Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_ultu3bqtdb8cnfb0gs7v0i5nd7, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          THÔNG TIN
 
TRUYỀN THUYẾT THẠCH TƯỚNG QUÂN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ ĐÁ

Nguyễn Huy Bỉnh

 

Truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa tổ hợp và thành tố; nếu tín ngưỡng với tư cách là một tổ hợp hiện tượng văn hóa thì truyền thuyết là thành tố cấu thành và tác động đến tổ hợp ấy. Do vậy, giải mã mối quan hệ này sẽ góp phần lý giải về một hiện tượng văn hóa truyền thống của cộng đồng cư dân sinh tồn trong không gian văn hóa, xã hội của mỗi vùng đất và tộc người.

Nghiên cứu truyện kể dân gian trong mối tương quan với tín ngưỡng thờ đá ở Việt Nam đã được tiến hành qua các công trình, bài viết của một số tác giả. Người để lại dấu ấn đậm nét nhất khi nghiên cứu về tín ngưỡng thờ đá phải kể đến Leopold Cadiere, trong công trình Văn hóa tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt(1) sau khi phân chia làm bốn nhóm đá thờ, thứ nhất là nhóm đá hiểm hóc, thứ hai là nhóm đá linh gọi là bụt, thứ ba là nhóm những viên đá hộ mệnh, thứ tư là nhóm thần đá, ông đã có những lý giải và nhận định hết sức thuyết phục về tín ngưỡng thờ đá của người Việt, đáng chú ý là bàn về mối quan hệ giữa tục thờ đá với truyện kể dân gian Leopold Cadiere cho rằng, các huyền thoại về thần đá có khởi nguồn từ tín ngưỡng thờ đá. Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh trong công trình Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á(2) và nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh trong công trình Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam(3) đã đề cập đến mối quan hệ giữa tích truyện Man Nương và tín ngưỡng thờ đá qua hiện tượng thờ cúng Thạch Quang Phật. Trong bài viết Thử nhận diện dấu vết tín ngưỡng Chăm qua nhóm truyện cổ người Việt ở Thuận Hóa(4), tác giả Hồ Quốc Hùng đã cố gắng giải mã các lớp tín ngưỡng thờ đá tồn tại trong nhóm truyện kể dân gian, từ đó nêu lên đặc trưng nhận thức trong tư duy người cổ đại. Tác giả Trần Thị An trong bài viết Những biểu tượng không gian thiêng trong truyền thuyết dân gian người Việt(5) nhận định rằng, đá là sự sống trong trạng thái tĩnh và truyền thuyết còn lưu giữ nhiều hình ảnh về đá. Tác giả Phan Xuân Viện đã giải mã sự ám ảnh của tín ngưỡng thờ đá trong nội dung truyện cổ các dân tộc Nam Đảo qua phần viết về Môtíp đá thiêng/ hóa đá và tín ngưỡng thờ đá trong truyện kể dân gian Nam Đảo(6). Nguyễn Việt Hùng trong chuyên luận Sự tích vọng phu và tín ngưỡng thờ đá ở Việt Nam(7) cũng đã lý giải về mối quan hệ giữa kiểu truyện vọng phu và tín ngưỡng thờ đá;Bằng những phương pháp tiếp cận khác nhau, các công trình và chuyên luận nghiên cứu kể trên đã đề cập mối quan hệ giữa truyện kể dân gian và tín ngưỡng thờ đá của cư dân các tộc người trên một số bình diện. Đó là sự gợi mở cho việc tìm hiểu mối tương quan giữa truyền thuyết Thạch Tướng Quân với tín ngưỡng thờ đá trên địa bàn lưu truyền của truyền thuyết này.

Về không gian lưu truyền, truyền thuyết Thạch Tướng Quân tồn tại trên vùng đất xứ Bắc thuộc xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Trong điều kiện tự nhiên, phía tây của xã Tiên Lát có dòng sông Cầu mang nguồn nước dồi dào cho đồng ruộng và tạo ra những ao hồ chằng chịt; xung quanh Tiên Lát có nhiều ngọn núi lớn nhỏ khác nhau, lớn hơn cả là dãy núi Bổ Đà bao bọc cả hai thôn là Tiên Lát Thượng và Tiên Lát Hạ. Sách Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí có ghi: “Núi Bổ Đà là ngọn núi bậc nhất của huyện Việt Yên. Bắt đầu từ Thái Nguyên qua Yên Thế mà lại. Nhiều ngọn liên tiếp quây quần, bỗng nổi lên núi Bổ Đà, vừa cao vừa to. Trong đó lại gọi riêng ngọn núi cao nhất là núi Phượng Hoàng. Những ngọn thấp hơn một chút là núi Yên Ngự, núi Kim Quy. Núi có chùa Tam Giáo, có miếu Thạch Tướng Quân”(8). Chính từ dãy núi này đã xuất hiện những ngọn núi đi vào truyền thuyết dân gian, đó là ngọn Phượng Hoàng vì núi giống như một con phượng hoàng, người ta còn gọi là núi Đền vì trên núi có hai ngôi đền thờ thần; núi Con Cóc vì trên núi có một tảng đá to hình giống con cóc đang ngồi, núi Chùa Khám có một dãy đá dài, trên núi có một cái hang, người ta làm chùa trong ấy nên còn gọi là núi Chùa Hang; núi Cánh Phản có một tảng đá dày, to giống như hình cánh phản; núi Bộ Trê; núi Bộ Ngạnh; núi Bộ Thông; núi Bộ Nứa; núi Lùn... Trên các ngọn núi này, cây cối thưa thớt, đá núi lởm chởm, nhưng theo các vị cao niên ở Tiên Lát thì xưa kia, dãy núi Bổ Đà cỏ cây mọc um tùm, với cánh rừng bạt ngàn, quanh năm tiếng thông reo vi vút; các khối đá lớn nhỏ đan xen tồn tại trên đỉnh núi, sườn núi, dưới chân núi và ẩn hiện trong các lớp đất, cỏ cây; các cánh đồng tồn tại cùng với dòng sông, những ngọn núi, dãy núi tạo ra một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng. Từ góc nhìn sinh thái học, Tiên Lát là một nơi có điều kiện tự nhiên đa dạng, đó là dòng sông, ngọn núi, cánh đồng cùng với đất, đá, nước, cây cối... Tất cả hợp thành một không gian địa lí hết sức lí tưởng cho sự tồn tại của con người và sự trú ngụ của thần linh. Trong môi trường địa lí nhân văn ấy, truyền thuyết Thạch Tướng Quân đã mang những đặc điểm và dấu ấn địa phương hóa của vùng đất khá rõ rệt.

1. Bản kể và kết cấu truyền thuyết Thạch Tướng Quân từ góc nhìn đối sánh

Trên cơ sở sưu tập truyền thuyết Thạch Tướng Quân qua các thư tịch và sưu tầm qua điều tra điền dã tại thôn Lát Thượng (Lát Lớn), Lát Hạ (Lát Bé) xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, chúng tôi thống kê được 4 bản kể đã được văn bản hóa và 1 bản kể lưu truyền trong tâm thức dân gian. Bản kể thứ nhất theo sách Bắc Ninh toàn tỉnh dư địa chí(9); bản kể thứ hai theo sách Bắc Ninh địa dư chí(10); bản kể thứ ba theo sách Truyện dân gian vùng Quan họ - Bà Chúa Kho(11); bản kể thứ tư theo thần tích xã Thượng Lát(12); bản kể thứ năm theo lời kể của người dân Tiên Lát(13). Từ nội dung các bản truyền thuyết kể về Thạch Tướng Quân có thể rút ra một số motif cơ bản như sau: Ở motif sinh nở thần kỳ, các bản kể đều có chung một nội dung là nhân vật Thạch Tướng Quân sinh ra từ đá mẹ hoặc rồng đá; ở motif trưởng thành kì diệu, nổi bật lên là sự trưởng thành vượt bậc vị thần, nhân vật Thạch Tướng Quân vốn là đứa bé chỉ trong phút chốc đã trở thành một vị thiên tướng uy dũng; ở motif lập chiến công phi thường, các tình tiết được kể khá thống nhất rằng, chỉ trong một trận chiến đấu Thạch Tướng Quân phá tan quân giặc và giết được tướng giặc; ở motif hóa thân kỳ ảo, các bản kể đều có chi tiết về nhân vật Thạch Tướng Quân sau khi phá tan quân giặc đã lên núi Phượng Hoàng bay về trời.

Trong đời sống tâm linh của người dân Tiên Lát, truyền thuyết Thạch Tướng Quân đã tồn tại các bản kể khác nhau qua nhiều thế hệ người dân. Đây là cơ sở cho phép khẳng định rằng, truyền thuyết này đã được lưu truyền phổ biến trong chiều dài lịch sử; và gắn với truyền thuyết là sự ngưỡng vọng, niềm tin của biết bao thế hệ người dân nơi đây về một vị thần quyền phép nhiệm mầu. Trong ký ức dân gian, nhân vật Thạch Tướng Quân được tôn thờ ở các khía cạnh khác nhau: Thứ nhất là vị tướng có tài năng và sức mạnh đặc biệt; thứ hai là vị tướng lập chiến công kỳ vỹ giúp nhà vua đánh thắng giặc Man; thứ ba là vị thần bảo hộ cho dân làng Tiên Lát. Chính những khía cạnh được tôn vinh này đã làm cho hình tượng nhân vật Thạch Tướng Quân in khắc vào trí tưởng tượng của nhân dân và có một sức sống lâu bền trong đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng cư dân.

Một điều đáng chú ý là khi so sánh giữa kết cấu truyền thuyết Thạch Tướng Quân và kết cấu truyền thuyết Thánh Gióng có một số motif trùng hợp nhau như về sự ra đời, cả hai nhân vật đều sinh ra do thụ thai thần kỳ và sinh nở thần kỳ; về sự trưởng thành, cả hai đều nhiều tuổi rồi mà vẫn chưa biết nói năng, chỉ suốt ngày nằm một chỗ, đến khi có sứ giả của nhà vua đi tìm người tài giết giặc thì mới vùng dậy, cất tiếng nói và trở thành một vị thiên tướng thời Hùng Vương, rồi xin nhà vua ban cho vũ khí để đi đánh giặc; về việc lập chiến công phi thường thì truyền thuyết kể rằng cả hai vị thiên tướng đều quét sạch giặc, giúp đất nước được bình yên; về sự hóa thân nhân vật, cả hai truyền thuyết đều có chi tiết kể, sau khi chiến thắng quân giặc nhân vật Thánh Gióng và Thạch Tướng Quân cùng lên đỉnh núi mà bay về trời.

Có thể lý giải hiện tượng này trên hai bình diện cơ bản. Trước hết, xét từ góc độ đồng đại, tức là nhìn nhận các truyền thuyết trong không gian lưu truyền của nó thì truyền thuyết Thánh Gióng lưu truyền, phân bố và in dấu khắp vùng đồng bằng xứ Bắc rộng lớn, phổ biến ở các huyện như Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn của thành phố Hà Nội ngày nay và ở các huyện Tiên Du, Quế Võ, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài của tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Còn truyền thuyết Thạch Tướng Quân lưu truyền và tồn tại ở một vài điểm thờ chủ yếu dọc theo dãy núi Bổ Đà thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ngày nay. Từ thực tiễn lưu truyền cho thấy, không gian lưu truyền của truyền thuyết Thánh Gióng rải rác khắp vùng đồng bằng xứ Bắc, còn không gian lưu truyền của truyền thuyết Thạch Tướng Quân chủ yếu tập trung tại vùng trung du thuộc phạm vi dãy núi Bổ Đà. Trên thực tế giữa vùng đồng bằng và trung du xứ Bắc đã diễn ra quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, theo Lê Bá Thảo: “Về mặt tâm lý, vùng trung du không quá xa lạ với người quen sống ở đồng bằng và về mặt diện tích, đấy là một vùng còn đất có thể khai hoang và canh tác được”(14). Đặc biệt với áp lực của sự phát triển dân cư thì các tộc người vùng đồng bằng sông nước ngày càng mở rộng địa bàn sinh tồn của mình đến vùng trung du vốn có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn để sinh tồn. Cho nên giữa cư dân đồng bằng và trung du trên địa bàn xứ Bắc đã có sự tiếp xúc với nhau từ lâu đời, chính điều đó đã nảy sinh quá trình giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân. Theo quy luật tiếp biến văn hóa, khi một hiện tượng văn hóa nảy sinh nó dần trở thành một sinh hoạt chung của cả cộng đồng, trải qua thời gian năm tháng và qua sự lưu truyền của cư dân, hiện tượng văn hóa ấy lại tiếp thu, hấp thụ các yếu tố văn hóa ngoại sinh để nội sinh hóa tạo thành các hiện tượng văn hóa đa tầng cấp và nhiều sắc màu. Mặt khác cũng có thể nhìn nhận sự tương đồng giữa các motif trong kết cấu của hai truyền thuyết này từ góc độ lịch đại, tức là nhìn nhận về thời điểm xuất hiện các văn bản ghi chép về hai truyền thuyết này. Qua các thư tịch ghi chép còn lưu giữ được cho thấy, truyền thuyết Thánh Gióng được ghi chép từ khá sớm trong sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIII - XIV) và Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ XV); còn đối với văn bản truyền thuyết Thạch Tướng Quân mà chúng tôi sưu tập được, hiện thấy có bản ghi lại sớm nhất là trong sách Bắc Ninh địa dư chí của Đỗ Trọng Vĩ (thế kỷ XIX). Nếu căn cứ vào việc đối chiếu thời điểm ra đời của văn bản thì truyền thuyết Thạch Tướng Quân xuất hiện muộn hơn khoảng 500 năm so với truyền thuyết Thánh Gióng. Như vậy, dựa trên cả phương diện đồng đại và lịch đại thì giả thiết bước đầu của chúng tôi là các motif trong truyền thuyết Thánh Gióng đã tác động, ảnh hưởng đến truyền thuyết Thạch Tướng Quân. Đó chính là quy luật lan tỏa và tiếp thu văn hóa đã từng diễn ra phổ biến đối với các hiện tượng văn hóa tồn tại trên các địa bàn gần gũi nhau.

Bên cạnh những điểm giống nhau như đã trình bày, khi so sánh cụ thể ở những tình tiết trong kết cấu của hai truyền thuyết này, chúng tôi nhận thấy những nét riêng biệt độc đáo, không hoàn toàn trùng khớp với nhau. Theo truyền thuyết Thánh Gióng, nếu nhân vật Thánh Gióng sinh ra do được thụ thai bởi bà mẹ dẫm phải vết chân của thần là ông Đổng, thì trong truyền thuyết Thạch Tướng Quân, nhân vật Thạch Tướng Quân được rắn thần thụ thai vào đá mẹ mà sinh ra hoặc do rồng đá sinh ra; nếu Thánh Gióng ba tuổi vẫn nằm yên một chỗ thì theo bản kể thứ nhất, thứ ba, thứ năm, nhân vật Thạch Tướng Quân lên 7 tuổi vẫn không đứng dậy, còn theo bản kể thứ hai thì Thạch Tướng Quân ngày một cao lớn; nếu Thánh Gióng xin nhà vua ban cho vũ khí giết giặc là ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt thì Thạch Tướng Quân lại xin nhà vua ban cho voi đá, kiếm đá và cờ lệnh đá; nếu Thánh Gióng ra trận cưỡi ngựa sắt thì Thạch Tướng Quân cưỡi voi đá; sau khi giết giặc Ân, Thánh Gióng đi khắp vùng đất trung châu rồi lên núi cao bay về trời thì Thạch Tướng Quân sau khi giết giặc Man khấu quay trở về chào cha mẹ nuôi rồi lên núi mà bay về trời...

Lý giải về sự khác nhau giữa các tình tiết trong kết cấu của hai truyền thuyết, chúng ta cần nhìn nhận các truyền thuyết trong môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian của cư dân bản địa tại địa bàn mà nó lưu truyền. Bởi mỗi truyền thuyết khi ra đời, nó không chỉ lưu truyền và tồn tại một cách độc lập, riêng biệt mà nó thường gắn với các hiện tượng văn hóa dân gian khác trên địa bàn phân bố; còn đối với người dân, khi kể các truyện dân gian và đặc biệt là kể về sự tích vị thần mình thờ cúng bao giờ họ cũng tin rằng vị thần ấy đang tồn tại, hiện hữu trong không gian thiêng của làng qua các di vật, những địa danh và cả những nét sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo trong địa bàn cư trú của mình. Trên thực tế, truyền thuyết về Thánh Gióng và truyền thuyết về Thạch Tướng Quân lưu truyền ở những địa bàn có điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau nên sẽ có cách thực hành tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa dân gian theo những dạng thức riêng. Nếu truyền thuyết Thánh Gióng được lưu truyền rải rác khắp vùng đồng bằng của xứ Bắc, nó gắn với các địa danh, di tích, các xóm làng, bụi tre, giếng nước, bãi cát, con đường(15)... thì truyền thuyết Thạch Tướng Quân lại lưu truyền ở địa bàn trung du. Các từ ngữ trong truyền thuyết về Thạch Tướng Quân đã cung cấp cho chúng ta một số thông tin khá cụ thể về môi trường ra đời của nó, đó là những từ chỉ thiên nhiên như núi, đá, rừng cây, voi đá (tượng binh); hay một số từ ngữ chỉ tên gọi của con người như tộc trưởng, trưởng tộc (cha nuôi Thạch Tướng Quân), giặc Man, quân Man khấu, tù trưởng; từ chỉ địa danh như xứ Cao Bằng, tên các ngọn núi... Tất cả đều gợi một không gian văn hóa tộc người miền núi, trung du. Chính sự lưu truyền và tồn tại trong môi trường tự nhiên và văn hóa khác nhau là nguyên nhân tạo nên những nét khác biệt trong các tình tiết xây dựng nhân vật Thánh Gióng và Thạch Tướng Quân. Như vậy chúng ta có thể khẳng định, mặc dù truyền thuyết Thánh Gióng và truyền thuyết Thạch Tướng Quân có sự ảnh hưởng và tác động đến nhau, nhưng về cơ bản đây là hai truyền thuyết riêng biệt chứ không phải là dị bản của nhau.

Truyền thuyết Thạch Tướng Quân tồn tại trong môi trường văn hóa của vùng đất Tiên Lát, nó gắn liền với đời sống văn hóa tâm linh của người dân, đặc biệt là gắn tín ngưỡng thờ đá. Có thể nói, truyền thuyết đã tồn tại sống động khi được gắn kết với các di vật đá thiêng ở Tiên Lát; còn các di vật ấy cũng trở nên linh thiêng hơn khi cùng tồn tại cùng với sự lưu truyền của truyền thuyết. Vì vậy, khi tìm hiểu truyền thuyết này, chúng ta cần nhìn nhận nó trong mối quan hệ với tín ngưỡng thờ đá của người dân nơi đây.

2. Mối tương quan giữa truyền thuyết Thạch Tướng Quân và tín ngưỡng thờ đá ở Tiên Lát

Trong đời sống, đá là dạng vật chất có mối quan hệ mật thiết với con người, được con người gắn vào đó bản tính của thần linh. Sách Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới cho rằng: “Trong truyền thuyết, đá chiếm một vị trí trang trọng. Giữa linh hồn con người và đá có mối quan hệ chặt chẽ...”(16). Ở vào thời kỳ xa xưa, con người trải qua hàng triệu năm sống trong các hang đá, sử dụng đá như một công cụ trong lao động và sinh hoạt. Có thể nói, con người đã từng sinh ra trong hang đá và chết đi cũng được chôn cùng với đá, cả phần thể xác và linh hồn đều không tách rời khỏi đá. Vì vậy, đá được sùng bái như vị thần sẽ mang đến sự sống và cả cái chết cho con người.

Nhìn từ phương diện văn hóa tâm linh, đá không chỉ là công cụ lao động hoặc là nơi để con người sinh tồn mà đá còn mang chức năng ma thuật và là nơi trú ngụ của thần linh. Trong tâm trí con người, đá và đặc biệt là núi đá chính là nơi có thần linh, thánh hiện và tiên giáng trần. Vì thế đá vừa tồn tại như một linh vật truyền dẫn ý niệm của con người đến thế giới siêu nhiên, vừa tồn tại với tư cách là vị thần (thần đá). Nhà nghiên cứu Leopold Cardiere trong khi tìm hiểu về tín ngưỡng thờ đá của người Việt đã khẳng định vai trò quan trọng của đá thiêng với tư cách là một vị thần linh, ông cho rằng: “Điều mà người Việt tôn thờ trong viên đá linh không phải là một vị thần từ đâu xa đến ngự ở đó mà là chính viên đá được xem như có quyền lực siêu phàm y như chính vị thần”(17). Vì vậy khi con người mong ước những điều tốt lành và tránh đi tai ương trong cuộc sống thì họ thường dùng đá thiêng để cầu khấn các thế lực thánh thần hoặc cầu khấn chính vị thần đang hiện hữu trong đá. Đó chính là một trong những lí do vì sao đá đã trở thành vật linh thiêng được thờ cúng phổ biến ở khắp các tộc người trên thế giới.

Ở xứ Bắc xưa kia có rất nhiều nơi thờ đá, và gắn liền với nó là các truyền thuyết, di tích thờ cúng cùng những sinh hoạt tín ngưỡng dân gian. Đó là trụ đá Thạch Biểu hay Biểu Nương Phật - vị tướng của Hai Bà Trưng ở thôn Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh; hòn đá dấu chân của Thánh Gióng và cột đá dùng để buộc ngựa của Thánh Gióng ở thôn Thượng, xã Vạn Linh, huyện Gia Bình, Bắc Ninh; cột đá chạm rồng và Bàn cờ đá (bàn cờ tiên) ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ (nay thuộc thành phố Bắc Ninh); bàn đá (Điện kính thiên) ở xã Đức Long, huyện Quế Võ, Bắc Ninh; tảng đá nguyên khối thần Cao Sơn ở xã Vân Tương, huyện Việt Yên, Bắc Giang; phiến đá chùa Bụt Mọc ở xã Lỗ Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; phiến đá hình dáng năm pho tượng ở chùa Bụt Mọc ở làng Ngọc Xuyên, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh; cột đá Thái Bạch ở làng Đồng Kị, tỉnh Bắc Ninh; phiến đá vuông như bàn thạch ở làng Chu Sơn, xã Chu Điện, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang(18)... Khảo sát tại địa bàn thuộc xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (là khu vực lưu truyền truyền thuyết Thạch Tướng Quân) cho thấy, đã tồn tại một không gian thờ đá phong phú. Đó là những tảng đá, dãy núi đá, ao đá, giếng đá, rồng đá... đa phần trong số ấy đều được gửi gắm niềm tin về sự linh thiêng của đá gắn với vị thần Thạch Tướng Quân. Có thể nói, truyền thuyết chính là hình bóng và chân dung vị thần, còn đá thiêng là minh chứng cho sự hiện hữu của vị thần ấy.

Trên thực tế, truyền thuyết Thạch Tướng Quân gắn liền với tín ngưỡng thờ đá qua một số chi tiết như, nhân vật sinh ra từ tảng đá mẹ hoặc rồng đá (Thạch Long); tên hiệu của thần được đặt theo đá, đó là Thạch Tướng Quân, Thạch Tướng Công hoặc Cu Đá; khi ra trận xin nhà vua cấp cho các loại vũ khí chiến đấu cũng bằng đá, đó là voi đá, cờ lệnh đá, kiếm đá; sau khi hóa, Thạch Tướng Quân được nhà vua cho dựng đền thờ phong là Chuyển Hình Thạch Tướng Đại Vương, tước hiệu này của thần cũng không rời xa yếu tố đá. Như vậy, nhân vật Thạch Tướng Quân từ khi sinh ra, lớn lên, lập chiến công cho đến lúc hóa thân đều gắn liền với tục hiệu, tước phong, tên gọi liên quan đến yếu tố đá. Chính điều này gợi mở bản chất thần đá trong nhân vật.  

Trong tâm thức của người dân Tiên Lát, nhân vật Thạch Tướng Quân được rồng đá sinh ra. Tương truyền, rồng đá có thân hình dài từ chùa Thạch Long đến tận ao Miếu, nó uốn mình dọc theo dãy núi Bổ Đà, có đoạn rồng đá nổi lên trên bề mặt, có đoạn rồng lại ẩn mình trong lòng đất. Phần đầu rồng đá nằm ở khu đất đã được người dân xây dựng lên ngôi chùa mang tên là Thạch Long tự, bên cạnh ngôi chùa xưa kia còn có hai cái giếng nước trong veo làm bằng đá, dân gian vẫn coi đó là đôi mắt của rồng nên họ gọi hai giếng đó là giếng mắt rồng, còn ao Miếu – nơi có các tảng đá và miếu thờ Thạch Long được coi là phần đuôi của rồng đá này. Người Tiên Lát kể rằng, khi rồng đá đến kỳ sinh nở, nó trở dạ, vùng vẫy làm động cả một vùng đất, dân làng sợ hãi bèn cho dựng ở phía đầu rồng một ngôi chùa có tên là Thạch Long và hai cái tháp gần chùa để trấn yểm; người dân lại cho dựng thêm hai cái tháp ở trên lưng rồng đá thuộc phía đầu làng Tiên Lát nhằm giữ bình yên cho dân làng. Ngoài ra, ở Tiên Lát xưa kia vẫn còn khu đất rộng, có nhiều tảng đá nằm ngổn ngang, trông như voi đá, ngựa đá, cờ đá, bàn đá... Tất cả đều gắn liền với hành trạng và chiến công của nhân vật Thạch Tướng Quân.

Đặc biệt trên địa bàn xã Tiên Lát đến nay vẫn còn tồn tại tín ngưỡng thờ đá có mối liên hệ mật thiết với truyền thuyết Thạch Tướng Quân. Trước hết, đó là tảng đá tách ra làm ba trong ao Miếu, người dân vẫn gọi tảng đá ấy là đá mẹ, vì họ tin rằng Thạch Tướng Quân do hòn đá đó nứt mà sinh ra; dân làng Tiên Lát gọi ao có tảng đá ấy là ao Miếu vì có một miếu thờ tảng đá mẹ trong ao; hay người dân còn gọi ao ấy là Thánh Trì (Ao Thánh) vì xuất phát từ sự tích đức thánh Thạch Tướng Quân đã sinh ra ở trong ao đó. Khi khảo sát thực địa chúng tôi nhận thấy, trong ao có mấy phiến đá tách rời nhau, một phiến đá lớn có dựng một ngôi miếu thờ ở trên, còn hai phiến đá nhỏ nằm ngay cạnh phiến đá lớn ấy. Đó đều là các khối đá nhám, màu nâu, nằm thành từng tảng ở một ao nước trong mát và khá rộng. Tương truyền, trên bề mặt tảng đá mẹ trong ao còn có dấu vết của thánh khi sinh ra, đó là dấu vết nơi Thạch Tướng Quân đã ngồi trên đá, hay dấu vết bàn tay năm ngón bám vào phiến đá, bàn chân đạp trên phiến đá. Chính những dấu vết đó là cơ sở để người dân thể hiện niềm tin vào vị thần mình đang thờ cúng.

Cùng với các di vật đá thiêng, liên quan đến nhân vật Thạch Tướng Quân còn có một số địa danh, điểm thờ của người dân Tiên Lát nhằm tôn kính vị thần Thạch Tướng Quân của mình, đó là đình Ngự nằm trên ngọn núi Lều mà tương truyền rằng, trước khi Thạch Tướng Quân ra trận giết giặc, vua Hùng Tạo Vương đã về trang Tiên Lát ngự lãm tại ngọn núi Lều để trao voi đá, cờ đá, vũ khí đá và tấn phong cho Thạch Tướng Quân ra trận giết giặc. Ngoài ra, theo lời kể của người dân Tiên Lát thì trên các ngọn núi như: núi Bộ Trê, núi Bộ Ngạnh, núi Bộ Thông, núi Bộ Nứa... đều là những địa danh mà các bộ tướng của Thạch Tướng Quân tụ binh đánh giặc. Tại thôn Thượng Lát (Lát lớn) còn có một ngôi đền thờ Bà Chúa Kho, sự tích về bà được kể rằng, khi nhà vua đến vùng Tiên Lát mời Thạch Tướng Quân ra trận giết giặc, vua đã phái một nàng công chúa có húy danh là Thanh Bình đi cùng và giao cho việc trông coi lương thực tại trại Cung (tên một ngọn núi ngày nay). Sau khi bà mất, dân làng lập đền thờ trên núi, gọi là đền thờ Bà Chúa Kho. Trên ngọn núi Tấm Phản xưa kia còn có một con voi đá cụt đầu nằm phục ở đó, theo người dân Tiên Lát thì đó là con voi đá mà Thạch Tướng Quân đã cưỡi ra trận đánh giặc, sau khi chiến thắng trở về đã chặt cụt đầu voi đá vì sợ nó quấy phá dân làng. Đặc biệt, ngọn núi Phượng Hoàng còn có hai ngôi đền thờ Thạch Tướng Quân, thứ nhất là đền trung nằm ở lưng chừng núi, thứ hai là đền thượng nằm trên đỉnh ngọn núi. Theo truyền thuyết, sau khi Thạch Tướng Quân phá tan quân giặc đã trở về trang Tiên Lát từ biệt cha mẹ nuôi rồi lên đỉnh ngọn núi Phượng Hoàng bay về trời. Nhà vua cho xây đền tưởng nhớ chiến công của thần để người dân Tiên Lát đời đời thờ cúng.

Qua chứng tích về tín ngưỡng thờ đá, qua tục hiệu và qua bản chất của vị thần, cho phép ta có thể xác định nhân vật Thạch Tướng Quân trong truyền thuyết là một nhiên thần mang hình dáng của vị thần đá. Nguyên lý của sự ra đời các vị nhiên thần nói chung và thần đá nói riêng là khá đồng nhất, đó là xuất phát từ quan niệm vạn vật có linh hồn, các sự vật hiện tượng vốn vô tri, vô giác đã được gắn vào nó bản tính của thần linh. Nguyên lý này khởi nguồn từ thời kỳ nguyên thủy hay thời Đá mới và Đá cũ, trong điều kiện con người tồn tại không tách rời với môi trường tự nhiên, họ không thể lý giải các hiện tượng tự nhiên theo quy luật của tạo hóa, mà chỉ có thể giải thích bằng sức tưởng tượng phong phú của mình và gắn cho mỗi thực thể tự nhiên có một vị thần sinh ra và cai quản thực thể ấy: đất có thổ thần, sông có thủy thần, cây có mộc thần, núi có sơn thần ngự trị, đá có thạch thần... Về sau, yếu tố văn hóa đã kế tiếp nhau xuất hiện, phủ lên văn hóa bản địa một lớp văn hóa mới, đó là lịch sử chống ngoại xâm bảo vệ bộ tộc, bảo vệ quốc gia dân tộc mà dấu ấn còn lại là việc nhân vật trở thành vị tướng chống giặc, bởi vị thần đá này có tính chất đặc trưng là sự cứng rắn, cương nghị và mạnh mẽ, tính chất ấy đã tạo nên sự gần gũi với hình tượng nhân vật chàng dũng sĩ hay nhân vật anh hùng chống giặc trong truyện kể dân gian. Theo Leopold Cardiere: “Có thể là người Việt đã thừa hưởng từ những thế hệ đi trước về chuyện linh thiêng của viên đá này, tảng đá kia rồi truyền tụng luôn cả việc thờ kính cũng như những huyền thoại liên quan. Nhiều khi viên đá được thờ bái nhưng lại không có lai lịch huyền thoại thì họ lại tưởng tượng ra một lai lịch huyền thoại để biện minh cho sự thờ bái của mình. Các tư liệu đều cho ta thấy một điều là trong tâm tư người Việt, việc thờ đá luôn luôn được lý giải trước hết là do có phép mầu”(19). Điều đó cho thấy, truyện kể dân gian về các vị thần đá thường có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ đá – một tín ngưỡng sùng bái nhiên thần vốn phổ biến trong đời sống tâm linh của người Việt.

Khảo sát các sự kiện trong truyền thuyết và các nghi thức trong đời sống tín ngưỡng dân gian tại Tiên Lát cho thấy, truyền thuyết và tín ngưỡng thờ Thạch Tướng Quân còn có sự dung hợp yếu tố tôn giáo ngoại lai mà đậm đặc nhất là yếu tố Phật giáo, nó thể hiện qua việc xuất hiện các ngôi chùa tháp gắn liền với sự tích và sự thờ cúng vị thần, đặc biệt là việc dân làng đã mang tượng thờ Thạch Tướng Quân gửi ở chùa Bổ Đà để nghe giảng kinh Phật vì cho rằng, vị thần này vô cùng dũng mãnh và hung dữ nên cần phải được cảm hóa. Hành động ấy chính là sự phối thờ giữa thần và Phật. Các lớp văn hóa Phật giáo tuy xuất hiện muộn hơn nhưng đã lưu lại dấu ấn rất đậm trong tín ngưỡng thờ Thạch Tướng Quân, bởi nó có nhiều điểm phù hợp với điều kiện sống của cư dân bản địa, phù hợp với tâm lý của cộng đồng.

Lời kết

Xuất phát từ nội dung truyền thuyết và từ tín ngưỡng thờ Thạch Tướng Quân ở Tiên Lát, chúng ta có thể nhận dạng nhân vật Thạch Tướng Quân vốn nguyên thủy là một vị thần đá, trải qua chiều dài lịch sử, qua sự du nhập văn hóa và sự thẩm thấu văn hóa đã dần trở thành vị anh hùng chống giặc ngoại xâm, rồi sau khi hoàn thành nhiệm vụ giết giặc lại được người dân thờ làm một vị phúc thần bảo hộ cho dân làng. Chính quá trình ấy đã làm cho diện mạo và hành trạng của nhân vật Thạch Tướng Quân có sự vận động biến đổi từ một vị nhiên thần đã trở thành một vị thiên thần, và trở thành một Thành hoàng làng.

Nhìn từ phương diện thực hành tín ngưỡng dân gian, thờ đá là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên tục thờ đá ở Tiên Lát lại gắn liền với truyện kể về những nhân vật vừa hoang đường vừa gần gũi với người dân. Qua điều tra điền dã tìm hiểu về truyền thuyết và tín ngưỡng thờ Thạch Tướng Quân chúng tôi nhận thấy, người dân nơi đây không còn lưu giữ các nghi thức ma thuật, hay các hình thức cúng tế, các trò diễn dân gian liên quan đến vị thần đá trong khi thực hành nghi lễ của mình. Điều đó chứng tỏ rằng, trong quá trình tồn tại, đến nay hiện tượng thờ thần đá chỉ còn lại tàn dư của nó, thay vào đó là hình thức thờ cúng vị thần mang niềm tin và mơ ước mới.

Sự lưu truyền, tồn tại của truyền thuyết Thạch Tướng Quân trong mối tương quan với tục thờ đá ở Tiên Lát đã tạo ra một tổ hợp hiện tượng văn hóa dân gian, trong đó truyền thuyết với vai trò định hình một lý lịch cụ thể về vị thần, còn hiện tượng thờ cúng và thực hành nghi lễ về vị thần ấy mang tính chất tôn vinh và duy trì sức sống của vị thần trong tâm thức dân gian. Cụ thể, tín ngưỡng thờ đá ở Tiên Lát có một vai trò hết sức quan trọng trong sự hình thành và tồn tại của truyền thuyết Thạch Tướng Quân, nhưng mặt khác, truyền thuyết này đã có tác động vô cùng ý nghĩa đến tín ngưỡng thờ đá nơi đây, bởi chính nhân vật Thạch Tướng Quân trong truyền thuyết là vị thần trung tâm tồn tại trong niềm tin và sự ngưỡng vọng của người dânq

___________________

Chú thích:

(1) Leopold Cadiere: Văn hóa tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt, tập II (Đỗ Trinh Huệ dịch). Nxb. Thuận Hóa, 2010.

(2) Đinh Gia Khánh: Tìm hiểu văn hóa dân gian Việt Nam. Nxb. Khoa học xã hội, H., 1993.

(3) Nguyễn Duy Hinh: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam. Nxb. Khoa học xã hội, H., 1996.

(4) Hồ Quốc Hùng: Thử nhận diện dấu vết tín ngưỡng Chăm qua nhóm truyện cổ người Việt ở Thuận Hóa. Tạp chí Văn học, số 3-1999, tr.67-72.

(5) Nhiều tác giả: Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học. Nxb. Khoa học xã hội, H., 2001, tr.803-829.

(6) Phan Xuân Viện: Truyện kể dân gian các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam. Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2007, tr.46-57.

(7) Nguyễn Việt Hùng: Sự tích vọng phu và tín ngưỡng thờ đá ở Việt Nam. Nxb. Văn hóa - Thông tin, H., 2011.

(8) Đinh Khắc Thuân (Chủ biên): Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm. Nxb Khoa học xã hội, H., 2009, tr.102.

(9) Dẫn theo: Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 4 (Truyền thuyết). Nxb Khoa học xã hội, H., tr.311-312.  Bản kể này có nội dung tóm lược như sau: Vào thời Hùng Vương, ở xã này có một tảng đá lớn. Một hôm có con rắn ngũ sắc dài 10 trượng tới quấn vòng quanh tảng đá. Rồi đá mẹ thụ thai, sau ba năm tách ra làm ba, lộ rõ một bé trai nằm bên trong. Trước đó, có ông lão nhà ở gần tảng đá được thần báo mộng cho biết có Hùng Thạch tướng quân giáng thế. Ông lão bèn bàn với vợ đem đứa trẻ về nuôi. Cậu bé 7 tuổi mà vẫn chưa biết nói. Thời đó có giặc Lục Đình Man nổi loạn ở Cao Bằng, dẫn đường cho 50 vạn quân Bắc quốc sang cướp nước ta. Vua liền hội các quan, tìm người chống giặc. Khi sứ giả đến, đứa bé bỗng cất tiếng gọi sứ giả vào, bảo sứ giả về tâu vua làm cho một con voi đá để giúp vua đánh giặc. Khi sứ giả nhà vua đưa voi đá đến, đứa trẻ vươn vai ba lần, trở thành người cao lớn, nhảy lên lưng voi hướng về hướng Cao Bằng, phá tan quân giặc. Khải hoàn trở về, vua phong tước nhưng cậu bé không nhận, nói đã có mệnh ở thiên đình triệu về trời. Nói xong, cậu bé bèn lên núi, cởi áo để lại, rồi bay về trời.

(10) Đỗ Trọng Vĩ: Bắc Ninh địa dư chí. (Người dịch Đỗ Tuấn Anh, người hiệu đính Nguyễn Thị Hảo). Nxb. Văn hóa thông tin, H., 1997, tr.212-213. Bản kể này có nội dung tóm lược như sau: Thời Hùng Vương, có hai vợ chồng nhiều tuổi mà chưa có con. Một hôm thấy một con rắn ngũ sắc dài 10 trượng quấn quanh tảng đá, rồi bỗng biến mất. Ba năm sau đá sinh ra  một đứa bé trai, mặt mũi khác thường, hai vợ chồng đem về nuôi. Đứa bé ngày một cao lớn, năm lên 7 tuổi mà vẫn chưa biết nói. Lúc bấy giờ, nước ta có giặc đến cướp bóc. Hùng Vương sai sứ đến đi tìm người tài. Đứa trẻ thấy vậy đã gọi sứ giả vào và bảo rằng: “Có voi đá thì tôi sẽ dẹp giặc cho nhà vua”. Khi vua dẫn các quan đến đón. Đứa trẻ nhẩy 3 bước, mình đã dài hơn 1 trượng, mặt như mặt trời đỏ, mắt như sao sáng, rồi cưỡi voi đá lao về phía giặc, chỉ giây lát phá tan quân giặc. Ngay ngày hôm đó, cậu bé đã trở về rồi lên núi cởi áo bay lên trời mà đi.

(11) Anh Vũ, Nguyễn Xuân Cần (sưu tầm, biên soạn): Truyện dân gian vùng Quan họ - Bà Chúa Kho. Bảo tàng Hà Bắc xuất bản năm 1992, tr.37-42. Bản kể này có nội dung tóm lược như sau: Xưa có hai vợ chồng đến lập nghiệp ở Tiên Lát. Một lần, họ thấy một con rắn ngũ sắc bò qua hòn đá. Về sau, tảng đá cứ lớn dần lên. Một hôm, có  tiếng sấm ầm vang làm phiến đá vỡ ra làm ba. Trong lòng đá xuất hiện một đứa bé, hai vợ chồng mang về chăm sóc và đặt tên là cu Đá. Nhưng bảy năm trời cu Đá vẫn chỉ ăn rồi ngủ suốt ngày. Khi nghe thấy sứ giả cầu hiền tài giúp nước, cu Đá tự dưng chuyển mình, nói được và cao lớn. Thạch Tướng Quân nói với sứ giả về tâu vua cấp cho một con voi đá cao mười trượng, rồi trao cờ lệnh, kiếm đá thì giặc sẽ tan. Được vua ban vũ khí, Thạch Tướng Quân ra trận giết hết lũ giặc. Khi quay về đến trang Tiên Lát, xuống voi vào lạy chào cha mẹ nuôi rồi lên núi Phượng Hoàng bay lên trời.

(12) Theo Thần tích xã Thượng Lát, tổng Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – Bản ngọc phả cổ về vị sơn thần Chuyển Hùng Thạch đại vương giúp nước đánh giặc Man (Người dịch: Nguyễn Hữu Mùi; người hiệu đính: Dương Thị The. (Bản lưu giữ tại xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Bản kể này có nội tóm lược như sau: Đời xưa, có vợ chồng một tộc trưởng vốn là người ở đất trang Tiên Lát. Một lần  nhìn thấy một con rắn dài hơn mười trượng, thân hình óng ánh ngũ sắc bơi vòng quanh phiến đá trong ao. Một đêm bỗng có tiếng nổ vang lên long trời lở đất, phiến đá vỡ ra làm ba mảnh và thấy một đứa trẻ tướng mạo đường hoàng, tư phong lẫm liệt. Hai vợ chồng mang về nuôi, đến năm bảy tuổi mà đứa bé vẫn chưa biết nói. Bấy giờ có giặc tiến đánh Tạo Vương để lấy nước. Vua và quần thần hội bàn đánh giặc thì bỗng thấy một lá cờ rơi xuống, cơ báo cho vua biết, muốn quét sạch giặc tan hãy tìm đến đất Yên Việt, xứ Bắc Hà có Chuyển Hùng Thạch Tướng. Khi sứ giả đến, đứa bé bèn chuyển mình đứng dậy, đột nhiên nói ra lời và bảo với sứ giả trở về, báo gấp cho nhà vua làm ngay một con voi đá mười trượng đem tới và trao lá cờ thiên đế thì tất sẽ trừ được giặc Man. Khi vua và bách quan mang theo voi và cờ đến, Thạch Tướng Quân liền nhảy lên voi, tay cầm lá cờ, đi sau là binh sĩ. Trong chốc lát đã phá tan quân giặc. Thạch Tướng cưỡi voi trở về nơi đã sinh ra mình ở trang Tiên Lát, trèo lên núi Phượng Hoàng, chỗ đỉnh cao nhất rồi bay thẳng lên trời biến mất.

(13) Theo lời kể của ông Dương Trọng Châu (74 tuổi), ở thôn Hạ Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Truyền thuyết được kể rằng: Xưa kia, tại chùa Thạch Long có một con rồng đá mang thai 3 năm 9 tháng. Cho đến khi trở dạ sinh, nó vũng vẫy làm dân làng trong vùng đất đều bị động và lục đục. Sau đó, rồng đá sinh ra Thạch Tướng Quân vào ngày 10 tháng Giêng tại Ao Miếu. Hùng Tạo Vương thứ 16 bị quân Man khấu xâm lấn, nhà vua cho người đi tìm hiền tài giúp nước. Nhà vua được báo mộng là tìm về Tiên Lát có đức thánh Chuyển Hùng sẵn sàng giúp nước. Nhà vua phái quan quân về tìm người tài ba, Thạch Tướng Quân bảo sứ giả của nhà vua về tạc con voi đá cao 10 trượng và đưa binh mã đến. Vua làm theo lời dặn. Thạch Tướng Quân ra trận tiêu diệt quân giặc, rồi quay trở về trang Tiên Lát, từ biệt cha mẹ nuôi, lên núi, bay về trời.

(14) Lê Bá Thảo: Thiên nhiên Việt Nam (tái bản lần thứ 6). Nxb. Giáo dục, H., 2009, tr. 128.

(15) Xem Cao Huy Đỉnh: Người anh hùng làng Gióng. Nxb. Khoa học xã hội, H., 1969.

(16) Jean Chevalier (chủ biên): Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. Nxb. Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn Du, H., 2002, tr.268.

(17) Leopold Cardiere: Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt. Tập 2. Sđd, tr.114.

(18) Xem Nguyễn Huy Bỉnh: Truyền thuyết dân gian xứ Bắc về các thần tự nhiên. Nghiên cứu Văn học, số 4-2009, tr.90-104.

(19) Leopold Cardiere: Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt. Tập 2. Sđd, tr.118.

  Nguồn: Viện Văn học
 

Các bài khác:
· TỪ GỌI 'SINH THỰC KHÍ NAM' TRONG DÂN GIAN
· NHỮNG BỨC TIỂU HỌA ĐÁNG KINH NGẠC
· BẠN KHÔNG THÀNH NGƯỜI TRUNG QUỐC ĐƯỢC ĐÂU
· VUA GIA LONG VÀ TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
· HỎI - ĐÁP VỀ THỜI ÂU LẠC
· THƯ MỜI THAM GIA CÂU LẠC BỘ THƠ 'TRÀ GIANG'
· NGỠ NGÀNG VỚI TRANH VẼ NHƯ THẬT
· GIỚI THIỆU MỘT SỐ HÌNH ẢNH VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC
· XUNG QUANH VẤN ĐỀ 'CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN VĂN'
· XUNG QUANH VẤN ĐỀ 'CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN VĂN'
· CÁCH ĐẶT TÊN KÉP CỦA VUA MINH MẠNG CHO CON CHÁU TRONG HOÀNG TỘC
· ĐỀ NGHỊ UNESCO VINH DANH NGUYỄN DU - SUÝT PHẢI CHỜ 50 NĂM NỮA
· NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ NGỌC TÚ QUA ĐỜI
· GIẾNG LÀNG XƯA TRONG THỜI HIỆN ĐẠI
· NHỮNG BỨC TRANH VẼ THỨC ĂN NHƯ THẬT CỦA CÁC HỌA SĨ HÀ LAN
· NHỮNG BỨC ẢNH TUYỆT TÁC VỀ NHỮNG HÀNG CÂY
· NHỮNG BỨC ẢNH TUYỆT TÁC VỀ NHỮNG CÁNH ĐỒNG HOA
· NHỮNG ẢNH TƯ LIỆU HIẾM VỀ HUẾ VÀ VUA QUAN TRIỀU NGUYỄN
· CÁCH MẠNG VĂN HÓA - TỘI LỖI CỦA AI?
· TRẦN ĐỨC THẢO - TRIẾT GIA GIỮA NÚI RỪNG VIỆT BẮC

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_ultu3bqtdb8cnfb0gs7v0i5nd7, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0