giao thương giữa doanh nghiệp hai nước, Mike luôn hỏi về tung tích những viên sĩ quan đó.

"Tôi thực sự không hiểu tại sao người ta lại từ chối cung cấp cho tôi thông tin về những ân nhân của mình. Do quá khứ của tôi phức tạp, hay quá khứ của họ cũng có vấn đề?", Mike ngước nhìn người viết.

Mike có chiếc mũ bộ đội mang về làm quà trong chuyến đi này, nhưng tung tích về các ân nhân ông không tìm được.

Chỉ đến khi gặp Nguyễn Thế Cường, một cán bộ ngoại giao, trong chuyến đi thăm địa đạo Củ Chi của nhóm phóng viên quốc tế mấy ngày sau đó, Mike mới bớt băn khoăn. Cường đã chợt nhớ ra rằng nhân kỷ niệm 25 năm ngày miền Nam Giải phóng, Trung tâm Báo chí Nước ngoài (Bộ Ngoại giao) đã nhận được một bức điện của Mike nhờ hỏi thăm về tung tích ân nhân của mình.

"Ở Việt Nam, nếu không biết phiên hiệu đơn vị của những sĩ quan đó thì việc lần ra tung tích là gần như không thể", Cường giải thích với Mike.

Bài 3: Hội ngộ Sài Gòn - những kỳ vọng...

Carl Robinson rất đắc ý khi đặt tên cho những tour đưa người Úc sang VN là Monkey Bridge (Cầu Khỉ) Tours. “… Sẽ rất khó đi và trơn trượt, bạn có thể ngã xuống nước bất cứ lúc nào. Nhưng chúng tôi có kỹ thuật và sự am tường để giúp khách hàng nối liền khoảng cách giữa hai nền văn hóa”. Carl và nhóm phóng viên chiến trường phương Tây không ngã khi quay lại vùng sông nước Cửu Long, nhưng có những lúc lại bị kẹt đường ở giữa Sài Gòn.

Cuộc Hội ngộ Sài Gòn của các cựu phóng viên chiến trường vào năm 2005 đã từng được coi là lần cuối. Bởi đa số họ đều đã bước sang tuổi lục tuần, và hàng tháng đều có người ra đi.

"Nhưng sự ra đi của Hugh Van Es vào tháng 5 năm ngoái đã khiến chúng tôi quyết định sẽ tổ chức thêm một cuộc hội ngộ nữa vào dịp kỷ niệm 35 năm kết thúc chiến tranh. Không chỉ ở Sài Gòn và không chỉ là sự kiện của riêng cho chúng tôi nữa", Carl Robinson - cựu phóng viên của hãng tin AP, và cũng là người đưa ra ý tưởng này - giải thích với người viết cách đây một năm tại Khách sạn Le Royal, vào ngày đầu tiên của cuộc Hội ngộ Phnom Penh.

Phóng viên ảnh người Hà Lan Hugh Van Es là người đã chụp bức hình lịch sử về cuộc di tản bằng trực thăng của người Mỹ khỏi Sài Gòn vào ngày 29.4.1975, được coi là biểu tượng của sự sụp đổ của Sài Gòn.

Ngay từ đầu năm 2010, Carl đã thông báo với các thành viên khác của cộng đồng mạng của các cựu phóng viên chiến trường Đông Dương rằng đây không chỉ thuần tuý là "cuộc hội ngộ cuối cùng từng được tổ chức ở Sài Gòn", mà còn là "một cơ hội cuối cùng để được công chúng công nhận tại một đất nước Việt Nam đang hiện đại hoá nhanh chóng".

Theo dự kiến, khác với 3 lần trước, lần này ở Sài Gòn họ mong muốn tổ chức một buổi giao lưu với công chúng, bao gồm cả người Việt lẫn người nước ngoài, tại Khách sạn Caravelle, kết hợp với một cuộc triển lãm ảnh.

"Hai người hoặc hơn trong số chúng ta sẽ là người dẫn chuyện, hay thậm chí có cả nhóm tranh luận, để thu hút sự chú ý của công chúng tham dự", Carl thông báo với các đồng nghiệp, những người chờ đợi sự kiện này với sự phấn khích cao.

Ông cho biết thêm rằng để được dễ dàng chấp nhận, họ sẽ chọn một chủ đề chung chung như "sống và làm việc ở Sài Gòn trước tháng 4.1975".

Thứ hai, họ mong muốn có một cuộc gặp gỡ lần đầu tiên với nhóm phóng viên chiến trường từ "phía bên kia".

Cả hai mong ước gần như cuối cùng của những ông bà già trên dưới 70 tuổi này đã được đặt trọn vào ông Nguyễn Tuấn, một quan chức của Sở Ngoại vụ TP HCM - người thay thế cho ông Phạm Hoàng Ân, con trai của cố nhà báo Phạm Xuân Ẩn của Tạp chí Time, đã sang Mỹ công tác.

Sự khích lệ ở Phnom Penh

Trước khi qua Sài Gòn, Carl và một số đồng nghiệp đã có những ngày đáng ghi nhớ ở Campuchea. Đặc biệt là ở khía cạnh giao lưu với công chúng.

Sau Lễ Cầu siêu ở Wat Po, trước sự chứng kiến của đông đảo dân làng và giới truyền thông quốc tế và bản địa, ngay buổi tôi hôm đó các cựu phóng viên chiến trường Campuchea cũng đã có cuộc giao lưu với công chúng, kết hợp với triển lãm ảnh, tại khách sạn Himawari. Trong số khoảng 300 khách tham dự, có không ít người Campuchia, đặc biệt là giới trẻ.

Cuộc giao lưu giữa phóng viên chiến trường và công chúng ở Phnom Penh

"Tôi đã được học nhiều về giai đoạn kinh hoàng trong lịch sử Campuchea dưới thời Khmer Đỏ ở trường phổ thông, và được xem một số tấm ảnh được in trong sách. Nhưng, việc được tham dự triển lãm ảnh như thế này, và được nghe chính những phóng viên chiến trường kể về sự khốc liệt mà họ đã cảm nhận được giai đoạn trước đó, với tôi chính là những trang sử sống và để lại ấn tượng lâu dài", Chanda, 23 tuổi, hiện đang làm cho hãng viễn thông Wing ở Phnom Penh, nói với người viết.

Tin tốt và tin xấu

Trên đường từ Phnom Penh về Sài Gòn, khi dừng chân tại Bà Vẹt, người viết có hỏi Carl về những thông tin cập nhật cho chương trình Hội ngộ Sài Gòn.

Carl nheo mắt hóm hỉnh hỏi lại: "Good news first, or bad news first? There are two bad news, and a long list of good news" (Tin tốt trước, hay tin xấu trước? Có hai tin xấu và một danh sách dài những tin tốt.)

"Vậy thì tin xấu trước đi", người viết đáp.

Carl cho biết cuộc giao lưu giữa các cựu phóng viên chiến trường với công chúng sẽ không diễn ra. Lý do: Sở Ngoại vụ không xin được giấy phép. Chính vì thế, cuộc triển lãm ảnh cũng sẽ chỉ diễn ra giữa các phóng viên chiến trường với nhau.

Thứ hai, cuộc gặp gỡ với các cựu phóng viên chiến trường từ "phía bên kia" cũng không thực hiện được. Lý do: Trong dịp nghỉ lễ kéo dài tới 4 ngày, những người này đều có kế hoạch đi chơi xa cùng gia đình, hay bạn bè, từ trước rồi.

"Anh tin vào những lời giải thích đó không?", Carl hỏi người viết.

"Ờ, có thể", người viết trả lời sau một thoáng ngập ngừng.

Carl phẩy tay rồi, kể ra một loạt tin tốt: Đó là những chuyến tham quan, từ Khu Công nghệ cao, đến địa đạo, bảo tàng, toà thánh. Đó là những cuộc gặp, từ lãnh đạo thành phố, đến cựu chiến binh, nhân chứng lịch sử ...

Carl Robinson và Mike Morrow, đại diện cho nhóm Hội ngộ Sài Gòn, dự bữa tiệ tri ân nhưng người nước ngoài có công lao với Việt Nam trong 65 năm qua.

Tất cả đều nằm trong chương trình thiết kế chung cho đoàn phóng viên quốc tế, cứ 5 năm, theo thông lệ, lại được lãnh đạo thành phố mời vào để chứng kiến và đưa tin về những thay đổi tích cực của Sài Gòn, kể từ ngày giải phóng. Mọi người tham gia đều được đưa rước miễn phí, và có cả những bữa tiệc mời. Dường như, lãnh đạo thành phố muốn có một sự bù đắp nào đó.

Với tư cách nhà tổ chức, Carl có thể đã không vui.

Đưa người Úc, trong đó có các cựu binh chiến tranh Việt Nam, sang đất nước Đông Nam Á này, Carl Robinson rất đắc ý khi đặt tên những tour đó là Monkey Bridge (Cầu Khỉ) Tours.

"Đối với khách hàng, chúng tôi nói với họ rằng gắn kết hai nền văn hóa Việt và phương Tây cũng giống như đi trên cây cầu khỉ. Sẽ rất khó đi và trơn trượt, bạn có thể ngã xuống nước bất cứ lúc nào. Nhưng chúng tôi có kỹ thuật và sự am tường để giúp khách hàng nối liền khoảng cách giữa hai nền văn hóa", Carl nói.

Nhưng đối với chuyến trở lại Sài Gòn năm ngoái của nhóm phóng viên chiến trường phương Tây, kỹ thuật đó dường như là chưa đủ. Carl và du khách của ông không ngã khi quay lại vùng sông nước Cửu Long, nhưng có những lúc bị kẹt đường ở giữa Sài Gòn.

Sự bù đắp ngoài mong đợi

Thế nhưng, đối với không ít người, sự thay đổi chương trình này lại có những ý nghĩa riêng của nó. Edie Lederer là một trong số đó.

Nhà thơ - nhà báo Nguyễn Duy đang chia sẻ trải nghiệm ở Khe Sanh cùng Raymond Wilkinson, cựu phóng viên hãng tin UPI, tại cuộc gặp giữa phóng viên chiến trường hai phía vào tối 1.5.2010

Trong bài viết về cuộc hội ngộ sau đó ít ngày, bà đã viết: "Lần đầu tiên, những người tham gia cuộc hội ngộ bị bám theo bởi một nhóm phóng viên trẻ Việt Nam. Và cũng là lần đầu tiên, chính phủ Việt Nam chính thức ghi nhận sự hiện diện của chúng tôi, bằng việc mời một số người trong chúng tôi ngồi trên khán đài xem duyệt binh nhân dịp 30.4, và tổ chức môt bữa tiệc vào tối 1.5 cho chúng tôi và 5-6 phóng viên đưa tin chiến tranh từ phía bên kia."

Về nhận xét đầu tiên, người viết hoàn toàn chia sẻ với Edie, qua sự chứng kiến các đồng nghiệp khác tác nghiệp, cũng như trải nghiệm riêng của mình. Có đến một nửa các cuộc phỏng vấn được người viết thực hiện trên xe buýt, hoặc bên lề những sự kiện do thành phố tổ chức.

Về nhận xét thứ hai, người viết xin được bổ sung, nếu không nói là nhấn mạnh thêm. Bởi sự ghi nhận chính thức đối của chính phủ Việt Nam đối với sự hiện diện của họ không chỉ dừng ở mấy chỗ ngồi trang trọng trên khán đài.

Trong bữa tiệc tối hôm trước, với mục đích tri ân những người nước ngoài có công lao đối với Việt Nam trong suốt 65 năm qua, người ta thấy sự có mặt của một số người trong nhóm Hội ngộ Sài Gòn. Bên cạnh những người Nga, người Pháp, người Cuba, hay những nhân vật nổi tiếng như cựu Thủ tướng Nhật Kiichi Miyazawa, hay Lady Burton.

Còn đối với nhận xét thứ ba, người viết xin được đính chính. Bữa tiệc vào tối 1.5 năm ngoái, với sự tham gia của một nhóm nhỏ phóng viên chiến tranh của Việt Nam, hoàn toàn không phải là một món quà bất ngờ, tuy hơi muộn, từ phía nhà chức trách Việt Nam, dành cho Carl và những đồng nghiệp của mình.

Đây hoàn hoàn là một nỗ lực mang tính cá nhân. Và bản thân cuộc gặp đó là một câu chuyện thú vị mà người viết sẽ kể cho độc giả vào đúng dịp kỷ niệm một năm ngày nó diễn ra.

Kỳ 4: Những thiên thần của Laurie

Nguồn: TuanVn.net

 

Các bài khác:
· CHUYỆN LOẠN LUÂN GHÊ SỢ CỦA CÁC ÔNG VUA
· PHIÊN TÒA LỊCH SỬ XỬ ÁN PHAN BỘI CHÂU
· VỀ CHUYỆN BẢN SẮC, BẢN SẮC DÂN TỘC
· NHẠC SĨ TRÂN HOÀN VÀ MÙA XUÂN CHO HUẾ
· ĐỀN THIÊNG NHẬT BẢN XUẤT HIỆN NHỮNG LỜI SẤM TRUYỀN NGÀY TẬN THẾ?
· PHAN CHU TRINH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG VĂN HÓA HÔM NAY
· 35 NĂM ĐẬM NGHĨA THẦY TRÒ
· CHUYỆN CÔ "LƯỢM" GIẢ, ÔNG THỨ TRƯỞNG MẤT TIỀN VÀ THIẾU TÁ CÔNG AN QUẬY
· BÍ ẨN LỜI NGUYỀN CHÙA THIÊN MỤ
· NGÀY HỘI KHÔNG CƯỜI, KHÔNG KÈN TRỐNG
· VÌ SAO PHÙNG HƯNG ĐƯỢC TÔN XƯNG BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG ?
· GIANG HỒ BI HÀI KÝ
· LINH HỒN TRONG VĂN HÓA NHẬN THỨC VIỆT NAM
· THÁNH THẬT & THẰNG ĐẦN
· CHUYỆN BÍ ẨN QUANH CHIẾC GIẾNG CỔ Ở HÀ NỘI
· NGUYỄN TÀI CẨN - '1 CON NGƯỜI MẤT ĐI, 1 THẾ GIỚI MẤT ĐI'
· NHÀ THƠ THANH THẢO – “VÌ NHỮNG TRÁI TIM BÉ BỎNG”
· NGƯỜI ĐÀN ÔNG 39 VỢ VÀ 127 NGƯỜI CON
· LỘN XỘN TIẾNG VIỆT THỜI GIAO LƯU VĂN HÓA
· BÌNH VÔI CỔ CÓ HÌNH NAM NỮ GIAO HOAN

 

  
Gia đình Bích Khê