THÔNG TIN
 
BUÔN BIỂN NGÀY XƯA

  Lê Hồng Khánh

                                  

Buôn biển là một trong bốn nhóm người buôn bán ngày xưa ở Quảng Ngãi (buôn nguồn, buôn gánh, buôn thuyền, buôn biển). Nghề nầy lắm gian nan, thậm chí nguy hiểm, nhưng có không ít điều thú vị.

Đây là công việc của các nhóm người dùng phương tiện vận chuyển là ghe thuyền, chủ yếu là ghe bầu, buôn bán với các tỉnh trong Nam ngoài Bắc. Sự phân định giữa buôn thuyền và buôn biển chủ yếu dựa vào không gian, địa điểm buôn bán. Cùng sử dụng phương tiện chuyên chở hàng hóa là ghe thuyền, nhưng nếu buôn thuyền dùng "ghe kinh" chuyên đi sông, thì buôn biển chuyên dùng "ghe bầu", trọng tải lớn, chuyên đi đường biển. Buôn thuyền trao đổi hàng hóa với các vùng dọc sông trong phạm vi của tỉnh, vì các dòng sông ở miền Trung, Quảng Ngãi nói riêng đều chủ yếu chảy theo hướng Tây – Đông, băng qua địa bàn của một tỉnh. Không gian buôn biển rộng lớn hơn rất nhiều, dọc theo các thuỷ lộ cận duyên, ngược xuôi theo ngọn gió mùa: ra Bắc, tận Nam Định, Hải Phòng; vào Nam, chí Đồng Nai, Gia Định:

Ghe bầu trở lái về đông

Con gái có chồng bỏ mẹ ai nuôi

Mẹ tui đã có người nuôi

Tui theo chú lái tui xuôi một bề

Dầu mà chú lái có chê

Tui theo chú bạn tui về Đồng Nai

Đồng Nai hai nước giao kề

Kẻ đi có vợ người về có con.

Đến thời nhà Nguyễn, giao thông đường bộ đã khá phát triển, mà xương sống là con đường thiên lý, chạy từ kinh thành Huế đến 31 tỉnh thành trong cả nước với hệ thống trạm, dịch, quán tổ chức chu đáo. Tuy nhiên, việc đi lại theo tuyến đường bộ Nam - Bắc còn gặp nhiều khó khăn, do phải qua nhiều đèo dốc, sông suối thường xuyên bị sạt lỡ, hư hại về mùa mưa. Tình trạng cướp bóc, nhũng nhiễu của một số nhóm thổ phỉ cũng làm cho những người buôn bán trở nên e dè:

Đưa anh về Quảng em lo

Ao Vuông là một, Ba Gò là hai

Kiêng gì trong buổi sớm mai

Đàng trong kẻ cướp, đàng ngoài hang beo.

Tình hình giao thương trên bộ như vậy đã khiến các thuỷ lộ dọc ven biển miền Trung, với hệ thống bến cảng vốn đã được cư dân Chăm, sau đó là các thương nhân người Hoa, người Nhật sử dụng, trở nên rất quan trọng trong việc giao lưu hàng hóa với các vùng, miền trong nước. Gió mùa và kinh nghiệm đi biển già dặn của ngư dân Quảng Ngãi cũng là những yếu tố góp phần tạo cho giao thương đường biển phát triển. Đường, quế, mật ong, dầu phụng, mủ cây chai mắm (cây xác mắm), đá vôi, cau khô, muối Sa Huỳnh (Đức Phổ), muối Xuân An (Sơn Tịnh) là những món hàng theo ghe bầu từ Quảng Ngãi bán đi nhiều nơi trong cả nước. Lúa, gạo, vải vóc, sợi gai...là những sản phẩm từ nơi khác đem về Quảng Ngãi. Tháng chạp lên đường theo gió mùa Đông Bắc đi vào Nam, ngược xuôi theo ngọn gió, đến tháng tám về quê, kéo ghe lên bờ tu bổ. Đường gần thì vào Tam Quan (tỉnh Bình Định) mua dây dừa, cói, các loại gỗ, vải, gai để về bán cho ngư dân Quảng Ngãi, Quảng Nam đóng thuyền, may buồm, đan lưới. Xa hơn thì vào Bình Thuận mua cá mòi, mắm về bán ở quê hay ở Nam Định, Nghệ An, xa hơn nữa là xuôi tận Nam Bộ mua dừa, lúa gạo ra bán ở tại Quảng Ngãi và các tỉnh phía Bắc. Xã An Vĩnh (huyện đảo Lý Sơn) một số tộc họ sống bằng nghề chở hàng thuê bằng ghe bầu, như họ Võ, họ Đặng, họ Phạm...Ở Cổ Lũy, Trường Định, Mỹ Khê (xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) xưa có một số người sắm ghe bầu để đi buôn đường biển, người địa phương quen gọi là buôn các lái. Buôn các lái phát triển hơn buôn núi, buôn nông sản rất nhiều, cả về số lượng người buôn lẫn khối lượng hàng hóa.

Nghề buôn biển bằng ghe bầu vẫn tồn tại trong một thời gian lâu dài, cùng với đó là việc hình thành các xưởng đóng sửa ghe bầu ở cửa Đại, Sa Cần, Sa Kỳ, Mỹ Á, Phổ An, Lý Sơn. Đến khoảng giữa thế kỷ XX, khi Quốc lộ 1 được củng cố và nâng cấp, vận tải bằng xe cơ giới ngày càng tỏ rõ ưu thế về tải trọng cũng như tính linh hoạt trong việc giao chuyển hàng hoá, nghề buôn ghe bầu chấm dứt vai trò trong lịch sử giao thương đường thuỷ ở Quảng Ngãi cũng như khắp miền Trung và cả nước. Mặc dù vậy, trong ký ức của nhiều bạn ghe, “các lái”, hình ảnh những chiếc ghe bầu giong buồm ra Bắc, vào Nam vẫn là biểu tượng một thời dọc ngang biển cả, vừa trì chí mưu sinh vừa thoả mộng hải hồ. Bài Vè các lái (còn có tên Hò thuỷ trình) là một sản phẩm văn hoá dân gian độc đáo của những người đi ghe bầu. Bài vè là một hải đồ thô sơ giành cho người đi biển từ Nam ra Bắc và ngược lại, miêu tả đầy đủ các địa danh, sông lạch núi non, ngầm đá cửa sông, phố xá, thời tiết khí hậu từng vùng, lưu ý những nơi hiểm nguy thường gây tai nạn cho thuyền bè qua lại. Do giá trị thực tế như thế nên Vè các lái được mọi người đi biển thuộc nằm lòng, coi đó như là một thứ “cẩm nang” đi biển.

Bên cạnh giá trị thực tế Vè các lái còn có giá trị về địa lý, lịch sử, phong tục tập quán, thủy văn, thời tiết, phương ngữ. Đặc biệt là Vè các lái thể hiện khá sinh động tình yêu quê hương đất nước và tâm tình của người dân miền biển thật thà, chất phác nhưng vũng chí, bền gan. Phần kể về Quảng Ngãi trong bài vè, nếu tách riêng ra có thể xem như một bài ca dao, phác hoạ bức tranh thấm đậm tình cảm quê hương của những con người quen ăn sóng, nói gió:

 

Sa Cần, Châu Ổ bao xa

Ngoài mũi Cây Quýt thiệt là Tổng Binh.

Nam Châm, Cổ Ngựa trời sinh,

Làng Gành, Mỹ Giảng ăn quanh Vũng Tàu.

Nới lèo ráng lái mau mau,

Châu Me, Lò Rượu sóng xô hòn Nhàn

Ngước mắt xem thấy Bàn Than,

Ngoài thời Lao Ré nằm ngang Sa Kỳ

Quảng Nghĩa Trà Khúc núi chi?

Có hòn Thiên Ấn dấu ghi để đời.

Hòn Sụp ta sẽ buông khơi

Trong vịnh, ngoài vời núi nổi nghênh ngang

Buồm giăng ba cánh sẵn sàng,

Anh em chúng bạn nhiều đàng tư lương

Mỹ Á, cửa Cạn, hòn Thương

Chạy hết Bãi Trường xích thố băng băng

Ngước ra khỏi mũi Sa Hoàng (Sa Huỳnh)

Kìa kìa ngó thấy Tam Quan nhiều dừa…

 

                                         LHK

Chú thích:

BB1: Cảng cá Lý Sơn

BB2: Ban mai

 

Lê Hồng Khánh

Đường Phạm Văn Đồng - TP Quảng Ngãi

ĐT: 0913427725

Email: lehongkhanhqngai@gmail.com

 

 

Các bài khác:
· TIẾNG VIỆT THỜI LM DE RHODES - CÁCH DÙNG MẪU/MẸ VÀ AN NAM MIT
· CHUYỆN CŨ XỨ CẨM THÀNH
· KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC - BÀI HỌC TỪ NHỮNG LẦN MẤT NƯỚC
· ĐÔI ĐIỀU VỀ CHỮ NÔM VÀ GIỌNG QUẢNG NAM (PHẦN 1)
· NGUYỄN CUNG THÔNG - NGƯỜI TÌM NGUỒN TÊN 12 CON GIÁP
· TẢN MẠN VỀ “O HUẾ”
· NHẬN XÉT VỀ TẬP CẬN BÌNH
· SỰ HÌNH THÀNH CÁCH GHI THANH ĐIỆU CHỮ QUỐC NGỮ
· VỊ TRÍ VÂN ĐỒN TRONG LỊCH SỬ
· NHỮNG ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CỦA HOÀNG ĐẾ MINH MỆNH ĐỐI VỚI NHÀ NGUYỄN VÀ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM
· BẠCH THÁI BƯỞI - DOANH NHÂN KHỞI XƯỚNG PHONG TRÀO NGƯỜI VIỆT DÙNG HÀNG VIỆT 100 NĂM TRƯỚC
· ĐỀN CHOỌNG THỜ AI? LẬP TỪ LÚC NÀO?
· CHỮ "ĐẠO" TRONG SÁCH LÃO TỬ QUA LỜI GIẢNG CỦA GS CAO XUÂN HUY
· TIẾP TỤC TÌM HIỂU NGHĨA GỐC CỦA CHỮ HÁN LANG (LÀNG)
· VỀ ĐỊA DANH LANG GIA VÀ CHUYỆN VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN THIÊN ĐÔ
· VÕ VĂN KIỆT - NGƯỜI CỦA NHIỀU NGƯỜI
· LÀM BÁO TRONG THẾ GIỚI PHẲNG
· DÙNG CÁI BÁNH CHƯNG ĐỂ ĐẤU VỚI KHÁCH TÀU
· BÙI HỮU NGHĨA - "RỒNG VÀNG" CỦA ĐẤT ĐỒNG NAI
· XUNG ĐỘT Ở BIỂN ĐÔNG TỪ GÓC NHÌN LỊCH SỬ VĂN HÓA

 

  
Gia đình Bích Khê