THÔNG TIN
 
LÊ HUY MẬU, THƠ VÀ TÌNH

(cảm nhận về thơ & tình Lê Huy Mậu)

TRỊNH SƠN


Trịnh Sơn

Trịnh Sơn

 

1.

Nhà thơ Rainer Maria Rilke từng nói, đại ý: Khi bạn mới làm thơ, cớ dại dột mà “nhảy” vào thơ tình! Cái lý của nhà thi sĩ vĩ đại là, những chủ đề tưởng như bao la vô tận như tình yêu lứa đôi cùng những hệ lụy kéo theo của nó như thất tình, nỗi nhớ, tuyệt vọng,… dễ khiến người ta sa lầy vào vực thẳm của chính mình – hoặc tệ hơn, đôi khi xui người ta bước vào dấu chân những người đi trước mà chẳng thể nào thoát ra được. Ở Việt Nam, trong nền thi ca tiếng Việt, dường như lý lẽ của Maria Rilke còn quá xa lạ. Hầu như các cô cậu “thi sĩ học trò” ngay từ những vần thơ đầu tay của họ đã “bập” ngay vào cái thế giới huyễn mộng của tình ái mộng ít mơ nhiều. Từ “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu trở về sau, không hiếm những nỗi niềm “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” lặp đi lặp lại – lặp một cách vô ý thức – lặp nhiều và lặp lâu đến nỗi người ta vẫn tưởng sự huyền hoặc photocopy kia là của riêng người ta, là sáng tạo “độc nhất vô nhị” của người ta.

Ấy, cũng là dễ hiểu – bởi có con người nào không mảy may rung động trước bình minh của trái tim. Một tà áo dịu dàng thướt tha, một ánh mắt lay láy trên cánh chim thời gian vợi vời, một mảnh mai cong cong e ấp… Nhất là với thế giới quan Á Đông – tự giải phóng bản thân và được giải phóng là một khoảng cách quá xa để một tâm hồn “chân cứng đá mềm” bước tới và vượt qua những thử thách của cái tôi vốn duy ngã.

Trở lại phong trào thơ mới, thơ kháng Pháp, thơ chống Mỹ (chủ yếu ở miền Bắc) và kể cả thơ “bao cấp”, thơ thời kỳ “đổi mới” – những nhiệm vụ đặc trưng từng giai đoạn đè nặng lên ngòi bút các nhà thơ – trong đó, có những nhiệm vụ cụ thể, như: giải phóng cái tôi, cải cách Việt ngữ, chữ nghĩa cũng là mặt trận, đả phá thù địch, thể hiện quan điểm (nhân sinh quan, chính trị, tư tưởng, chế độ…), bảo vệ một hoặc nhiều lý lẽ chẳng đặng đừng,…; và rất ít những nhiệm vụ khó có thể hình dung và dường như xuất phát từ vô thức sáng tạo: phát hiện khoảng tối/sáng/mờ của cá nhân, định nghĩa lại một số giá trị đạo đức và mỹ cảm, mở con đường cô đơn và cô độc cho riêng cái đẹp hướng tới chân trời, phác thảo hy vọng và tuyệt vọng về nguồn gốc cũng như thế giới trước sau của hiện tại, phát ngôn tiên tri về tương lai và không loại trừ cả về một quá khứ sớm muộn nào đó,… Thơ Việt Nam – dung dăng dung dẻ thừa hưởng gia tài kếch xù từ kho tàng chữ Hán, chữ Nôm và ung dung đi vào bế tắc. Hiếm hoi, một vài người thơ tự phá vỡ chính bản thân mình, tự phá vỡ thế giới riêng tư của mình, và đi vào ngục tối của mù mê uẩn ức thi ca. Có thể kể được in ít tên tuổi ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam trước và sau ngày thống nhất. Mặc dù, Nàng thơ với mỗi nơi có khác, mỗi thi sĩ có khác – nhưng, thi ca khi đã được cấp phát giới tính, nhan sắc cùng số hiệu – thật khó lòng để sống và thực sự sống – như một sinh thể tự giác. Nàng trở thành bức tường cao chất ngất – xây bằng bạo liệt định kiến và bạo lực tâm tư. Những tâm hồn phong phú nhất, tài ba nhất, hiên ngang nhất – một khi tìm thấy nàng – sờ vào gấu váy nàng cũng phải bật khóc vì sự bế tắc khôn nguôi. Đa phần các thi sĩ cam tâm chết đứng lẫm liệt dưới chân Nàng thơ. Chỉ có vài người duy trì mãnh liệt sự chống phá tới cùng, không tin bức tường lạnh lẽo kia là Nàng thơ – mà quay lại.

Quay đầu không thấy bờ!

Quay đầu, chẳng phải là bước ngược con đường đã qua. Mà, là bước tới một con đường khác.

Con đường vẫn là con đường và sẽ dẫn tới một bức tường nữa. Cũ hoặc mới. Đã biết hoặc chưa biết. Chính những “thi sĩ tử sĩ” khi nhận ra điều ấy, chúng ta mới có được những cái tên ngại ngùng bất sinh bất tử và không ngừng sinh tử ngập ngừng cho đến muôn nay và mai sau.

2.

Lê Huy Mậu đã tìm gặp bức tường của mình bao giờ?

Can đảm đoạn tuyệt với những hình tượng đồ sộ – can trường đi vào những tiểu tiết đơn sơ và giản dị, là điểm đặc biệt làm nên dấu ấn chàng thi sĩ gốc Nghệ – quê hương của đại thi hào Nguyễn Du và “bà chúa thơ Nôm” họ Hồ – trên con đường lang bạt kỳ hồ mỹ cảm. Với sáu tập thơ gieo trên mảnh đất tình người, Lê Huy Mậu đã ươm mầm và ấp ôm chăm sóc lẻ loi cây đời, như ông từng thú nhận:

“Người ta bảo vầng trăng giống người đàn bà đẹp

Bao nhiêu nhà thơ đã từng ca ngợi công dung ngôn hạnh của vầng trăng

Với thơ ca ta là người đến muộn

Để bây giờ ngồi nhặt mảnh trăng tàn”

(Trăng khuyết – Cảm ơn mưa phùn – NXB Văn học 2001)

Phải chăng, chính khi người ta thảnh thơi nhìn nhận thi ca, nhìn nhận mối quan hệ của cái tôi trong tôi với thi ca, nhìn nhận sợi dây nối vẻ hào nhoáng tức thời của thi ca với trường liên tưởng xung quanh nó – người ta đã “ngộ” được vị trí thật và ảo của hai bàn chân mình trên mặt đời vô định:

“Nhúng ống thổi vào nước xà phòng

Thổi ra chùm bong bóng

Thế là thành trò chơi”

(Trò chơi – Cảm ơn mưa phùn – NXB Văn học 2001)

Trò chơi – Trời cho! Duyên chữ cũng như bao cái duyên trên đời – chớ cưỡng cầu. Đến tự nhiên và đi tự nhiên:

“Cô yếm thắm chăn bò mù chữ

Để một anh trai quê sờ được vú

Hoàng hôn quất từng cơn gió bấc

Hỡi anh trai quê trên núi ngày nào…”

(Bà cụ quét lá thông trên núi Chung – Cảm ơn mưa phùn – NXB Văn học 2001)

Tôi chưa từng đến núi Chung – một địa danh nhiều nỗi niềm của người xứ Nghệ. Nhưng, vớ được chút chuyện xưa, cứ ngỡ mình đã từng qua nơi ấy. Có khi, mình là “cô yếm thắm” đương mắc cỡ đỏ mặt với bàn tay nhuyễn mộng “tình là gì?”; có khi, mình là “anh trai quê” dư dả núi đồi mà thèm khát núi đồi xa lơ; lại có khi, mình là đứa con chưa vội ra đời trên dòng bảng lãng thế thái nhân tình lá non lá xanh lá vàng lá khô chực chờ nhát chổi đa đoan;… Tôi bội bạc với lòng tôi tơ tưởng. Ai chung thủy cùng hạnh ngộ bốn phương trời?

Thơ Lê Huy Mậu là thơ ngụ ngôn? Ông chán ngán cái sự quy nạp cuộc đời. Cứ để, đời dung nạp mình và thơ dung thứ mình. Có lẽ vậy, nền tảng thơ của chàng thi sĩ một thời vào chiến trường với chiến công oanh liệt nhất là bắn được con gà rừng có bộ lông rực rỡ sắc màu – không có những sự nắm bắt chữ nghĩa đến chật vật, cố công tu từ cho thành phép, hoặc xâu xé mổ xẻ hình ảnh đến độ chuyên nghiệp. Chi tiết của ông – là thứ chi tiết thực, là mảnh mà không vỡ của cuộc sống nguyên vẹn, là chuyên biệt bản tính con người trong lồng lộng cõi đời đầy rẫy cai trị và giáo dục, là từng tế bào không bỏ rơi máu và nhịp thở – cứ tự do vận hành và cứ tự chủ định đoạt niềm kiêu hãnh của mình trong tổng thể. Trong bối cảnh nền thơ Việt Nam ngày càng đi sâu vào cái tôi giả tạo đến giả tưởng, thứ cảm giác mơ hồ đến hồ đồ – không ngừng miệt thị ảo giác lịch sử và tâm linh, thì Lê Huy Mậu chân thành với từng khoảnh khắc thật thà và giả trá của tâm thức thời đại –sống hết mình và chơi hết mình trong vòng quay cuồng nộ tích tịch tình tang. Không kết luận, không phán xét, không truy tìm, không ban phát:

“Đã lâu lắm rồi ta chưa chân trần lội bộ. Trong mảnh vườn chỉ mấy thước vuông, chẳng có cây nào được phép lớn ở đây…”

(Quê hương – Cỏ thiêng – NXB Văn học 2005)

Thơ Lê Huy Mậu là thơ dụ ngôn? Cái vòng tròn của Omar Khayyam không bao trùm được người họa sĩ kỳ công vẽ nó, huống gì thế gian? Khoảng trống còn lại sau cuối, không hề theo lý lẽ “có là không mà không là có” của Đạo giáo Lão Trang hay Phật pháp Adiđà – mà chính là khối bản năng con người trang bị sẵn cho mình trước các tình huống viên mãn: nghèo, đói, suy thoái, khủng hoảng, chiến tranh,… Mỗi mâu thuẫn là một nguy cơ, đồng thời là kết quả – trong cuộc chính biến giữa tự tâm con người với vạn vật hữu hình và vô hình:

“Nhật thực!

Là thần lửa chăn gối với chị Hằng

Giữa ban mặt, ban ngày nên trái đất xấu hổ bưng mặt lại”

(Nhật thực – Thiếu Nữ và Mùa Đông – NXB Trẻ 1997)

Mọi cuộc chiến đã xảy ra, đang xảy ra và rình rập xảy ra giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, vùng lãnh thổ, phe phái, con người với con người, con người với đất trời vây hãm, con người thú vật, thú vật với thú vật,… – đâu là nguyên do thực sự và đâu là kết cục thực sự? Nhà nghệ sĩ, đôi khi rơi vào và bị chìm vào một cuộc chiến – làm sao để thoát ra, hoặc chiến bại thương tích đầy mình hoặc ngẩng cao đầu chiến thắng – nếu chưa nhận ra “chẳng có cây nào được phép lớn ở đây” để từ đó “xấu hổ bưng mặt lại” trước một sự thật hoàn toàn nằm ngoài vòng kìm tỏa của tri thức, trí khôn và tâm tính của mình? Lê Huy Mậu có cái nhìn thoáng qua nhưng thấu suốt một cách lệch chuẩn để định dạng từng nốt nhạc u trầm réo rắt trước mắt mình:

“Balzac

Sau mười ba ngàn năm trăm trang sách

Ông buông bút ở độ tuổi năm mươi

Chỉ sau ngày ông đính hôn lần thứ nhất trong đời

Mới vừa hơn một tháng”

(Balzac – Những bước chân – NXB Thanh niên 1999)

Thơ Lê Huy Mậu là thơ logic? Đếm và kể là hai hoạt động nuốt trộng gần hết thời gian của một con người. Đúng là gì và sai là gì? Đúng làm gì và sai làm gì? Ai đúng và ai sai? Chúa có đúng không? Hitler có sai không? Thi sĩ đã đúng và sai trong nỗi sai và đúng tâm hồn như thế nào? Là một người đọc, học và suy ngẫm triết học cả đời – hẳn là Lê Huy Mậu đã từng dằn vặt và tự tra cứu bản thân bằng rất nhiều giọng điệu của Krishnamurti mỗi khi đối diện với vần vũ sự người:

“Khi mẹ cầm cây cuốc

Cỏ trốn chui trốn nhủi ngoài đồng

Nay mẹ yên nghỉ rồi

Che nấm đất mẹ nằm là cỏ, mẹ ơi!”

(Mẹ và Cỏ – Bốn giọt nước – NXB Hội nhà văn 2011)

Với người nghệ sĩ, suy tư là hoạt động thuần khiết và u uẩn nhất – ăn dần ăn mòn từng hạt bụi cát lấp lánh cấu tạo nên thể xác và tâm hồn mình. Sự suy tư càng dữ dội, con người ta càng trẻ ra, càng nhỏ đi – xét trên phương diện đam mê và dục vọng cõi phù hoa. Từ chập chững từng bước, không loại trừ những lần sõng soài té ngã, ngẩng mặt dậy cố vươn tới niềm ngây thơ vĩnh cửu mà đấng tạo hóa chưa bao giờ cho ai thấy dung mạo đặt để vào mỗi thân phận buổi oa oa đầu tiên. Ngây thơ là khái niệm không cần chứng thực. Và nếu bị/được chứng thực, nagy lập tức nó trở thành một hiện tượng nông nổi biểu hiện chuỗi tâm lý “giả ngây thơ” triệt để. Và như thế, con người không thể có một thứ tài sản mang tên gọi “ngây thơ” trong hành trang vĩ đại trùng điệp vơi đầy. Còn lại chăng, giữ lại được chăng – khi người ta giấu mình đi trong phức hợp đa dạng và hỗn loạn chảy tràn qua bảy lỗ đặc trưng giống loài.

Sáu tập thơ của Lê Huy Mậu – kể cả những tác phẩm bỏ quên đâu đó trong miên man tao tác lòng người – không hề chứng thực điều gì ngoài sự va chạm của tâm thế thi sĩ với bốn bề hư thực. Xa hoa, đẹp đẽ, phong độ, hào phóng. Ích kỷ, viễn vông, hời hợt, lạnh lùng. Thong dong, tự tại, ảo vọng, lạc quan… Từng trải để từng trải chứ không vì bất kỳ một mục đích thường lệ nào – là từng trải “đáng yêu” nhất mà người thơ hồn nhiên trình bày khát vọng cùng nghĩ suy của mình:

“Cùng một bến sông

Con trâu đằm sóng dưới

Bầy trẻ thơ tắm mát phía thượng nguồn”

(Khúc hát sông quê – nhạc: Nguyễn Trọng Tạo, phổ từ trường ca “Thời gian khắc khoải” của Lê Huy Mậu)

Bao nhiêu tuyên ngôn về quyền tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc của con người – dẫu bằng ngữ ngôn nào, đúc kết qua cuộc chiến vang dội hay thầm lặng nào, được tự nguyện thực hành hoặc miễn cưỡng tuân mệnh, bị chống đối phá bỏ bởi kẻ mạnh hoặc vẫn chỉ là khát vọng mẫn cảm của những thân phận lẻ loi van vái – còn gì hơn nữa? Chỉ bằng ám ảnh phần nào xa xót trở về phần nào từ tâm dứt bỏ thị phi “quá nửa đời phiêu dạt con lại về úp mặt vào sông quê”, Lê Huy Mậu đã tự dựng nên bức tường mang tên Nàng thơ mà bao nhiêu tài năng thi ca vẫn miệt mài kiếm tìm:

“Con cá dưới sông

Cây trồng trên bãi

Lúa gặt rồi còn để lại rơm thơm”

(Khúc hát sông quê – nhạc: Nguyễn Trọng Tạo, phổ từ trường ca “Thời gian khắc khoải” của Lê Huy Mậu)

Ngây thơ mà không ngô nghê. E ấp nhưng chối từ ngọng nghịu. Thắn thắn và thẳng thắn đến khiêm nhường. Thơ Lê Huy Mậu không cắt đứt những mối ràng buộc bằng lưỡi dao sắc bén ngôn từ – mà dịu dàng vượt khỏi sự diễn ngôn, lập ngôn và duy ngôn bằng bước nhảy đầy hương sắc mùi vị mồ hôi con người – trong cuộc lao động chữ nghĩa thăm thẳm hồn nhiên. Sáu tập thơ không chạy trốn vòng nguyệt quế thi ca – vì vốn dĩ người thơ đã tận hưởng vinh quang tâm hồn ngay trong khoảnh khắc giao thoa cùng địa đàng tiếng nói giống nòi. Sáu tập thơ cũng chẳng bỏ rơi các nề nếp luân luật – chấp nhận một cách hòa ái và hân hoan trước mọi quy tắc có sẵn – như con chim phải hót giữa trời, như con cá phải tung tăng bơi lội và chưa bao giờ cho người ta thấy giờ khắc nó ngơi nghỉ.

Lê Huy Mậu chưa bao giờ nói về thơ của ông. Ấy là, thêm một yếu tố duy mỹ về thể loại. Rằng, thơ Lê Huy Mậu chưa từng tự mặc định hoặc cố chấp ném mình vào các khái niệm đầy khiên cưỡng là thơ ngụ ngôn, thơ dụ ngôn, thơ logic hoặc bất cứ hình thức nào.

Thơ là thơ. Và, nhà thơ là người làm ra thơ. Tam đoạn luận của thi ca chỉ có bấy nhiêu.

3.

Vẫn tưởng thế là đã đầy chén. Thế là đã mềm môi…

Quá sáu mươi năm cuộc đời, quá chập chùng chấp chới dòng người – Lê Huy Mậu lại ưỡn ngực hít sâu ngồi lên cõi bập bênh vẫn tưởng đã cũ mòn: Tình ái! Bằng tác phẩm thi ca nóng bỏng và dường như giàu có gió và lửa nhất của ông: Mời em cạn nửa chén tình.

Người đọc sẽ phải ngạc nhiên – trầm trồ ngạc nhiên, trước hết – theo như Lê Huy Mậu tâm sự – đây là những cuộc đối đáp theo cảm hứng của ông cùng thế giới thông tin đầy ắp mỗi ngày trên mạng internet – với bè bạn, đồng nghiệp, với vợ con, gia đình, người thân, với nhân dân mấy ngàn năm anh dũng kham khổ gần gũi và xa lạ, với người quen thân và kẻ chưa hề biết mặt, với đất đai xứ sở mến yêu từ mảnh đất chôn rau cắt rốn cho tới vuông cỏ vĩnh hằng… Có phần nào phóng khoáng hơn các tập thơ trước, là Lê Huy Mậu đã chuyển mấy phần từ trạng thái độc thoại hoặc suy tư cô đơn sang một cuộc hội thoại cởi mở hơn, thoải mái hơn và đa chiều hơn – với tha nhân trong thơ và ngoài thơ. Về lịch sử, về đất nước, về con người, về tình yêu, về tự do, về cái chết,… – nhưng là lịch sử đang sinh sôi, về đất nước đang chuyển mình, về con người đang vất vả thăng hoa, về tình yêu đang quặn thắt kiếm tìm vĩnh cửu, về tự do đang đổ mồ hôi sôi nước mắt trả lời câu hỏi “tự do là gì?”, về cái chết đang từ bỏ vương quốc bệnh viện và nhà xác để xây ngai vàng mới trong ý thức người còn sống,… Cái tôi Lê Huy Mậu khiêm cung hơn, và “bản lĩnh” hơn:

“Trong  giấc mơ xanh bời bời cỏ

Anh là chàng Bùi Giáng chăn dê”

(Lãng mạn cao nguyên – Mời em cạn nửa chén tình – NXB Hội nhà văn 2013)

Sau khi đã:

“Thời gian mặc áo cho người

Dại- khôn- dày- mỏng áo trời như nhau”

(Mời em cạn nửa chén tình – Mời em cạn nửa chén tình – NXB Hội nhà văn 2013)

Ước mơ làm “chàng” Bùi Giáng là ước mơ dại. Thi nhân xưa luận về chữ dại khôn, có lẽ Lê Huy Mậu đã thắm: “Ai khôn thì dại, ai dại thì sao…” – mà vẫn một lòng “đi tìm bến mê để biết mình mê” trong chữ Yêu nông nổi và thẳm sâu nhất của loài người:

“Vạn vật nháo nhào tìm yêu trong trời đất

Viên mãn tròn đầy đồng nghĩa cùng sự chết”

(Nếu một ngày – Mời em cạn nửa chén tình – NXB Hội nhà văn 2013)

Tình – dù là tình trong thơ – dẫu muôn hình vạn trạng nhưng vẫn không bao giờ bỏ quên đặc tính cố hữu và thiêng liêng nhất của mình: Buồn! Bao nhiêu cái sự buồn, ai đã từng yêu mà không đếm được: Buồn vì lỗi hẹn, buồn vì ngang trái, buồn vì đơn phương, buồn vì lầm lỡ,… Kể cả, buồn vì viên mãn – thì Lê Huy Mậu đã chạm đến cội nguồn của vòng tròn mưa mây:

“Tình một chút cho nhau

Mà vầng trăng có vết”

(Đêm trăng non – Mời em cạn nửa chén tình – NXB Hội nhà văn 2013)

Một biến thái hay là biến động lạ lẫm, dễ khiến hình dung đến màu sắc và cảm giác lạ kỳ. Vẫn bằng những chi tiết rất nhỏ, người thi sĩ công khai giới tính của mình bằng thơ – chứ không phải bằng bất cứ thứ gì khác:

“Trời hóm hỉnh khép mắt trong giây lát

Cho bản năng con người cất tiếng hát

Trong áo đêm huyền diệu giấu che ta

 

Rồi ban mai đức hạnh lại sáng lòa

Giữa dòng chảy của nhân quần tất tả

Nồng nàn ủ trong em âm thầm ngọn lửa”

(Áo đêm – Mời em cạn nửa chén tình – NXB Hội nhà văn 2013)

Ở đây, chung thủy không còn là một khái niệm. Chung thủy là một cảm giác. Ngọn lửa âm thầm giục chàng Bùi Giáng suốt đời mặc niệm với người tình mù khơi. Giục thiên nhiên lồi lõm trên tròng mắt thi sĩ. Giục đêm về sáng. Giục Lê Huy Mậu chiêm bao vớt mộng như Hư Trúc hạnh duyên cùng Mộng Cô trong khúc tình ca huyễn hoặc Thiên long bát bộ của Kim Dung. Vấn đề của Kim Dung tuy cũ, nhưng sống mãi như một liêu trai tuyệt mỹ trong lòng người vì nỗi niềm thủy chung nhà văn đã đặt ra: Yêu là gì? Yêu, có thật chỉ có trong thực tại? Hay là, yêu lấp lánh tồn tại và bền bĩ vẹn nguyên nhất trong mộng ảo? Có thể, vì trong mộng – dường như con người ta không biết và không thể nói dối – với mình và với người khác.

Mộng ở đây, là mộng của thăm thẳm khát vọng nhân tình. Là tương lai hiện diện đồng thời trong ký ức và hiện tại. Chứ không phải là chút tưởng tượng để kéo dài nỗi tham lam đối với hiện tại không như ý. Tiệm cận và chưa bao giờ giao với cái mộng của Tản Đà như lời Phạm Quỳnh: “… vì cớ sao ông (Tản Đà) khởi ra cái mộng như thế, thì biết rằng vì cái cảnh ngộ, nó đã khiến cho thân chẳng bằng mộng, nên mộng cho cam thân…”.

Yêu ở đây, là một cách thức sống trọn vẹn chứ không chỉ là một khía cạnh của sự sống. Dày mỏng “dại – khôn – được – mất” chẳng khác gì những va vấp trên con đường hướng tới hạnh phúc – là những phương tiện kinh nghiệm đắp bồi niềm tin và hy vọng. Loại bỏ hoàn toàn các thỏa hiệp “cho vừa lòng nhau” bấy lâu nhiều người vẫn lầm tưởng là tình yêu. Và, làm nên một chân dung mới cho tình yêu: Cái đẹp và nguyên lý biến thiên áp dụng cho riêng cái đẹp!

“Phan kim Liên  nàng ơi!

Xin đừng oán Ngô Thừa Ân và Thủy Hử

Xin đừng oán tài năng và con chữ

Nhan sắc nào chẳng chịu kiếp hồng nhan!

 

Dù thơ tôi không đủ dựng lại tiết hạnh nàng

Cũng xin viết lên trời ba chữ

Cho hôm nay và cho cả ngày mai nữa”

(Phan Kim Liên – Mời em cạn nửa chén tình – NXB Hội nhà văn 2013)

Không chỉ có Phan Kim Liên, nàng Kiều, Hạ Cơ – những nhân vật “huyền thoại” của văn chương kim cổ, Lê Huy Mậu còn dốc lòng đi tìm những Mộng Cô trong đời thực: “gấy Nghệ”, cô chủ quán xưa, thục nữ Hà thành, em gái quen qua chat, và kể cả, người đầu ấp tay gối cả đời… Thơ cho con người ta cái quyền tự mình làm tác giả những giấc mộng đời mình – chứ không nhất thiết phải có bàn tay nào nhào nặn lên. Đặc quyền này, không đến từ những giá trị thường thức như quyền lực, tài năng, giàu có – mà hoành tráng công khai sinh sôi và nảy nở giữa mảnh vườn suy tư và tâm niệm. Lê Huy Mậu chắc gì đã “bênh vực” cho hồng nhan họ Phan mang nặng tính cổ tích, có thể, ông đang bào chữa hoặc báo động về tình trạng lạm phát việc khai sinh ra quá nhiều “oan án tình trường” trong trái tim con người đương thời. Bởi chính mình và các nghệ sĩ đồng nghiệp. Bởi vô vàn lớp lớp sóng chữ đang ồ ạt cuốn xô rác thời đại. Kỳ vọng “dựng lại tiết hạnh” Phan Kim Liên là một tham vọng quá đỗi chân chất – tác giả Thủy Hử khi “dựng” hình tượng dâm nữ sát chồng lưu truyền muôn đời cũng tham vọng đến thế mà thôi.

Tình của Lê Huy Mậu là vậy!

Thơ tình của Lê Huy Mậu là vậy!

Không chìm đắm trong tột cùng ngữ nghĩa, mà lặng lẽ bày ra những khoảng vắng kiêu hãnh huyền tích như lỗ thủng ở nhánh xương sườn thứ bảy của Adam làm bài ca tình yêu ngơ ngác cung bậc cho mình và cho người. Nhà phê bình văn học Nguyễn Đức Tùng từng phân giải: “Trong văn chương, có hai cách nói thật. Một là thành thật, tức là tự bộc lộ trước người khác. Hai là tuyên bố về sự thật, kể lại sự thật” (Nguyễn Quang Thiều: Trở về mái nhà xưa – Thơ Việt Nam hiện đại & Nguyễn Quang Thiều – NXB Hội nhà văn 2012). Lê Huy Mậu đã chọn cách nào trong hai cách? Hoặc đã từ chối cả hai cách bằng cách nào? Tận cùng mọi sự lựa chọn là thái độ an nhiên mặc cho đối tượng lựa chọn mình. Sự thật không bao giờ thánh thót – chỉ có tình yêu sự thật thánh thót vạn dặm tâm hồn:

“Như không phải máy bay

Mà chính mình vừa cất cánh

Từ đường băng dài ngót sáu mươi năm”

4.

Thi sĩ lừng danh Aime Césaire có quan niệm rằng: “Nhà thơ là một kẻ rất già nua và rất mới mẻ, rất phức tạp và rất giản dị, ở quãng biên thùy đã từng qua lại, giữa mộng và thực, sáng và tối, ẩn và hiện, trong cơn đảo lộn bất thần ở nội tâm, nhà thơ tìm kiếm và nhận định một thứ âm điệu, tiếng mật ước để hiểu ngầm mà giao ứng và đi tới mãnh liệt” (Quan niệm và Sáng tác Thơ – Đoàn Thêm dịch). Với bảy tập thơ – như bảy dây tơ đồng của một cung đàn chưa từng định hình trong thế giới âm nhạc – Lê Huy Mậu không ngừng tấu lên những luận giải để minh xác cho thế giới mênh mông đang níu giữ tuổi tên cùng tâm trí mình bằng lực hút vô biên của tình yêu. Mật ước của Lê Huy Mậu – bổ sung vào kho tàng mật ước tình người bất tận. Đời rộng hơn và tình sâu hơn – khi biên độ của chân lý mở ra, mở ra cho đến khi người ta chỉ còn cảm nhận được nó một cách mơ hồ. Nó vẫn tồn tại khi không ai thấy. Nó vẫn miệt mài ảnh hưởng lên tri trí tất cả vật sống và vật chết trong nó – một cách âm thầm mà dai dẳng. Cho đến khi giới hạn của tâm và ý, giữa hữu hình và  vô hình chỉ còn lại trong dấu gạch nối hồn nhiên tiếng khóc chào đời và nhịp thở cuối cùng. Nội tâm của một nhà thơ không nằm ngoài quy luật sinh tồn của vạn vật. Lê Huy Mậu ghé vai gánh vác dòng chảy của thi ca thời đại mình bằng sức chịu đựng của một lông hồng nương theo ngọn gió. Mật ước tạo nên gió. Gió vẽ thành Niết Bàn. Niết Bàn của thánh thần. Niết Bàn của con người. Niết Bàn của thơ. Và, chẳng ai kể với chúng ta về thế giới từ bi lãng quên sầu khổ và chỉ có hạnh phúc như sách xưa truyền dạy.

Mặc may, thi sĩ dấy thân mình trong hãi hùng sướng khổ để chỉ ra một chữ tình tàn phá càn khôn.

Rainer Maria Rilke không sai. Các nhà thơ của chúng ta không sai. Phải chăng, cái đúng đã mang thơ vào đúng chỗ của thơ. Không cần ai đặt để, ngợi ca hay chỉ trích.

Lê Huy Mậu đã tìm thấy bức tường của mình? Nhà thơ sẽ làm gì? Câu hỏi này, có lẽ, cũng chỉ có thơ mới tự trả lời bằng những thanh âm vang vọng thăm thẳm cùng thi sĩ trong nỗi cô đơn thầm kín chẳng bao giờ rõ mặt.

Núi Dinh, 19/04/2013

Nguồn: nguyentrongtao.org

 

Các bài khác:
· RA GẠC MA, HÓA THƯ GỬI ĐẤNG SINH THÀNH
· NHÀ VĂN HÓA LÊ QUÝ ĐÔN - ĐA ĐOAN NHẬP THẾ
· SỰ THẬT VỀ NGƯỜI VỢ 'BIỀN BIỆT' 20 NĂM CỦA VĂN HIỆP
· GIẾNG LÀNG XƯA TRONG THỜI HIỆN ĐẠI
· PHẢI CHĂNG CAO BÁ QUÁT LÀ CHA ĐẺ CỦA HOÀNG CAO KHẢI?
· DẤU TÍCH MIẾU THỜ NGUYỄN HOÀNG Ở GIO LINH, QUẢNG TRỊ
· NHỮNG DÒNG THÁC KỲ LẠ TRÊN THẾ GIỚI
· LẠ LÙNG NHỮNG KỲ QUAN THẾ GIỚI
· PHƯƠNG PHÁP MỚI TRỊ BỆNH UNG THƯ VÀ CÁCH ĐỀ PHÒNG
· NGUYỄN HẢI KẾ - MỘT NHÂN CÁCH, MỘT TÀI NĂNG, MỘT NGƯỜI THẦY
· TIẾT LỘ VỀ HOA HẬU ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM
· RA MẮT TẬP THƠ “BÀI CA CON DẾ LỬA” CỦA NGUYỄN NGỌC HƯNG
· THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM THƠ-NHẠC HUỲNH VÂN HÀ
· HAI GIAI NHÂN CỦA THI SĨ NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
· HUYỀN THOẠI VỀ 'RÙA THẦN' NẶNG NGHÌN KÝ DƯỚI LÒNG SÔNG HƯƠNG
· NGUYỄN NỄ – BẬC KỲ TÀI
· CA KHÚC DA VÀNG TRONG ĐÊM NHẠC TƯỞNG NHỚ TRỊNH CÔNG SƠN 2013
· TÁC GIẢ TIỂU THUYẾT 'VÀ NƠI ĐÂY BÌNH MINH YÊN TĨNH' QUA ĐỜI
· NGẮM 'GƯƠNG' PHỤ NỮ XỨ VIỆT
· GS NGUYỄN TÀI CẨN- MỘT TÀI NĂNG TRONG BAO NIỀM CAY ĐẮNG VÀ VINH QUANG

 

  
Gia đình Bích Khê