THÔNG TIN
 
TƯỚNG NGUYỄN SƠN

  • Thái Vũ

LTS: Nhà văn Thái Vũ tên thật là  Bùi Quang Đoài, đi bộ đội tháng 10/1945 tại Huế, chi đội Trần Cao Vân (sau này là E101). Năm 1946 Nam tiến, tháng 6/1946 học trường Võ bị Lục quân Trung học Quảng Ngãi khóa I.

Từ 1947, công tác ở chiến trường quân khu V (cũ). Hè 1947 - 1948 dạy quân sự trường THPT Lê Khiết tỉnh Quảng Ngãi, trường Tư pháp Liên khu 5, dạy trường Trung học Bình dân Quân sự Liên khu 5 (1948 - 1950), Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu V (1948). Bệnh binh xuất ngũ 1951. Ra Liên khu IV dạy học trường Trung học Lê Ninh, Mặt trận Liên Việt, Hà Tĩnh. Học Dự bị Đại học và Đại học Sư phạm Văn học từ 1952 đến 1956. Dạy Đại học Sư phạm một thời gian ngắn rồi chuyển về công tác  Tùy viên Văn hóa Bộ giáo dục đến năm 1963, chuyên viên thẩm định các tác phẩm Văn – Sử nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Năm 1971 rồi chuyển sang Hội Nhà văn Việt Nam chuyên viết Tiểu thuyết Lịch sử… Thái Vũ là một sáng lập viên Hội Nhà văn Việt Nam.Nhà văn Thái Vũ mất ngày 3.7.2013. VHNA xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình ông . Chúng tôi trích đăng một hồi ức của ông về Tướng Nguyễn Sơn để tưởng nhớ ông, người thường quan tâm đến VHNA, và Tướng Nguyễn Sơn.

Thời gian gần đây, trên các báo và các tạp chí thường có bài viết về tướng Nguyễn Sơn trong những năm ông về nước. Nhưng hầu hết các bài đó chỉ biết có một nơi ông đã hoạt động là Liên khu 4 và từ đó ông được Hồ Chủ Tịch phong hàm cấp tướng rồi cuối năm 1950 ông trở lại Trung Quốc tham gia kháng Mỹ viện Triều.

Thực ra trong điếu văn an táng tướng Nguyễn Sơn ngày 23-10-1956 tại Hà Nội, đồng chí Hoàng Anh thay mặt Tổng Quận uỷ và Bộ Quốc phòng đã ghi rõ: “Năm 1945, đồng chí về nước, chiến đấu trong hàng ngũ của Đảng và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đồng chí đã được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đặc phái giữ trọng trách Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Từ năm 1947, đồng chí được Chính phủ cử chức Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu IV…”

Tập I sách Khu 5, 30 năm chiến tranh giải phóng[1], ghi rõ: Tháng 12-1945 Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam thành lập, đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch, đồng chí Hoàng Quốc Việt, Uỷ viên Trung ương Đảng, làm Uỷ viên chính trị và các Đại đoàn[2]

Như trên cho thấy rõ là tướng Nguyễn Sơn chỉ được chỉ định Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu 4 từ năm 1947. Và ở đoạn sau trong bài điếu vănđó được ghi thêm: “Trong những ngày đầu cuộc kháng chiến (chống Pháp từ Nam Bộ, cuối năm 1945, khi giặc đánh lấn ra các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên…) đồng chí đã góp phần tiêu hao và tiêu diệt quân địch, làm chậm bước tiến của chúng ở miền nam Trung Bộ. Đồng chí đã tham gia rèn luyện quân đội, góp phần vào việc đào tạo các lớp cán bộ đầu tiên của trường Lục quân Quảng Ngãi (từ 6-1946 đến 11-1946 – TV) và trong việc bổ túc cán bộ quân sự…”.

Trích dẫn như trên hẳn đã rõ. Còn tướng Nguyễn Sơn được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đặc phái giữ trọng trách Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam (tức là vùng đất sau này là Liên khu 5, tính từ các tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, Quảng Ngãi vào các tỉnh cực nam Trung Bộ, Bình Thuận lên Tây Nguyên). Và cũng chính tướng Nguyễn Sơn là người đầu tiên có mặt khi các đoàn quân Nam tiến từ ngoài Bắc và miền Trung vào Nam Bộ bảo vệ mảnh đất phía Nam của Tổ quốc. Cũng cần nói rõ thêm, thời gian cuối 1945 qua năm 1946, là thời gian quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch trong phe Đồng minh được chỉ định tước vũ khí quân Nhật đầu hàng, riêng từ miền Trung là từ Quảng Trị vào đến Bình Định, đèo Cù Mông, giáp Phú Yên. Thời gian này, bọn quân Tưởng Giới Thạch đang gây bao khó khăn cho ta, nhất là ở miền Bắc khi giặc Pháp phản bội Hiệp định mồng 6-3-1946, phá Hội nghị Đà Lạt, lập “nước Nam Kỳ tự trị”, cũng là khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 6-1946 qua Pháp cùng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, dự Hội nghị Fontainebleau…

Cuối năm 1945, vào ngày 23 tháng 10, giặc Pháp đưa thiết giáp hạm Richelieu ra phong toả vùng biển Khánh Hoà và mặt trận Nha Trang bùng nổ, đúng một tháng sau ngày Nam Bộ kháng chiến. Mặt trận Nha Trang kéo dài 101 ngày, đến đầu tháng 2 năm 1946. Để bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài, lực lượng vũ trang Nha Trang – Khánh Hoà đã rút về căn cứ Đồng Trăng và ngăn chặn địch đánh lấn ra Phú Yên, Bình Định.

Đoán trước tình hình chiến sự đó, đầu tháng 12-1945 “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử phái đoàn Chính phủ do đồng chí Lê Văn Hiến dẫn đầu vào nắm tình hình mặt trận miền Nam. Cùng lúc đó đồng chí Võ Nguyên Giáp vào chiến trường kiểm tra tình hình quân sự để truyền đạt chỉ thị của Trung ương và Chính phủ”[3].

Nói rõ hơn, trong tháng 12-1945, trước đó Chính phủ ta đã có quyết định thành lập Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam (UBKCMNVN), như lời điếu trong lễ tang tướng Nguyễn Sơn đã dẫn Người được “đặc phái giữ trọng trách Chủ tịch UBKCMNVN”. Đồng chí Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch UBKCMNVN Nguyễn Sơn đã có mặt khi chiến sự đang diễn ra ở mặt trận Nha Trang. Xin trích một đoạn ghi đồng chí Nguyễn Mô (Bùi Định), nguyên Bí thư Khu 6, người dự mặt trận Nha Trang, trong cuốn Mặt trận Nha Trang – Khánh Hoà[4]: “Khi anh Văn vào giữa lúc ông Sơn bắt ông (Trần Công) Khanh bị phạt, nguyên do là trận đánh ở Võ Cạnh – Vĩnh Xương…

Ông Khanh về báo cáo nhưng quần áo lấm lem lấm bụi. Ông Sơn mới hỏi: “Anh đi đâu về”? Ông Khanh mới khoe việc ảnh đánh trận Võ Cạnh…

          Ông Sơn nói: “Anh đứng nghiêm vô trong góc kia! Tôi lấy tư cách Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiếm miền Nam Việt Nam. Tôi ra lệnh cho anh.

          Ông Văn ngồi cười… - Anh đứng yên vào góc kia! Tôi phạt anh đó! Đứng nghiêm lại! Anh là chỉ huy hay là lính? Anh chỉ huy sao không ở cơ quan chỉ huy mà chạy lăn ra như người lính! Vậy thì tôi cách chức anh ra làm lính…

          Ông Khanh sợ ông Sơn lắm…

          Ông Văn ngồi cười… ».

Xin ghi thêm một chi tiết nữa: Đồng chí Tê Đơ (Phạm Kiệt), một trong những chỉ huy mặt trận Nha Trang ra Quảng Ngãi báo cáo tình hình chiến sự, quần áo lếch thếch bụi đường trường, Nguyễn Sơn bảo đứng nghiêm và phán “ Đồng chí về tắm rửa thay quần áo rồi hãy đến gặp tôi...”. Tác phong của Nguyễn Sơn là vậy![5].

Sự việc được thuật lại trên cho thấy tính nghiêm khắc nhưng cũng hết sức thân tình trong những ngày đầu của quân đội non trẻ có một vị Chủ tịch UBKCMNVNđồng thời là Tư lệnh trưởng 3 Quân khu 5-6 và 15 (Tây Nguyên) như vậy, trước đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) là Trưởng đoàn thanh tra của Trung ương và Chính phủ. Sau đây xin kể thêm lời kể của Đoàn Huyên (Giáo sư Thiếu tướng), nguyên trong đơn vị Nam tiến của Thừa Thiên – Huế từ mặt trận miền đông Nam bộ và cực nam Trung Bộ ra, qua mặt trận Nha Trang – Khánh Hoà đầu 1-1946. Anh Đoàn Huyên ghi: “Khi cùng đoàn ghé Sở chỉ huy của đồng chí Tê Đơ (tức T2 đọc theo tiếng Pháp, tên gọi lúc đó của đồng chí Phạm Kiệt), đang đóng ở đình Xuân Hoà (huyện Bình Hoà) gần đường 21 (khoảng 5km), đã được gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp và tướng Nguyễn Sơn. Đây cũng là thời gian đơn vị Nam Long quần nhau với địch ở mặt trận Mađrắc – đường 21. Lúc ấy đồng chí Võ Nguyên Giáp đang suy nghĩ đi đi lại lại trước sân đình, còn đồng chí T2 (Phạm Kiệt) thì đang hét trong máy điện thoại ra lệnh cho đồng chí Nam Long. Lúc ăn cơm có mặt cả Chủ tịch UBKCMNVN Nguyễn Sơn, mọi người không phân biệt chỉ huy cấp này cấp kia với lính, đều ngồi xổm trên chiếu rơm toàn rau và nước mắm, ít cá khô”. (T.V ghi)

 Như trên là từ mặt trận, khi ấy ta chỉ tạm phân chia ba quân khu 5-6 và 15 thành 3 Đại Đoàn 23, 27 và 31. Đại đoàn trưởng 27 là Trần Công Khanh, người đã bị Nguyễn Sơn, với tư cách là Chủ tịch UBKCMNVN phạt đứng nghiêm như vừa kể trên. Quảng Ngãi, cái nôi của phong trào cách mạng của các tỉnh miền trung Trung bộ đến cực nam Trung Bộ (Từ Quảng Nam – Đà Nẵng vào Phan Thiết – Bình Thuận) với đội du kích Ba Tơ nổi tiếng, nơi xuất phát của các đơn vị Nam tiến đầu tiên ở miền Trung. Trụ sở chính của UBKCMNVN đóng tại thị xã, khi Chủ tịch Nguyễn Sơn điều hành các mặt trận ở ba quân khu 5, 6 và 15 (Tây Nguyên). Chính từ đây. Dựa vào kinh nghiệm chiến đấu của Đảng cộng sản Trung Quốc với chiến khu Tân –Sát – Ký, Diên An trong một buổi tâm sự với đồng chí Nguyễn Đường (Trung tuớng, đã mất hồi tháng 10-1997) là Bí thư Đảng bộ đầu tiên Khu uỷ khu 6, đồng thời là nguyên Trưởng phòng Chính trị Đại Đoàn 23 cũ (Tây Nguyên), tướng Nguyễn Sơn tỏ nỗi lo nếu giặc Pháp làm chủ hoàn toàn Tây nguyên: “Nếu tình hình chiến sự kéo dài, ta sẽ dựa vào địa bàn giáp ranh giữa 3 tỉnh – bắc Bình Định – nam Quảng Nam với Quảng Ngãi là trung tâm, sẽ lập căn cứ địa chống Pháp lâu dài như Diên An…”. Lời tâm sự đó của đồng chí Nguyễn Đường đến chết vẫn không quên kể từ những ngày từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1946, là thời gian đồng chí Nguyễn Đường được Chủ tịch UBKCMNVN Nguyễn Sơn điều về Quảng Ngãi trong công tác Đảng (Nguyễn ĐườngNguyễn Sơn sinh hoạt cùng một chi bộ) và theo lớp bổ túc cán bộ Trung đoàn ở trường Quân chính (địa điểm trên đường từ thị xã Quảng Ngãi lên ga, phía dưới trường Võ bị Lục quân cũng khai giảng vào đầu tháng 6 năm 1946 đó. Trường này cũng do Chủ tịch UBKCMNVN Nguyễn Sơn làm Hiệu trưởng). Theo đồng chí Nguyễn Đường, dự kiến đó của Chủ tịch UBKCMNVN là thiết thực. Nhân danh của Chủ tịch, tướng Nguyễn Sơn trực tiếp chỉ đạo ba Đại Đoàn, luôn có mặt trên các chiến trường (sau này là Liên khu 5), từ mặt trận Nha Trang vào các tỉnh cực nam Trung Bộ, lên Tây Nguyên, (tất nhiên là từ con đường 19 nối vùng đồng bằng Bình Định – Quy Nhơn lên An Khê – Pleicu). Đây là thời gian nóng bỏng của cuộc kháng chiến ngăn giặc mở rộng địa bàn chiếm đóng, nhất là khi cuối tháng 1-1946, viên tướng Pháp, Leclerc trực tiếp chỉ huy đã chiếm được Buôn Ma Thuột.Xin nói thêm về tầm quan trọng của chiến trường Tây Nguyên. Khi giặc Pháp nống ra chiếm đóng Pleicu, Trung ương đã cử một phái đoàn cao cấp do đồng chí Đàm Minh Viễn (anh ruột Thượng tướng Đàm Quang Trung sau này) làm Trưởng đoàn lên kiểm tra thị sát. Nhân đó Chủ tịch Nguyễn Sơn đã cửmột sĩ quan Nhật tham gia. Đó là đại tá Ikawa (Nhất Cửu) đã theo Việt Minh sau khi Nhật đầu hàng phe Đồng minh. Ikawa nguyên là đại tá, Tham mưu trưởng tập đoàn quân chiếm đóng Đông Dương, đặc trách miền trung Trung bộ, từ Savanakhet bên Lào, qua Đông Hà (Quảng Trị) vào đến Quy Nhơn, đèo Cù Mông, giáp giới Phú Yên trở ra, là vùng quân Tưởng Giới Thạch sẽ vào giải giáp quân Nhật. Ikawa đã cùng nhiều sĩ quan lính Thiên Hoàng theo Việt Minh (trụ sở đóng ở Huế và Đà Nẵng sau ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp), khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã giúp cho quân đội non trẻ của ta có nhiều vũ khí loại tốt, quân trang quân dụng. Trong số sĩ quan đó, có nhiều người trở thành giáo viên quân sự, dạy quân sự cho 4 đại đội trưởng Võ bị Lục quân Quảng Ngãi từ tháng 6-1946 ([6]). Ikawa là chỉ huy trưởng một tập đoàn Nhật, có kinh nghiệm chiến trường, lại là người được Chủ tịch nguyễn Sơn tin cậy “đáng mặt quân tử” qua việc huấn luyện quân đội non trẻ của ta, có mưu lược và dũng cảm trong thời gian chiến đấu. Vì vậy, nên Ikawa mới được Chủ tịch Nguyễn Sơn cử theo đoàn cán bộ cao cấp Trung ương. Đồng chí Đàm Minh Viễn chấp nhận ngay. Đoàn khởi hành từ Quy Nhơn, theo đường 19 lên An Khê, đi trên 1 xe Jeep và một xe Camion. Lúc qua khỏi đèo Măng Giang thì máy bay Pháp ập đến. Lực lượng không cân sức, cả đoàn ta hy sinh vì vướng mìn. không cân sức, lại vướng mình đặt bên đường, nên cả phái đoàn hy sinh…

          Tháng 12-1946 Trung ương Đảng và Chính phủ có chỉ thị giải thể UBKCMNVN. Trước đó giữa tháng 11 trường Võ bị Lục quân Quảng Ngãi cũng tạm mãn khoá để các học viên được phân về các đơn vị toàn quốc tham gia chiến đấu. Trên 500 anh em, đa số được phân công (đi tàu hoả) ra Bắc và Liên khu 4 (sau này). Còn khoảng trên 50 người,  đa sốhọc sinh Bình Trị Thiên và quê ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định thì được điều về các tính phía Nam. Tất cả tập trung ở thành Bình Định (thời nhà Tây Sơn) vẫn còn nguyên vẹn, rồi phân công theo các quân khu 5, 6 và 31 (Tây Nguyên, cực nam Trung Bộ). Cá nhân tôiThái Vũ được phân công ở lại Bình Định, sau này thuộc Đại Đoàn 27, Trung đoàn 68… lên mé Tây Nguyên theo đường 19, Qui Nhơn – An Khê, tập trung ở Phú Phong (vùng đất của quê hương anh em Tây Sơn, với cấp bậc Trung đội trưởng). Trung đội tôi đóng ở đầu nguồn sông Côn, giữa con đường 19, cảnh giác giặc Pháp từ An Khê – Pleicu tràn xuống. Khoảng tết Đinh Hợi (1947), trước khi giặc Pháp vào hè năm đó đánh xuống đường 19 – Phú Phong, Bình Định, đang chiến đấu thì được điều qua Đại Đoàn 23 của anh Cao Văn Khánh, Trung đoàn 67, hành quân cấp tốc ra Quảng Ngãi và chốt quân ngay sau Tết giữ vùng biển Sa Huỳnh, đèo Bình Đê, giáp ranh Bình Định, cả ngoài Long Thạnh. Khoảng tháng 3 có lệnh hành quân cấp tốc ra thị xã Quảng Ngãi đã thành bình địa sau tiêu thổ kháng chiến, xuống cả vùng biển Thu Xà, rồi hành quân về Đức Phổ, đóng quân ở 2 xã Phổ PhongPhổ An, dọc tỉnh lộ 5A từ Ba Tơ xuống. Anh Kiểm dân Nam tiến về làm Đại đội trưởng, tôi (Thái Vũ) là Đại đội phó. Đây là thời gian tôi “huấn luyện quân” lính mới, dân vùng biển Mộ Đức và Đức Phổ. Sau đó, anh Kiểm chuyển đơn vị khác, mình tôi phụ trách rồi có lệnh đặc trách đưa quân lên khu vực núi rừng Ba Tơ, ém quân trong rừng sâu nước độc, không ở nhà dân, bà con dân tộc Ba Tơ hỗ trợ đơn vị xây lán. Đây là chuyện tôi đã kể khi qua suối gặp đỉa. Đây cũng là thời gian Chính uỷ Bộ Tư lệnh Liên khu5 Trần Lươngđã 2 lần đến thăm đơn vị tôi, ở lại đêm cùng đơn vị, thức cùng tôi, kể cho tôi nghe “chuyện cọp vồ” hụt anh thuở trước khi anh đi đốt than kiếm sống mà tôi cũng đã kể ở phần trước Hồi ức này. Đúng là núi rừng “ma thiêng, nước độc”, rận đầy người nói gì trăn rắn, nên chỉ khoảng 2 tháng sau 2 chiến sĩ đơn vị tôi bị sốt sét ác tính, anh Dự bị điên chạy vào rừng trên 3 ngày mà không tìm ra. Và chính tôi cũng bị sốt sét ác tính, nhưng rất nặng, mấy ngày sau “ngất lịm” tưởng chết. Lúc tỉnh dậy nhờ có anh bạn Hoài Nguyên, đến thăm khi tôi dần tỉnh. Tôi chỉ ghi thêm vài chi tiết… cho rõ hơn. Như vậy, trong năm đầu kháng chiến chống Pháp 1947, tôi được vinh dự “cầm quân” ở phía nam Quảng Ngãi (vùng Sa Huỳnh – Long Thạnh) rồi phía tây Quảng Ngãi ém quân dọc tỉnh lộ 5A, lên Ba Tơ. Cũng buồn nếu tôi không bị “sốt rét ác tính” với bệnh tim và thần kinh. Nhưng nhờ trình độ văn hoá, tôi được Tư lệnh trưởng Liên khu 5 Cao Văn Khánh (trước khi anh ra Việt Bắc), và Chính ủy Trần Lương cho chuyển làm huấn luyện viên quân sự (dạy trường TH Lê Khiết) và dạy Văn ở trường Trung học Bình dân Quân sự Liên khu 5 từ 1948 – 1950 …

Tháng 10-1947 – tháng 12-2004

............................................................................

[*]: Trích hồi ký của nhà văn Thái Vũ (chưa xuất bản)

[1]: Khu 5, 30 năm chiến tranh giải phóng – Sđd, tr 73, 74, 75.  

[2]: Kỷ yếu 50 năm trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi, xuất bản 1996, tr 32.

[3]: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược9/1945 – 7/1954, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân và Sự thật, 1986.

[4]: Mặt trận Nha Trang – Khánh Hoà 23/10/1945, xuất bản 1994, tập 2, tr 115

[5]: Mặt trận Nha Trang – Khánh Hoà, Sđd.

[6]: Kỷ yếu 50 năm trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi, Sđd và bài đăng báo Tiền Phong của Đại tá Huỳnh Thúc Tuệ - sinh viên trường Lục quân ở Đại đội II.

  

 

Các bài khác:
· KỲ BÍ HAI NGÔI MỘ 'BỊ XIỀNG' Ở ĐÀ NẴNG
· BÀI PHÁT BIỂU CỦA BÀ MICHELLE OBAMA TẠI ĐẠI HỘI ĐẢNG DÂN CHỦ MỸ
· VĨNH BIỆT NHÀ VĂN THÁI VŨ
· LỄ RA MẮT, THƯ NGỎ VÀ DANH SÁCH HỘI VIÊN CLB THƠ TRÀ GIANG
· NỖI NIỀM RIÊNG CỦA SỬ GIA TRẦN HUY LIỆU
· TRUYỀN THUYẾT THẠCH TƯỚNG QUÂN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ ĐÁ
· TỪ GỌI 'SINH THỰC KHÍ NAM' TRONG DÂN GIAN
· NHỮNG BỨC TIỂU HỌA ĐÁNG KINH NGẠC
· BẠN KHÔNG THÀNH NGƯỜI TRUNG QUỐC ĐƯỢC ĐÂU
· VUA GIA LONG VÀ TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
· HỎI - ĐÁP VỀ THỜI ÂU LẠC
· THƯ MỜI THAM GIA CÂU LẠC BỘ THƠ 'TRÀ GIANG'
· NGỠ NGÀNG VỚI TRANH VẼ NHƯ THẬT
· GIỚI THIỆU MỘT SỐ HÌNH ẢNH VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC
· XUNG QUANH VẤN ĐỀ 'CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN VĂN'
· XUNG QUANH VẤN ĐỀ 'CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN VĂN'
· CÁCH ĐẶT TÊN KÉP CỦA VUA MINH MẠNG CHO CON CHÁU TRONG HOÀNG TỘC
· ĐỀ NGHỊ UNESCO VINH DANH NGUYỄN DU - SUÝT PHẢI CHỜ 50 NĂM NỮA
· NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ NGỌC TÚ QUA ĐỜI
· GIẾNG LÀNG XƯA TRONG THỜI HIỆN ĐẠI

 

  
Gia đình Bích Khê