THÔNG TIN
 
NGOẠI TỘC DÀY XÉO, CAI TRỊ TRUNG QUỐC (KỲ 4)

  • Hồ Bạch Thảo

5. An Lộc Sơn, Sử Tư Minh dấy loạn đời Đường.

A. An Lộc Sơn:

An Lộc Sơn, cha thuộc dân tộc Hề Túc Đặc; mẹ thuộc bộ tộc Đột Quyết. Mô côi cha lúc nhỏ, mẹ cải giá lấy viên quan Đột Quyết An Diên Yển; bèn dùng họ An và đổi tên là Lộc Sơn. An Lộc Sơn thông hiểu 6 thứ tiếng, nên lúc khởi đầu giữ chức Hỗ thị nha lang với nhiệm vụ thông dịch trong việc buôn bán. Làm con nuôi Tiết soái Trương Thủ Khuê, được thăng chức Thiên lô Tướng quân. Đường Khai Nguyên thứ 28 [740], An Lộc Sơn giữ chức Binh mã sứ Bình Lô [Triều Dương thị, tỉnh Liêu Ninh], tính nhanh nhẹn mẫn tiệp nên được tiếng khen; y dùng lễ vật hối lộ cho các quan, đem tiếng khen đến tai vua Huyền Tông, nên được nhà vua yêu thích. Năm Thiên Bảo thứ nhất [742] Đường Huyền Tông lập Tiết độ sứ Bình Lô, giao cho An Lộc Sơn làm Tiết độ sứ. Từ đó An Lộc Sơn có dịp vào triều tấu bàn, được Đường Huyền Tông sủng ái thêm. Năm Thiên Bảo thứ 3 [744] thay Bùi Khoan giữ chức Tiết độ sứ Phạm Dương [Bắc Kinh]; vẫn kiêm nhiệm chức Thái phỏng Hà Bắc, Tiết độ sứ Bình Lô. Sau này An Lộc Sơn xin làm con nuôi Dương Quí Phi, mỗi lần đến triều kiến Đường Huyền Tông đều bái yết Dương Quí Phi trước; Huyền Tông lấy làm lạ bèn hỏi, Lộc Sơn tâu:

Thần là người Hồ, theo tục người Hồ đặt mẹ lên trước, cha sau.”

Huyền Tông nghe rất vui, mệnh anh em nhà họ Dương kết bà con, xưng anh chị em với An Lộc Sơn. An Lộc Sơn càng cao tuổi càng mập, bụng phệ xuống gần đầu gối, nặng 330 cân [115 kg], lúc đi phải chuyển dịch bằng 2 vai mới động thân được; nhưng khi múa vũ dân tộc Hồ cho vua Huyền Tông xem thì nhanh như gió. Năm Thiên Bảo thứ 10 [751] An Lộc Sơn đến kinh sư triều kiến vua Huyền Tông, xin đảm nhiệm Tiết độ sứ Hà Đông [Sơn Tây], được chấp thuận; Lộc Sơn có 11 con: con trưởng An Khánh Tông giữ chức Thái bốc lang, em là An Khánh Tự giữ chức Hồng lô khanh; An Khánh Tông lấy con gái Hoàng thái tử.

1.                   Chuẩn bị nỗi loạn.

An Lộc Sơn ngầm chuẩn bị làm loạn, tại phía bắc thành Phạm Dương cho xây thêm thành Hùng Vũ, ngoài mặt bảo rằng để chống giặc phương bắc, nhưng thực chất dùng để tích trử nhiều vũ khí, lương thực, ngựa chiến 1 vạn 5 ngàn con, dê cũng có số tương đương. Một mình Lộc Sơn kiêm nhiệm Tiết độ sứ 3 trấn Bình Lô, Phạm Dương, Hà Đông; tương đương với 3 tỉnh Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Tây ngày nay.

Tháng 6 năm Thiên Bảo thứ 11 [752] An Lộc Sơn mang trên 5 vạn kỵ binh đánh Khiết Đan, quân viễn chinh tiến xa, cách thành Bình Lô hàng ngàn dặm; cuối cùng bị Khiết Đan đánh kẹp, phân tán tháo chạy trở về thành Bình Lô. Sau đó lại cố lập công, mang quân đánh các bộ tộc Hề, Khiết Đan, thu thắng lợi; Đường Huyền Tông cho y là tướng giỏi như thành luỹ vững giữ nước, nên ban lời khen “An biên trường thành”. Nhưng Thừa tướng Dương Quốc Trung nhiều lần tâu rằng An Lộc Sơn nhất định sẽ phản loạn; nên năm Thiên Bảo thứ 12 [753] Huyền Tông sai Hoạn quan Phụ Tốc Lâm đến dò xét, Viên này nhận hối lộ của An Lộc Sơn nên trở về tâu rằng An Lộc Sơn lòng trung thành sáng tỏ.

Tháng giêng năm Thiên Bảo thứ 13 [754] An Lộc Sơn đến cung Hoa Thanh yết kiến Đường Minh Hoàng, thừa dịp khóc than:

Thần là người dân tộc Hề, không biết chữ Hán; được Hoàng thượng vượt cấp đề bạt, nên Dương Quốc Trung muốn giết.”

Đường Huyền Tông nghe vậy, lại tỏ ra tin cẩn thân thiết hơn, thăng thêm chức Tả bộc xạ. Lúc này ai mà nói An Lộc Sơn âm mưu tạo phản, Huyên Tông bèn nỗi giận lôi đình, bắt trói giao cho Lộc Sơn!

2.                   An Lộc Sơn Sơn nỗi loạn.

Thời vua Đường Huyền Tông niên hiệu Khai Nguyên bước sang Thiên Bảo, vận nước bắt đầu từ thịnh chuyển sang suy. Do vấn đế quản chế quân tại biên thuỳ buông lỏng, cấm quân tại trung ương thì bạc nhược; khiến thực lực biên trấn mạnh hơn trung ương. An Lộc Sơn đặt mật báo tại kinh đô, nắm rõ nội tình, nên càng khinh thường triều đình. Sau khi Tể tướng Lý Lâm Phủ mất, trong triều An Lộc Sơn không còn kiêng kỵ ai nữa; lại bất hoà với tân Tể tướng Dương Quốc Trung, nên hai họ Dương, An tranh nhau đả kích, dành sủng ái từ nhà vua. Ngoài ra do bất hoà với Thái tử Lý Hanh [vua Túc Tông sau này], An Lộc Sơn cảm thấy bất an trong tương lai, thúc đẩy tham vọng sẵn trong lòng dấn thân vào cuộc nỗi dậy.

Năm Thiên Bảo thứ 14 [755] Đường Huyền Tông triệu Lộc Sơn vào kinh, y cáo bệnh từ chối. Tháng 11 cùng năm, An Lộc Sơn từ Phạm Dương [Bắc Kinh] khởi binh làm phản; gian trá tuyên bố rằng phụng chiếu chỉ của Đường Huyền Tông, đánh dẹp bè đảng ngỗ nghịch Dương Quốc Trung. Lộc Sơn đốc suất kỵ binh, bộ binh 15 vạn, xuất phát lúc nữa đêm, một ngày tiến được 60 lý; dùng Cao Thượng, Nghiêm Trang làm mưu chủ; Tôn Hiếu Triết, Cao Mạo, Hà Thiên Niên làm thành viên chủ chốt. Bấy giờ trong nước bình yên đã lâu, dân chúng không quen việc chinh chiến; nghe tin An Lộc Sơn phản loạn bùng nỗ, triều đình quan quân giao động sợ sệt. Những lính bảo vệ cung đình phần lớn tuyển từ con cái dân buôn tại kinh thành, không có lòng quyết chí chiến đấu; trước sau triều đình dùng những người như Cao Tiên Chi, Phong Thường Thanh làm Đại tướng lo việc chống cự.

Tháng 12 quân An Lộc Sơn vượt sông Hoàng Hà tấn công vào quận Trần Lưu [Khai Phong thị, Hà Nam];Tiết độ sứ Hà Nam tử trận, con trai lớn của An Lộc Sơn là  An Khánh Tông cũng bị giết; việc này khiến Lộc Sơn tức giận bắt quân đầu hàng chia làm 2 phe chém giết lẫn nhau. Khi đến thành Trần Lưu, Thái thú Quách Nạp chống cự một lúc, rồi mở cửa thành ra hàng.

Phong Thường Thanh bố trí chặn địch tại phía đông cố đô Lạc Dương, cho đốn cây làm chướng ngại vật, nhưng không ngăn chặn được. Quân An Lộc Sơn tiến vào thành Lạc Dương, giết bọn Ngự sử Tưởng Thanh, rồi gọi Hà Nam duẫn Đạt Hề Tuần cho coi thành. Sau khi thất bại, Phong Thường Thanh mang bại binh rút về Thiểm quận [Tam Môn Hiệp thị, Hà Nam]; bấy giờ Cao Tiên Chi mang quân giữ Thiểm thành cũng sợ rút về Đồng Quan [giáp giới Hà Nam-Thiểm Tây], quan quân sợ hãi quân An Lộc Sơn truy cản, dẫm đạp vào nhau tắc nghẽn cả đường sá.

Tháng giêng năm Thiên Bảo thứ 15 [756] An Lộc Sơn xưng Đế, đặt tên nước là Yên, niên hiệu Cảnh Vũ; dùng những người như Dạt Hề Tuần giữ các chức như Thừa tướng. Tháng 5, Tiết độ sứ Nam Dương Lỗ Linh mang 10 vạn quân Kinh Châu, Tương Châu, Kiềm Trung, Kiềm Nam đánh nhau với tướng Vũ Linh Tuần thuộc phe nỗi dậy tại phía bắc sông Phân Hà thuộc huyện Diệp [Hà Nam], nhưng toàn quân bị sụp đổ. Tháng 6, Lý Quang Bật, Quách Tử Nghi từ Thổ Môn Lộ mang quân đánh; bại quân làm phản tại Gia Sơn thuộc quận Thường Sơn [Thạch Gia Trang, Hà Bắc] khiến cho một số châu quận tại Hà Bắc xin hàng triều đình; việc này khiến cho An Lộc Sơn lo lắng, muốn mang quân về giữ căn cứ Phạm Dương [Bắc Kinh]. Gặp lúc Ca Thư Hàn bị Đường Huyền Tông ép, mang 8 vạn kỵ binh từ Đồng Quan đến Linh Bảo [Linh Bảo thị, Hà Nam] giao chiến với phản tướng Thôi Càn Hữu, đạo quân bị đánh sụp gần toàn bộ; Ca Thư Hàn về đến Đồng Quan, bị quân lính dưới quyền bắt giao cho quân làm phản. Đồng Quan thất thủ, Đường Huyền Tông cùng Cung phi, Tôn thất hốt hoảng chạy loạn. Trên đường qua đất Thục, tại gò Mã Ngôi quân sĩ làm reo không chịu cất bước, kết tội Dương Quí Phi tư thông với An Lộc Sơn. Trước sự đòi hỏi của quan quân, vua đành gạt nước mắt để cho Dương Quí Phi bị xử thắt cổ; rồi theo đoàn quân đi lên ải Kiếm Các vào đất Thục. Tấn thảm kịch được Thi sĩ Bạch Cư Dị ghi lại trong thi phẩm Trường Hận Ca [] như sau:

…漁陽鼙鼓動地來,

驚破霓裳羽衣曲。
九重城闕煙塵生,

千乘萬騎西南行。

翠華搖搖行復止,

西出都門百餘里。
六軍不發無奈何,

宛轉蛾眉馬前死。

花鈿委地無人收,

翠翹金雀玉搔頭。
君王掩面救不得,

回看血淚相和流。

黃埃散漫風蕭索,

雲棧縈紆登劒閣…..。

Ngư Dương bề cổ động địa lai,

Kinh phá Nghê Thường vũ y khúc.

Cửu trùng thành khuyết yên trần sinh,

Thiên thặng vạn kỵ tây nam hành.

Thuý hoa giao giao hành phục chỉ,

Tây xuất đô môn bách dư lý.

Lục quân bất phát vô nại hà,

Uyển chuyển nga mi mã tiền tử.

Hoa điền uỷ địa vô nhân thâu,

Thuý kiều kim tước ngọc tạo đầu.

Quân vương yểm diện cứu bất đắc,

Hồi khan huyết lệ tương hoà lưu.

Hoàng ai tán mạn phong tiêu tác,

Vân sạn oanh vu đăng Kiếm Các….

(Tiếng trống nỗi dậy tại quận Ngư Dương [Bắc Kinh] đánh dồn dập.

 Phá hỏng đêm truy hoan thưởng thức vũ khúc Nghê Thường của nhà vua.

Kinh thành khói lửa dấy lên,

Đứng chí tôn và vạn quân kỵ từ Trường An di chuyển theo hướng tây nam,

Ngọn cờ Thuý hoa phất phơ, hết đi rồi lại đứng.

Ra khỏi kinh đô đến hơn 100 lý,

Lục quân [quân dưới quyền vua] không chịu đi, không biết làm sao đây!

Người đẹp mày ngài Dương Quí Phi đành phải chết trước lưng ngựa.

Lược ngọc hoa điền cùng cặp tóc kim tước của nàng rơi xuống đất, mà không ai dám nhặt.

Nhà vua đau khổ che mặt không cứu được.

Khi quay lại, thì thấy ngài nước mắt đẫm máu tuôn ra.

Bấy giờ bụi trần bay mù mịt, gió rít thê lương,

Đoàn quân theo con đường dốc quanh co lên ải Kiếm Các…)

Lúc này Thái tử Lý Hanh [Túc Tông] tập trung quân chống phản loạn tại Linh Vũ [Linh Vũ thị, Ninh Hạ]. An Lộc Sơn sai Trương Thông Nho giữ tây kinh Trường An; tháng 11 sai Ha Sử Na Thừa Khánh đánh chiếm Dĩnh Châu tại phía đông [Khai Phong thị, Hà Nam].      

3.An Lộc Sơn bị con giết.

An Lộc Sơn thân thể phì mập, bị viêm da lâu năm; lúc bắt đầu làm phản thì mắt mờ, rồi trầm trọng hầu như mắt không thấy. Vào mồng một tết năm Chí Đức thứ 2 [757], An Lộc Sơn tiếp nhận triều bái của bầy tôi, vì thân thể bị đau nên nữa chừng phải bỏ dở. Do bệnh đau nên hay phiền giận; bất như ý là trách phạt nặng nề, ngay cả mưu chủ như Nghiêm Trang cũng bị đánh bằng gậy. Nghiêm Trang ôm hận, thông đồng với con Lộc Sơn là An Khánh Tự, cùng Hoạn quan Lý Trư Nhi; giết An Lộc Sơn. Chúng để cho An Khánh Tự đứng cửa ngoài, riêng Nghiêm Trang và Lý Trư Nhi mang đao vào phòng ngũ của An Lộc Sơn; Trư Nhi vung đao đâm vào bụng, Lộc Sơn mắt mù không vươn tay lấy được thanh bảo kiếm để trên đầu, chỉ kịp kêu lên:

Tên này là giặc trong nhà ư!”

Kêu la xong rồi tắt thở. Thi hài An Lộc Sơn được bao bằng chăn lông thú, rồi đem chôn ngay dưới chân giường; mọi việc đều giấu kín. Nghiêm Trang lập tức tuyên cáo rằng An Lộc Sơn truyền ngôi cho An Khánh Tự, xưng là Thái thượng hoàng. An Khánh Tự đam mê tửu sắc, tôn xưng Nghiêm Trang bằng anh, việc bất kỳ lớn nhỏ đều xin ý kiến.

Sau này Sử Tư Minh giết An Khánh Tự, lên ngôi Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Yên, phong thuỵ hiệu cho An Lộc Sơn là Quang Liệt Hoàng đế.

B.                  Sử Tư Minh.

Sử Tư Minh [703-761] tên lúc nhỏ là Tốt Can, người dân tộc Đột Quyết, dung mạo xấu xí, biết 6 thứ tiếng, cùng làng với An Lộc Sơn. Đầu năm Thiên Bảo, mấy lần lập công lên đến chức Tướng quân, giữ chức Tri Bình Lô quân sự [Triều Dương thị, Liêu Ninh]. Theo An Lộc Sơn đánh Khiết Đan, trở về được giữ chức Bình Lô Binh Mã sứ, rồi được Đường Huyền Tông ban tên là Sử Tư Minh.

1.                   Theo An Lộc Sơn làm phản.

Những năm cuối thời Huyền Tông, nhà vua tin dùng các Tể tướng Lý Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, chính trị hủ bại; tự cho là nước mạnh có ý đồ mở mang biên cương, lập thêm 10 Tiết độ sứ, ủng binh 49 vạn, khiến bên ngoài mạnh, mà bên trong thì yếu. Vào tháng 11 năm Thiên Bảo thứ 14 [755], An Lộc Sơn, Sử Tư Minh giả trá tuyên bố rằng nhận mật chỉ đánh dẹp Dương Quốc Trung, dùng 15 vạn quân phản nhà Đường, nhanh chóng chiếm vùng Hà Bắc. Rồi quân phản biến đánh xuống nam, vượt sông Hoàng Hà, năm thứ 2 đánh chiếm Lạc Dương, An Lộc Sơn xưng Đế tại đây; riêng lệnh Sử Tư Minh kinh lược Hà Bắc, được phong làm Tiết Độ sứ Phạm Dương, chiếm 13 quận, nắm hơn 8 vạn quân.

Sau khi An Lộc Sơn tạo phản, Sử Tư Minh hoành hành vùng Hà Bắc, quân đi đến đâu đều thu hoạch thắng lợi. Cho đến đầu năm thứ 15 [756], đạo quân của Sử bị Lý Quang Bật, Quách Tử Nghi đánh bại tại Thường Sơn [Thạch Gia Trang, Hà Bắc], thua chạy đến Bác Lăng. Quân Sử Tư Minh ở tình thế sắp bị tiêu diệt, khiến An Lộc Sơn chuẩn bị mang quân về cứu; thì hốt nhiên tin báo quân nhà Đường do Ca Thư Hàn chỉ huy, thất bại tại Đồng Quan, quân tạo phản trên đường vào chiếm kinh đô Trường An, bọn Lý Quang Bật phải mang quân trở về cứu. Lợi dụng dịp này, Sử Tư Minh bèn quay gót truy kích, đại phá quân Đường dưới quyền Lưu Chính Thần. Quân Sử Tư Minh thừa thắng đánh chiếm Thường Sơn, Triệu Quận [huyện Tán Hoàng, Hà Bắc], Hà Gian [Thương Châu thị]. Sau đó Sử Tư Minh mang quân đánh chiếm Thanh Hà [huyện Hạ Hạt, Hà Bắc]; đến năm Chí Đức đời Túc Tông [757] bao vây Lý Quang Bất tại thành Thái Nguyên [Sơn Tây], bị Bật dùng chước địa đạo (1) đánh bại. Vào năm này An Lộc Sơn bị con là An Khánh Tự giết, Sử Tư Minh chuẩn bị tự lập.

2.Hàng nhà Đường.

Sử Tư Minh từ khi vây thành Thái Nguyên bị Lý Quang Bật đánh thua, bèn rút về đóng tại Phạm Dương; được An Khánh Tự phong làm Xuyên vương, kiêm Tiết Độ sứ Phạm Dương. An Lộc Sơn khi đánh chiếm hai kinh đô Lạc Dương và Trường An, phần lớn những đồ trân quí đều đem về trữ tại Phạm Dương, chồng chất như núi; Sử Tư Minh muốn chiếm tất cả làm của riêng.

Sau khi An Khánh Tự thất thủ Lạc Dương bèn rút về Nghiệp Thành [Hà Bắc], gọi quân từ các châu quận xung quanh, được khoảng 6 vạn; riêng Sử Tư Minh đã không gửi binh, lại không gửi Sứ giả đến, khiến An Khánh Tự nghi là có hai lòng. Bèn sai Ha Sử Na Thừa Khánh, An Thủ Trung, Lý Lập Tiết mang 5.000 kỵ binh đến Phạm Dương với danh nghĩa đòi quân, nhưng thực chất là dò xét, để chuẩn bị đánh.

Sử Tư Minh nghe tin mấy người này cùng đến, biết rằng đối phương không có hảo ý, bèn đặt quân mai phục tại bản doanh, rồi mang mấy vạn quân ra ngoài cửa thành đón. Khi thấy bọn Sứ giả, Sử Tư Minh lập tức xuống ngựa chào hỏi, nắm tay ân cần tâm sự, rồi mời Sứ giả vào nhà khách, mệnh tấu nhạc thiết yến rất ân cần; giữa tiệc rượu Sử Tư Minh dằn ly xuống bàn ra hiệu, thì phục binh sau trướng lập tức xông ra bắt giữ 3 Sứ giả và đám tuỳ tùng. Sau đó Sử Tư Minh dâng thư triều đình nhà Đường xin qui hàng, nội dung nguyện ý đem 13 quận và 13 vạn quân dưới quyền đầu hàng. Vua Túc Tông nhận được tờ tâu, rất lấy làm cao hứng, lập tức phong Sử Tư Minh tước Qui Nghĩa vương, kiêm Tiết Độ sứ Phạm Dương, 7 người con đều được ban chức quan hiển hách. Nhận được tước phong, Sử Tư Minh lập tức giết An Thủ Trung và Lý Lập Tiết, để chứng tỏ thành ý với triều đình; riêng Ha Sử Na Thừa Khánh vì có giao tình cũ thâm sâu nên không nỡ giết.

 

 

3.Lại phản Đường rồi xưng Đế

Sử Tư Minh tuy bên ngoài ra vẻ tuân mệnh triều đình, nhưng không ngừng thông đồng với giặc, chiêu tập binh mã; khiến Đường Túc Tông phải đề phòng. Tháng 5 năm Càn Nguyên thứ nhất [758] dùng Ô Thừa Ân làm Phó sứ, đến doanh quân Sử Tư Minh sách động các tướng làm phản [sách phản], cùng thừa dịp giết Sử. Ô Thừa Ân nhiều dịp vào buổi tối giả trang làm đàn bà, đến gặp riêng các tướng để rỉ tai sách động làm phản. Việc phát giác bị bắt; Sử Tư Minh rất giận, giết Ô Thừa Ân, cùng con trai và 200 thuộc hạ. Ngay sau đó vào tháng giêng năm Càn Nguyên thứ 2 [759], Sử Tư Minh lại phản Đường tự xưng là Đại Thánh Chu vương.

Vua Túc Tông mệnh Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật chỉ huy 9 Tiết độ sứ đánh An Khánh Tự. Bấy giờ Quách Tử Nghi mới bị thua bại, nên Sử Tư Minh được dịp thu thập tàn quân trú đóng tại phía nam Nghiệp Quận [Hà Bắc]. Riêng An Khánh Tự thu thập được số lương do quan quân để lại, nên không chịu mua quân dụng hàng hoá của phe Sử Tư Minh. Sử Tư Minh bèn sai người đến khiển trách, khiến An Khánh Tự lo sợ, thậm chí xưng thần với Sử Tư Minh! Sử Tư Minh phúc đáp hãy bỏ lễ quân thần, cải xưng là anh em; rồi dụ dỗ An Khánh Tự đến uống máu tuyên thệ; khi 4 anh em An Khánh Tự đến, Sử Tư Minh đổi thái độ bắt tự tử.

Sau đó Sử Tư Minh vào thành Nghiệp chiêu an, rồi giao cho con là Sử Triều Nghĩa trấn thủ, tự rút về thành Phạm Dương. Tháng 5 đổi quốc hiệu là Đại Yên, xưng là Ứng Thiên Hoàng đế, niên hiệu Thuận Thiên, phong cho con Sử Triều Nghĩa làm Hoài vương. 

3.                   Sử Tư Minh bị bộ hạ và con mưu giết.

Tháng 2 năm Thượng Nguyên thứ 2 [761] Sử Tư Minh dùng kế đánh bại quân Quang Bật tại Bắc Mang, quân nhà Đường phải bỏ Hà Dương [huyện Mãnh, Hà Nam], Hoài Châu, khiến kinh đô chấn động. Nhân Sử Triều Nghĩa bị thua trận, khiến Tư Minh rất tức giận; sau đó lại ra lệnh xây thành tam giác, không hoàn thành đúng qui cách, bèn bắt Triều Nghĩa và các Đại tướng đến trình diện, doạ giết để lập quân uy. Sau sự kiện này khiến Sử Triều Nghĩa rất hận, bọn Lạc Duyệt lại khuyên Triều Nghĩa phải hạ thủ trước, Triều Nghĩa không dám quyết; bọn Lạc Duyệt uy hiếp nếu không theo sẽ đầu hàng nhà Đường, Triều Nghĩa đắn đo tư lự cuối cùng bằng lòng.

Rồi một đêm, bọn Lạc Duyệt mang đao đột nhập vào cung, nghe tiếng động Sử Tư

 Minh lén trèo qua tường, nhưng bị bắn trúng tay ngã xuống, rồi bị bắt giam. Bọn phản biến nguỵ tạo chiếu thư của Sử Tư Minh truyền ngôi Sử Nguyên Nghĩa kế vị. Sau đó nhắm tuyệt mối lo về sau, Lạc Duyệt cho dùng giây thắt cổ Sử Tư Minh.

C.                  Ảnh hưởng của loạn An, Sử.

Loạn An, Sử trải qua 7 năm 2 tháng thì bình định; đây không chỉ là khúc quẹo vận mệnh [turning point] của nhà Đường từ thịnh chuyển sang suy; nhưng còn ảnh hưởng đến Trung Quốc lâu dài về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hoá. Tư Mã Quang trong Tư Trị Thông Giám viết “ Từ đó hoạ loạn tiếp tục xảy ra, binh cách không ngừng; nhân dân đồ thán, không có chỗ kêu cứu hơn 200 năm”. Nay có thể tóm tắt một vài điểm nỗi bật như sau:

-Nhà Đường muốn kết thúc chiến tranh mau hơn, không ngừng chiêu dụ các hàng tướng An, Sử như bọn Lý Hoài Sơn, Điền Thừa Tự vv…rồi phong làm Tiết Độ sứ, cho giữ binh quyền; tự tuyển quân, chọn tướng. Tình trạng cát cứ xưng Vương, Hầu, càng về sau càng trầm trọng, cho đến lúc nhà Đường mất, còn kéo dài đến thời Ngũ Đại, Thập Quốc.

-Từ nhà Đường trở về trước, Trường An và Lạc Dương thay phiên làm kinh đô là trung tâm chính trị của cả nước. Sau loạn An, Sử, hai đô bị tàn phá; bởi vậy từ thời Ngũ Đại trở về sau, ngoại trừ nhà Hậu Đường định dô tại Lạc Dương, các triều đại khác không dùng Trường An và Lạc Dương làm kinh đô nữa.

-Loạn An Sử khiến kinh tế miền Hoa bắc, Quan Trung bị tàn phá nặng nề, riêng lưu vực sông Trường Giang tương đối được bảo toàn, nên phần lớn dân chúng di cư về nam, khiến kinh tế miền nam mỗi ngày một phát đạt.

-Do dẹp loạn An, Sử; triều đình nhà Đường thường mượn quân các ngoại tộc như Hồi Hột; khiến Hồi Hột tự thị có công trong việc bình loạn mấy lần đòi hỏi nhà Đường cấp tiền bạc. Vùng đất Tây Vức trước kia thuộc Đường, trong thời gian loạn An, Sử trở về sau bị Thổ Phồn [Tây Tạng], Hồi Hột chiếm lãnh, khiến con đường tơ lụa sang phía tây dần dần bị cắt đứt.

                               

                Chú thích:

 

1.Chước địa đạo: mưu chước chiến tranh bằng đường hầm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngoại tộc dày xéo, cai trị Trung Quốc (Kỳ 5)

 

6. Khiết Đan.

Khiết Đan là dân tộc sống tại miền đông bắc Trung Quốc, vừa định cư nông nghiệp, vừa du mục. Từ thế kỷ thứ 6 trở về trước, dân tộc Khiết Đan vẫn còn trong giai đoạn bộ lạc; đến đời sơ Đường sinh hoạt theo hình thức liên minh bộ lạc.Thời Vũ Hậu lên ngôi, Khiết Đan chịu sự áp bức, nên vào ngày 12/5 năm Vạn Tuế Thông Thiên [696] nỗi lên làm phản, tự xưng là Vô Thượng Khả Hãn. Từ đó có lúc qui thuận nhà Đường, cũng có lúc phản Đường.

A.                  Lập nước Đại Liêu.

Năm Thiên Bảo thứ 9 [907] Gia Luật Ha Bảo Cơ làm Khả Hãn, không theo qui định cũ bầu chọn một anh hùng từ các bộ lạc để giữ chức Khả Hãn, Bảo Cơ bắt chước chế độ quân chủ Trung Quốc, giữ chức suốt đời, rồi truyền ngôi theo thể thức cha truyền con nối. Các em đòi hỏi phải có tuyển cử, do đó xãy ra 3 lần nỗi loạn, sử gọi là “Chư đệ chi loạn”; nhưng nhờ mưu trí của Bảo Cơ, cùng sự trợ giúp của vợ là Khả Đôn Thuật Luật Bình, đã dẹp được các cuộc nội loạn.

Sau khi bình định nội bộ xong, 7 bộ lạc bên ngoài cũng không phục, hy vọng được chọn vào chức Khả Hãn. Bảo Cơ cùng Luật Bình dụ dỗ thủ lãnh 7 bộ lạc đến họp tại hồ muối, rồi tìm cách giết đi, sử gọi là “Diêm trì chi biến”. Sau khi thanh trừ mọi thế lực phản đối, thống nhất được 8 bộ lạc Khiết Đan, vào năm 916 Ha Bảo Cơ lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu Liêu, xưng là Liêu Thái Tổ, niên hiệu Thần Sách.

Lúc bấy giờ vùng Hà Bắc bị chiến loạn, Liêu Thái tổ thu phục lưu dân vùng này, xây dựng thành quách để cai trị. Ngoài ra còn dùng những phụ tá người Hán như Hàn Diên Huy; ông này có công trong việc giúp chính quyền Liêu ỗn định. Năm Thiên Tán thứ 2 [923] Liêu Thái Tổ sai con thứ là Da Luật Đức Quang mang quân đánh U Châu [phía bắc Bắc Kinh]. Năm Thiên Tán thứ 4 [925], chinh phục nước Bột Hải tại phía đông [thuộc Liêu Ninh] Trung Quốc.

Da Luật Đức Quang lên ngôi, hiệu Liêu Thái tông; năm Thiên Hiển thứ 11 [936] đưa 5 vạn quân giúp cho Tiết Độ sứ Thạch Kinh Đường đánh nhà Hậu Đường; sau khi diệt Hậu Đường Thạch Kính Đường lập nên nước Hậu Tấn, bèn cắt cho nước Liêu vùng đất 16 châu Yên Vân tức “Yên Vân Thập Lục châu” (1) cùng hàng năm triều cống. Từ đó Liêu sử dụng Yên Vân Thập Lục châu làm bàn đạp tiếp tục đánh phá Trung Quốc. Liêu Hội Đồng năm thứ 7 [944], Thạch Trọng Quí, con trai kế vị Thạch Kính Đường, không muốn thần phục, Liêu Thái Tông mượn cớ bèn mang quân đánh phương nam. Ngày 10 tháng giêng Liêu Đại Đồng thứ nhất [947], quân Khiết Đan đánh chiếm kinh đô Hậu Tấn tại Khai Phong [Hà Nam], nhà Hậu Tấn mất. Tháng 2, Liêu Thái Tông cải quốc hiệu là Đại Liêu, biểu thị nước lớn với ý đồ thống trị toàn bộ Trung Quốc (2).

Liêu Đại Đồng năm thứ nhất [947], Gia Luật Nguyễn lên làm vua tức Liêu Thế Tông. Liêu Thế Tông tuy vẫn ôm mộng đánh chiếm Trung Nguyên, nhưng vì ham tửu sắc, không tu sửa chính trị, nên không đạt được mục đích. Tháng 9 năm Thiên Lộc thứ 5 [951] Liêu Thế Tông hiệp trợ Hậu Hán đánh Hậu Chu, khi đến Qui Hoá [Nội Mông Cổ] thì dừng lại chờ các cánh quân khác, nhân uống rượu say, đánh người, khiến các tướng bất mãn, cuối cùng bị giết.

B.Đại Liêu thời đại huy hoàng.

Vua Cảnh Tông lên ngôi chăm lo việc chính sự, khiến triều đình nước Liêu trở nên sáng sủa. Đối ngoại tuy không chủ trương trực tiếp đánh phía nam, nhưng giúp cho nhà Bắc Hán gây khó khăn. Năm 960, Triệu Khuông Dẫn soán ngôi nhà Chu, lập nên nhà Tống tức Tống Thái Tổ. Vua Tống Thái Tổ muốn được yên từ phương bắc, nên vẫn tiếp tục noi theo chính sách của Thạch Kính Đường nhà Hậu Tấn, hàng năm triều cống Đại Liêu. Đến đời Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa thống nhất Giang Nam, vào năm 979 mang quân đánh Bắc Hán. Đại Liêu sai các danh tướng mang quân giúp Bắc Hán, giao chiến với quân Tống tại sông Cao Lương [tây nam Bắc Kinh], thắng lớn, khiến Tống Thái Tổ phải bỏ chạy. Tuy nhiên vua Cảnh Tông sức khoẻ yếu lắm bệnh, có lúc không thể ra dự triều, nên mọi việc đều do Hoàng hậu Tiêu Xước giải quyết.

Năm Càn Hanh thứ 4 [982], Liêu Cảnh Tông mất; Liêu Thánh Tông mới 12 tuổi kế vị, tôn Tiêu Xước làm Hoàng Thái hậu nhiếp chính. Tiêu Thái hậu trọng dụng các bậc Đại thần có tài năng nhắm thi hành việc chính trị và quân sự; giải trừ binh quyền các Vương; nhờ vậy địa vị vua và Thái hậu trở nên vững vàng ỗn định. Tiêu Thái hậu nhiếp chính 27 năm, trong thời gian này tiến hành cải cách, chú trọng canh nông trồng dâu nuôi tằm, đề cao thuỷ lợi, giảm thuế, huấn luyện quân lính; khiến triều Đại Liêu trở nên thịnh trị. Năm Thống Hoà thứ 22 [1004] vua Đại Liêu cùng Thái hậu mang đại quân xâm lăng nhà Tống, bấy giờ Tống triều có Tể tướng Khấu Chuẩn anh minh, khuyến khích vua Chân Tông đến đôn đốc quân lính ngay tại chiến trường Thiền Châu [Bộc Dương, Hà Nam], khiến quân Tống sĩ khí dâng cao, đánh bại quân Liêu. Liêu lo sợ hai phía bụng, lưng đều thụ địch, bèn đề nghị ký hoà ước. Năm sau vua Chân Tông cùng nước Đại Liêu đính lập điều ước, nội dung nhà Tống mỗi năm nạp cống 10 vạn lạng bạc, 20 vạn tấm quyên; hai bên vẫn giữ biên giới hiện hữu, không quấy nhiễu lẫn nhau; đó là điều ước Thiền Uyên tức “Thiền Uyên chi minh澶渊之” giúp giữ hoà bình được 120 năm. Sau đó vua Đại Liêu thông hiếu với nước Tây Hạ, từ đó Tây Hạ giao thiệp với cả hai nước Liêu và Tống để mong tồn tại; ba nước hình thành cục diện “Tam quốc đỉnh lập”.

C.Liêu, Tống, Tây Hạ giao tranh.

Năm 1031 Liêu Thánh Tông mất, con trưởng lên nối ngôi tức Liêu Hưng Tông. Mẹ đẻ của Hưng Tông là Thiêu Nhục Cân tự lập làm Pháp Thiên Thái hậu, kiêm Nhiếp chính; bắt bà mẹ nuôi của Hưng Tông là Tề Thiên Hoàng hậu Tiêu Bồ Tát Ca chịu chết. Pháp Thiên Thái hậu trọng dụng những quan lại tham ô dưới thời Thánh Tông từng cấm chỉ không được dùng; vua Hưng Tông không có quyền nên không chống được, do đó hai mẹ con kết oán. Pháp Thiên Thái hậu lại không tín nhiệm Hưng Tông, định trao ngôi vua cho người em là Gia Luật Trọng Nguyên. Gia Luật Trọng Nguyên lại đem sự việc kể cho Hưng Tông nghe; Hưng Tông giận không chịu nỗi, năm 1034 dùng võ lực phế Pháp Thiên Thái hậu, bắt Thái hậu giữ lăng vua cha, rồi giết những người thân tín của Thái hậu. Tháng 7, Hưng Tông đích thân nắm việc chính trị, cho xây lăng an táng Tề Thiên Hoàng hậu. Sau đó cho Pháp Thiên Thái hậu trở về, nhưng bắt sống cách cung vua 10 dặm, để đề phòng bất trắc. Tình mẹ con, cho đến cuối đời không thể hàn gắn được.

Trong thời gian vua Hưng Tông trị vì, triều đình Đại Liêu ngày một suy vi, gian nịnh cầm quyền, chính trị hủ bại, dân chúng khốn khổ, quân đội yếu nhược. Thời Hưng Tông trải qua nhiều năm chinh chiến, mấy lần chinh phạt Tây Hạ, lại gây chiến tranh bức bách nhà Tống nạp thêm tiền hàng năm. Nhưng hành động này, gây cho nội tình nước Liêu, trong triều đình, ngoài dân chúng, tiếng oán khắp nơi. Vua Hưng Tông quen sống xa xỉ, cùng với em đánh bạc, thua luôn một lúc mấy thành trì. Đối với em ruột Gia Luật Tông Nguyên, thương yêu quá mức; lúc rượu say từng thốt lên rằng sẽ truyền ngôi cho Tông Nguyên, riêng con trai đầu Gia Luật Hồng Cơ, không được phong Hoàng Thái tử, chỉ phong chức Đại Nguyên soái binh mã thiên hạ mà thôi. Vì những lẽ đó, nên khi Hồng Cơ lên kế vị, tức vua Đạo Tông; cha con Gia Luật Tông Nguyên tìm cách chiếm ngôi.

Sau khi Tống, Hạ chiến tranh; Liêu thừa dịp Tống gặp khó khăn, bèn nhân cơ hội tìm cách xâm lăng. Vua Đại Liêu ra lệnh cho em là Gia Luật Tông Nguyên mang binh ra uy chuẩn bị tấn công nơi biên giới; một mặt vào tháng giêng năm 1042 sai Tiêu Trì Mạt làm Sứ giả đến Tống triều đòi hỏi 10 huyện tại phía nam Ngoã Kiều Quan [huyện Hùng, tỉnh Hà Bắc]. Nhà Tống sai Phú Bật cùng Liêu sứ đàm phán; trải qua 9 tháng nghị đàm, đạt được điều ước nội dung so với điệu ước Thiền Uyên ký vào năm 1005, thì triều Tống hàng năm phải nạp thêm 10 vạn lượng bạc, 10 vạn tấm quyên; nên sử mệnh danh là “ Khánh Lịch tăng tệ”, Khánh Lịch là niên hiệu vua Tống Nhân Tông. Sau đó Sứ giả Đại Liêu lại 2 lần cất công đến triều Tống, đòi hỏi phải dùng chữ “nạp” thay cho chữ “tặng tống”; cuối cùng vua Nhân Tông chịu lép vế đồng ý chữ “nạp”; với điều kiện nước Liêu ép Tây Hạ hoà đàm với Tống. Sau khi Tống, Hạ hoà hảo, thì quan hệ giữa Liêu, Hạ trở nên xấu, rồi phát sinh chiến tranh. Vua Hưng Tông 2 lần đánh Tây Hạ đều thất bại, nhưng cuối cùng Tây Hạ nguyện xưng thần nạp cống.

D.Đại Liêu suy vi bị nước Kim uy hiếp.

Sau khi vua Đạo Tông lên nối ngôi, vào tháng 7 năm 1063 người chú ruột là Gia Luật Tông Nguyên nghe lời con trai làm cuộc phản loạn, tự lập ngôi vua; nhưng chẳng bao lâu bị Đạo Tông đánh dẹp, Tông Nguyên bèn tự tử. Trong thời gian Đạo Tông trị vì, nền chính trị Đại Liêu hủ bại, thế nước suy sụp. Đạo Tông không tiến hành cải cách canh tân, bản thân lại hủ hoá xa hoa, quan lại địa chủ chiếm hữu đất đai, khiến dân chúng khổ cực oán hận khắp nơi. Liêu Đạo Tông trọng dụng bọn gian nịnh như Gia Luật Ất Tân, không đích thân lo việc triều chính; nghe lời sàm tấu của Ất Tân vu cho Hoàng hậu Tiêu Quan Âm thông dâm với Hoạn quan Triệu Linh, nên bức tử Hoàng hậu. Gia Luật Ất Tân lại đề phòng trong tương lai Thái tử Gia Luật Tuấn lên ngôi có thể hệ luỵ đến bản thân, nên tìm cách giết Thái tử. Năm Đại Khang thứ 9 [1083] vua Đạo Tông truy phong cố Thái tử là Chiêu Hoài Thái tử, dùng nghi thức lễ Thiên tử cải táng. Vào tháng 10 cùng năm, Gia Luật Ất Tân mưu đồ trốn sang nhà Tống tỵ nạn, việc bại lộ bị giết. Năm 1101, vua Đạo Tông mất, người cháu là Gia Luật Diên Hỷ nối ngôi, tức vua Thiên Tộ. Lúc này nước Tây Hạ bị Bắc Tống đánh, bèn đến Đại Liêu cầu viện; Liêu bèn cử Sứ giả đến Tống khuyên hoà đàm với Tây Hạ.

Ngày 10/2/1112 vua Thiên Tộ đến Xuân Châu [thuộc Nội Mông], triệu tập các Tù trưởng Nữ Chân đến, sau khi yến tiệc say, lệnh các vị Tù trưởng cùng vua khiêu vũ; trong đám dự tiệc chỉ có Hoàn Nha Ha Cốt Đả không chịu khiêu vũ. Vua Thiên Tộ không cho việc này là đáng lưu ý, riêng Hoàn Nhan Ha Cốt Đả bất hoà với Đại Liêu; đến mùa xuân năm 1114, dùng binh phản lại Liêu. Lúc đầu vua Thiên Tộ khinh thường, không cho Ha Cốt Đả có thể gây uy hiếp lớn, nhưng quân gửi đi trấn áp đều gặp thất bại. Năm 1115 vua Thiên Tộ quyết định thân chinh, nhưng quân Liêu đều bị Nữ Chân đánh bại khắp nơi; Hoàn Nhan Ha Cốt Đả tự xưng Hoàng đế, đặt tên nước là Kim, đế hiệu Kim Thái Tổ. Cùng năm, Gia Luật Chương Nô nước Đại Liêu gây nội loạn, tuy được dập tắt mau, nhưng cũng gây chia rẽ trong nội bộ triều Liêu. Sau đó tại vùng Đông Kinh có Cao Bình Xương nỗi dậy đòi tự trị, đến tháng 4 năm 1116 mới bình định xong. Tháng 5, nước Kim thừa cơ hội chiếm vùng Đông Kinh [Liêu Ninh] và Phan Châu [Thẩm Dương, Liêu Ninh] của Liêu. Năm 1117 Kim đánh Xuân Châu, quân Liêu không đánh trả lại, chịu thua.

E.Nước Liêu chia cắt, diệt vong.

Vào năm Trùng Hoà thứ nhất [1118] vua Huy Tông nhà Tống sai Đại phu Mã Chính từ Sơn Đông giả dạng mua ngựa, đáp thuyền đến nước Kim đàm phán việc đánh Liêu. Sứ giả hai bên mấy lần đi lại, đạt được thoả ước mệnh danh “Hải thượng chi minh”; nội dung: Tống, Kim hai phía đánh Liêu; Liêu đánh chiếm Thượng kinh [tại Nội Mông], Trung Kinh [Liêu Ninh]; Tống đánh chiếm Tây kinh [Sơn Tây], Nam kinh [Hà Bắc]. Sau Khi diệt Liêu, Tống sẽ đem số tiền và vải quyên trước đó nạp cống cho Liêu được ghi trong “Thiền Uyên chi minh”, nạp hàng năm cho Kim; đổi lại Kim sẽ giao cho Tống Yên Vân thập lục châu (1)

Kết quả thực hiện, Tống đánh Liêu thất bại. Phía quân Kim năm 1120 đánh chiếm vùng Thượng kinh  của nước Liêu, tướng chỉ huy Tiêu Thát Bất Dã đầu hàng, đến năm 1121 Liêu mất đến một nữa lãnh thổ. Nội bộ lại phát sinh tranh chấp về kế thừa, cuối cùng vua Thiên Tộ giết người con trưởng mới kết thúc, nhưng sự việc xãy ra khiến một số lớn quân Liêu đầu hàng Kim. Tháng giêng năm 1122, quân Kim đánh Trung kinh, vua Thiên Tộ bị bức bách lưu vong đến Giáp Sơn.

Nhà Tống không thực hiện được lời hứa đánh chiếm 2 kinh, nên Kim cự tuyệt giao Yên Vân. Cuối cùng qua lại giao thiệp, Tống bằng lòng nạp cho Kim 20 vạn lạng bạc, 30 vạn tấm quyên, cùng tiền mướn Yên kinh [Bắc Kinh] là 100 vạn quan, Kim mới chịu giao cho Yên Vân thập lục châu.

Về phía nước Liêu lúc bấy giờ bọn Gia Luật Đại Thạch tại Nam kinh [Hà Bắc] không biết vua Thiên Tộ chạy đi đâu, bèn lập Gia Luật Thuần, tức vua Thiên Tích. Vua Thiên Tích giáng Thiên Tộ làm Tương Âm vương, cùng sai Sứ dâng biểu cho nước Kim xin làm phụ dung (3); nhưng việc chưa xong thì bị bệnh mất, vợ là Liêu Đức Phi, lên làm vua. Tháng 11, Liêu Đức Phi 5 lần dâng biểu đến nước Kim, xin chấp nhận cho Gia Luật Định lên làm vua, còn các điều kiện khác đều chấp thuận, nhưng Kim không cho; bèn sai quân tử thủ tại cửa quan Cư Dong (4). Tháng 11 cửa quan Cư Đong thất thủ, tháng 12 Nam kinh nước Liêu bị đánh chiếm; Liêu Đức Phi bèn mang tuỳ tòng đến theo Thiên Tộ, rồi bị Thiên Tộ giết. Vào ngày 26/3/1125 tại Ứng Châu , vua Liêu Thiên Tộ bị tướng Kim là Nguyên Nhan Lâu Thất bắt, tháng 8 giải đến Thượng kinh của nước Kim [Cáp Nhĩ Tân thị, Hắc Long Giang], bị Kim Thái Tông giáng xuống Tân vương, đến năm 1128 thì mất.

G.Tây Liêu, Đông Liêu và Hậu Liêu.

Sau đó bọn quí tộc Liêu như Gia Luật Đại Thạch tại miền tây bắc chiêu tập tàn dư bộ tộc Khiết Đan khống chế vùng cao nguyên Mông Cổ và miền đông Tân Cương. Năm 1130, do áp lực của quân Kim, Gia Luật Đại Thạch quyết định bỏ miền cao nguyên Mông cổ, mang bộ tộc tây chinh. Năm 1132, Gia Luật Đại Thạch xưng Đế tại Diệp Mê Lập [Ngạch Mẫn, Tân Cương], sử gọi là Tây Liêu. Tây Liêu có lúc khuyếch trương đến vùng Trung Á, thành nước mạnh tại nơi này. Năm 1143 sau khi Gia Luật Đại Thạch mất, Tây Liêu trải qua 5 đời vua; cuối cùng vào năm 1218 bị Thành Cát Tư Hãn nước Mông Cổ tiêu diệt, Tây Liêu lập quốc được 87 năm.

Năm 1212 Tôn thất nước Liêu là Gia Luật Lưu Ca tại các vùng Long An [huyện Nông An, Cát Lâm], Hàn Châu [huyện Lê Thụ, Cát Lâm] nỗi dậy chống triều Kim, được Mông Cổ yểm trợ. Sau đó 3 năm, Gia Luật Lưu Ca xưng Vương, quốc hiệu Liêu, sử gọi là Đông Liêu. Gia Luật Lưu Ca lập quốc, vẫn qui phụ và trở thành phiên thuộc của Mông Cổ. Năm 1270, Nguyên Thế Tổ bỏ các nước phiên, Đông Liêu chính thức tiêu diệt.

Thời Gia Luật Lưu Ca làm vua, có người em là Gia Luật Tư Bất làm phản vào đầu năm 1216, tự xưng Đế tại Đăng Châu [Hải thành thị, Liêu Ninh], sử gọi là Hậu Liêu. Chẳng bao lâu Gia Luật Tư Bất bị bộ hạ giết, Gia Luật Khất Nô được suy tôn lên làm Giám quốc; cùng năm, danh tướng Mông Cổ Mộc Hoa Lê mang quân xuống miền đông nam, Gia Luật Khất Nô chống không nỗi, mang 9 vạn quân Khiết Đan vượt sông Áp Lục đến Cao Ly. Chẳng bao lâu các quí tộc Khiết Đan chia rẽ tàn sát, cuối cùng Hậu Liêu diệt vong vào năm 1220.

....................

Chú thích:

1.16 châu Yên Vân tức Yên Vân Thập Lục Châu: vùng đất bao quát toàn bộ Bắc Kinh, Thiên Tânvà miền bắc Sơn Tây, Hà Bắc hiện nay.

2.Liêu Sử, quyển 4, Bản Kỷ đệ tứ.

3.Phụ dung: nước phụ thuộc.

4.Cửa quan Cư Dong: tại Trường Thành vị trí phía tây bắc Bắc Kinh.

Nguồn: vanhoanghean, Thứ sáu, 24 Tháng 11 2017 16:13

 

Các bài khác:
· ĐỊNH NIỆM
· VÀI NÉT SINH HOẠT CỦA NGƯỜI SÀI GÒN XƯA
· VỊ THẾ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC LÂN BANG DƯỚI THỜI MINH MẠNG
· NHỮNG CÂU CHUYỆN CƯỜI TẶNG NGÀY NHÀ GIÁO
· 100 NĂM LƯƠNG NGỌC QUYẾN VÀ CUỘC KHỞI NGHĨA THÁI NGUYÊN
· VĂN HÓA NAM BỘ: PHIÊN BẢN MỚI CỦA VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
· BÍ ẨN TẬP TỤC CHÍCH MÁU TÌM KẺ GIAN CỦA ĐỒNG BÀO CA DONG Ở QUẢNG NAM
· HÌNH BÓNG MAO TRONG TRUNG QUỐC CỦA TẬP CẬN BÌNH
· SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ QUỐC NGỮ VÀ CÁI CHẾT SIÊU VIỆT CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH
· THANH KIẾM PHÙ TANG
· NGOẠI TỘC DÀY XÉO TRUNG QUỐC (KỲ 2)
· NGOẠI TỘC DÀY XÉO TRUNG QUỐC
· CHÍNH BIẾN VÀ QUYỀN BIẾN CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG
· CHUYỆN ĐÔNG CHUYỆN TÂY VỚI HỌC GIẢ AN CHI
· 5 TIN GIẢ TỪNG GÂY HOANG MANG TRONG LỊCH SỬ
· VÌ LẼ GÌ VIỆT NAM TA KHÔNG BỊ HÁN HÓA?
· THẾ GIỚI NHỎ BÉ SỐNG ĐỘNG QUA KINH HIỂN VI
· PHAN KHÔI - NGƯỜI QUẢNG NAM "THỨ THIỆT"
· ĐỪNG BÁN GIÁO DỤC CHO DOANH NGHIỆP
· GIẢI NOBEL VĂN HỌC 2017: NHÀ CÁI ĐIỂM DANH CỖ XE TAM MÃ

 

  
Gia đình Bích Khê