THÔNG TIN
 
CHUYỆN CŨ XỨ CẨM THÀNH

     Lê Hồng Khánh  

                           

Cẩm Thành là mỹ tự của thành cổ Quảng Ngãi, được xây dựng năm 1807, hoàn thành năm 1815, nơi đặt hành cung và bản doanh của bộ máy chính quyền hàng tỉnh lúc bấy giờ.

Người xưa cho rằng địa cuộc nơi đây tụ hội khí thiêng, văn mạch của miền đất núi Ấn, sông Trà, nên Cẩm Thành trở thành địa danh văn hoá của tỉnh Quảng Ngãi. Chính vì vậy, khi tòa thành không còn nữa, mỹ tự Cẩm Thành vẫn tiếp tục tồn tại mang theo niềm tự hào của một vùng văn hoá địa linh, nhân kiệt.

Theo các di liệu thời Nguyễn (Đại Nam nhất thống chí, Quảng Ngãi tỉnh chí...), thành được xây bằng đá ong với kiểu kiến trúc vauban, chu vi 500 trượng 2 thước (2008m), cao 1 trượng (4m). Quanh thành có hào, rộng 5 trượng (20m), cao 1 trượng (4m), thông thủy với sông Trà Khúc ở góc Tây Bắc.

Về số cửa thành, Đại Nam nhất thống chí  chép “3 cửa”, nhưng Quảng Ngãi tỉnh chí nói rõ hơn “có trổ 4 cửa thành ngay theo 4 hướng nên gọi là cửa Đông, cửa Tây cửa Nam, cửa Bắc. Cửa Nam nay đã lấp rồi, chỉ còn 3 cửa”.

Từ những ghi chép như thế, nhà nghiên cứu đời sau (gần đây nhất là cuốn Quảng Ngãi: đất nước, con người, văn hoá do Sở VHTT xuất bản) phân vân liệu thành “chỉ có 3 cửa” hay “nguyên có 4 cửa, sau còn 3”.

Khi khảo lại các tư liệu, chúng tôi nhận thấy Đại Nam nhất thống chí chép về thành Quảng Ngãi chỉ đại lược mấy dòng và cách ghi “3 cửa” là ghi theo hiện trạng. Điều này không phủ định cách hiểu “nguyên trạng có 4 cửa, sau 1 cửa bị lấp, còn 3”.  Riêng Quảng Ngãi tỉnh chí là cuốn địa chí chuyên khảo về Quảng Ngãi, những người biên soạn (Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đình Chí, Khiếu Hữu Kiều) vốn là quan lại trấn nhậm ở Quảng Ngãi và là những nhà khảo cứu có uy tín đương thời; phần viết về tỉnh thành khá cụ thể, mạch lạc, nên là tài liệu khả tín.

Hơn nữa, đến nay trong dân gian vẫn còn lưu truyền câu chuyện “Hai con yêu cửa Nam thành Quảng Ngãi”, nhắc đến oan hồn của 2 người phụ nữ chết oan lúc thành mới xây, cũng là một cứ liệu truyền ngôn góp phần khẳng định thành Quảng Ngãi vốn có 4 cửa.

Khu vực nội thành phân bố khác nhau qua hai giai đoạn. Cho đến năm 1885, Hành cung được bố trí phía Nam thành, mặt quay về hướng Bắc. Phái Tây Hành cung có trưởng Đốc, phía Đông có trại lính. Cách con đường từ Tây sang Đông, phía Bắc là Dinh Án sát, Dinh Bố chính, Dinh Đốc học. Bên trái là Dinh Lãnh binh, Thái y viện. Thời kỳ 1885-1945, người Pháp thay đổi cách bố trí trong nội thành, duy chỉ có Hành cung là còn giữ nguyên. Thái y viện đổi thành Bệnh viện (dân gọi là Nhà thương), Dinh Bố chính đổi thành Dinh Tuần vũ. Dinh Lãnh binh được dời sang cạnh Dinh Đốc học, thay vào đó là Sở Lục lộ. Đi tiếp về phía Đông là Bưu điện, kho lương, Trường Tiểu học.

Quảng Ngãi tỉnh chí (1933) mô tả: con đường từ cửa Tây sang Đông chia nội thành làm hai khu vực. Phía Nam có Hành cung ở giữa, phía Đông  có Toà Công sứ, Tây có Trường Tiểu học. Xa hơn là xưởng Lục lộ, sau xưởng có Nhà máy điện. Phía Bắc có Dinh Tuần vũ, Bưu điện, Dinh Án sát. Trên đường ra cửa Bắc có kho lương, bệnh viện, nhà lao. Trong thành có nhiều giếng. Các công sở đều nằm ở trong thành, chỉ có Phòng Căn cước và phố Ngân hàng là nằm bên ngoài.

Trước năm 1945, thành Quảng Ngãi là Trung tâm hành chính - cai trị của tỉnh. Năm 1947, thành bị phá hủy hoàn toàn. Dấu vết thành và hào còn khá rõ ở phía Tây và phía Bắc. Gần đây phần lớn hào thành còn sót lại đã bị san lấp để làm đường Cẩm Thành. Thật tiếc!

Với các bài thơ vịnh cảnh Thiên Ấn niêm hà, Thạch Bích tà dương, Nguyễn Cư Trinh (1716 – 1767), người từng giữ chức tuần vũ ở Quảng Ngãi khoảng 1755 – 1752, có lẽ là người đầu tiên mang 2 chữ Cẩm Thành vào trong thơ.

Nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Đình Thảng cho rằng những bài thơ Nôm vịnh cảnh đẹp Quảng Ngãi (trong đó có 2 bài đã nhắc trên) có thể không phải của Nguyễn Cư Trinh vì những bài này họa Hà tiên thập vịnh (vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên), mà Hà Tiên thập vịnh dùng chữ Hán; Xướng chữ Hán, họa chữ nôm quả là đáng ngờ.

Mặt khác, tỉnh thành Quảng Ngãi chuyển về khu vực nay ta gọi là Thành Cổ - đầu đời Gia Long (đầu thế kỷ XIX), trong khi đó Nguyễn Cư Trinh mất năm 1767 làm sao ông lại có thể nhắc đến một toà thành mà sau khi ông qua đời gần 100 năm và với bao nhiêu biến động mới được xây dựng!

Đứa học trò là tôi rất tán đồng với nghi vấn của cụ Nguyễn Đình Thảng về cái gọi là “Quảng Ngãi thập nhị cảnh” nêu ra trong cuốn thơ văn Nguyễn Cư Trinh do ông Phan Hứa Thụy biên soạn (NXB Thuận Hoá – 1989). Xin chép lại đoạn văn sau đây của Đại Nam liệt truyện tiền biên: “Cư Trinh ở ngoài biên 10 năm, oai vọng lẫy lừng, dân Việt, người Nam thảy đều khâm phục. Lại ưa ngâm vịnh, thường cùng đô đốc Hà Tiên Mạc Thiên Tứ lấy thơ văn tặng đáp qua lại với nhau, lời lẽ bình đạm đẹp đẽ. Những thơ văn ấy vì nhiều biến cố không được ghi chép lại, song có thơ họa Hà Tiên thập vịnh truyền tụng ở đời”.

Quá rõ rồi, “thập vịnh” (10 bài) thì họa cũng thập vịnh, lấy đâu ra thập nhị (12)? Trong 12 cảnh đẹp Quảng Ngãi, truyền tụng bấy nay, Nguyễn Cư Trịnh chỉ vịnh 10 cảnh, còn 2 cảnh “Vân phong túc vũ” và “Thạch cơ điếu tẩu” là do người đời sau thêm vào thôi.

Nhưng cũng xin mạn phép thưa cụ Nguyễn Đình Thảng rằng, không cứ họa chữ Hán thì phải bằng chữ Hán, nhất là trong trường hợp Nguyễn Cư Trinh. Bài “Sãi vãi” nổi tiếng của ông, viết trong thời kỳ ở Quảng Ngãi, bằng chữ Nôm theo một thể văn “tương tự thể nói lối trong tuồng và không có trong truyện thơ nào hay bài văn nào về trước”. Điều này cho thấy ông rất táo bạo trong việc dùng chữ Nôm trong sáng tác văn học.

Mạc Thiên Tứ ( ? – 1780) là người gốc Hoa, làm thơ vịnh cảnh bằng chữ Hán, thiên về ca ngợi “mây, gió, trăng, hoa”, Nguyễn Cư Trinh là một vị quan văn võ toàn tài, mượn chuyện vịnh cảnh mà nói đến khí vượng non sông, dân an quốc thái. Dùng quốc âm (chữ Nôm) mà thể hiện cái chí ấy, kể cũng là hợp lẽ.

Cũng có thể hiểu theo một cách khác để giải đi chữ “ngờ” đối với việc Nguyễn Cư Trinh nhắc đến Cẩm Thành.

Phải chăng Cẩm Thành trong thơ Nguyễn Cư Trinh nói đến thành phủ Quảng Nghĩa khi còn đóng ở Phú Nhơn, phía bắc sông Trà Khúc. Khi phủ Quảng Nghĩa dời về Chương Nghĩa, xây thành mới, người ta đã mang theo luôn cái mỹ tự Cẩm Thành theo chăng?

Khi Cẩm Thành đã trở thành địa danh văn hoá của cả vùng đất Quảng Ngãi thì sự đồng nhất giữa lỵ sở ở Phú Nhơn và lỵ sở ở Chánh Lộ trong một cách gọi thiên về văn hoá tinh thần cũng là điều có thể xảy ra.

Dù sao cũng chỉ là giả thiết. Mong các nhà nghiên cứu bàn thêm để cùng nhau hiểu biết nhiều hơn về quê hương Quảng Ngãi mến yêu, như lời cha ông nhắc nhở “cây có cội, nước có nguồn”!

Bài dùng được

                                                                                   LHK

 

Các bài khác:
· KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC - BÀI HỌC TỪ NHỮNG LẦN MẤT NƯỚC
· ĐÔI ĐIỀU VỀ CHỮ NÔM VÀ GIỌNG QUẢNG NAM (PHẦN 1)
· NGUYỄN CUNG THÔNG - NGƯỜI TÌM NGUỒN TÊN 12 CON GIÁP
· TẢN MẠN VỀ “O HUẾ”
· NHẬN XÉT VỀ TẬP CẬN BÌNH
· SỰ HÌNH THÀNH CÁCH GHI THANH ĐIỆU CHỮ QUỐC NGỮ
· VỊ TRÍ VÂN ĐỒN TRONG LỊCH SỬ
· NHỮNG ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CỦA HOÀNG ĐẾ MINH MỆNH ĐỐI VỚI NHÀ NGUYỄN VÀ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM
· BẠCH THÁI BƯỞI - DOANH NHÂN KHỞI XƯỚNG PHONG TRÀO NGƯỜI VIỆT DÙNG HÀNG VIỆT 100 NĂM TRƯỚC
· ĐỀN CHOỌNG THỜ AI? LẬP TỪ LÚC NÀO?
· CHỮ "ĐẠO" TRONG SÁCH LÃO TỬ QUA LỜI GIẢNG CỦA GS CAO XUÂN HUY
· TIẾP TỤC TÌM HIỂU NGHĨA GỐC CỦA CHỮ HÁN LANG (LÀNG)
· VỀ ĐỊA DANH LANG GIA VÀ CHUYỆN VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN THIÊN ĐÔ
· VÕ VĂN KIỆT - NGƯỜI CỦA NHIỀU NGƯỜI
· LÀM BÁO TRONG THẾ GIỚI PHẲNG
· DÙNG CÁI BÁNH CHƯNG ĐỂ ĐẤU VỚI KHÁCH TÀU
· BÙI HỮU NGHĨA - "RỒNG VÀNG" CỦA ĐẤT ĐỒNG NAI
· XUNG ĐỘT Ở BIỂN ĐÔNG TỪ GÓC NHÌN LỊCH SỬ VĂN HÓA
· GÓC KHUẤT KỲ LẠ CỦA NHỮNG NHÂN VẬT LỊCH SỬ NỔI TIẾNG THẾ GIỚI
· SUY NGHĨ NHỎ VỀ NGÀY ĐỨC PHẬT RA ĐỜI

 

  
Gia đình Bích Khê